Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

14-04-2017 : THỨ SÁU TUẦN THÁNH

14/04/2017
Thứ Sáu tuần thánh
Kỷ Niệm Cuộc Khổ Nạn Của Chúa


Phần Thứ Nhất: Phụng Vụ Lời Chúa
Bài Ðọc I: Is 52, 13-53, 12
"Người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta".
(Bài ca thứ tư của người Tôi Tớ Chúa)
Trích sách Tiên tri Isaia.
Này tôi tớ Ta sẽ được cao minh, sẽ vinh thăng tấn phát, cao cả tuyệt vời. Cũng như nhiều người đã kinh ngạc, vì thấy người tàn tạ mất hết vẻ người, dung nhan người cũng không còn nữa, cũng thế, muôn dân sẽ sửng sốt, các vua không còn biết nói chi trước mặt người. Vì họ sẽ thấy việc chưa ai kể cho mình, sẽ biết điều mình chưa hề được nghe.
Ai mà tin được điều chúng ta nghe? Và Chúa đã tỏ ra sức mạnh cho ai? Người sẽ lớn lên trước mặt Ngài như một chồi non, như một rễ cây, tự đất khô khan. Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.
Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta.
Người hiến thân vì người tình nguyện và không mở miệng như con chiên bị đem đi giết, và như chiên non trước mặt người xén lông, người thinh lặng chẳng hé môi. Do cưỡng bách và án lệnh, người đã bị tiêu diệt; ai sẽ còn kể đến dòng dõi người nữa, bởi vì người đã bị khai trừ khỏi đất người sống; vì tội lỗi dân Ta, Ta đánh phạt người. Người ta định đặt mồ người giữa những kẻ gian ác, nhưng khi chết, người được chôn giữa kẻ giàu sang, mặc dầu người đã không làm chi bất chánh, và miệng người không nói lời gian dối. Chúa đã muốn hành hạ người trong đau khổ.
Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một dòng dõi trường tồn, và nhờ người, ý định Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi khổ tâm của người, người sẽ thấy và sẽ được thoả mãn. Nhờ sự thông biết, tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy những tội ác của họ. Bởi đó, Ta trao phó nhiều dân cho người, người sẽ chia chiến lợi phẩm với người hùng mạnh. Bởi vì người đã hiến thân chịu chết và đã bị liệt vào hàng phạm nhân, người đã mang lấy tội của nhiều người, và đã cầu bầu cho các phạm nhân.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 30, 2 và 6. 12-13. 15-16. 17 và 25
Ðáp: Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha (Lc 23, 46).
Xướng: 1) Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con muôn đời tủi hổ, vì đức công minh Ngài, xin cứu chữa con! Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa, lạy Chúa, lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con. - Ðáp.
2) Con trở nên đồ ô nhục đối với những người thù, nên trò cười cho khách lân bang, và mối lo sợ cho người quen biết; gặp con ngoài đường, họ tránh xa con. Con bị người ta quên, không để ý tới, dường như đã chết, con đã trở nên như cái bình bị vỡ tan. - Ðáp.
3) Phần con, lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài, con kêu lên: Ngài là Thiên Chúa của con! Vận mạng con ở trong tay Ngài, xin cứu gỡ con khỏi tay quân thù và những người bách hại. - Ðáp.
4) Xin cho tôi tớ Chúa được thấy long nhan dịu hiền, xin cứu sống con theo lượng từ bi của Chúa. Lòng chư vị hãy can trường mạnh bạo, hết thảy chư vị là người cậy trông ở Chúa. - Ðáp.

Bài Ðọc II: Dt 4, 14-16; 5, 7-9
"Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời".
Trích thư gởi tín hữu Do-thái.
Anh em thân mến, chúng ta có một thượng tế cao cả đã đi qua các tầng trời, là Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa, nên chúng ta hãy giữ vững việc tuyên xưng đức tin của chúng ta. Vì chưng, không phải chúng ta có thượng tế không thể cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.
Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Ðấng có thể cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành kính, Người đã được nhậm lời. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người.
Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Pl 2, 8-9
Chúa Kitô vì chúng ta đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.


Phúc Âm: Ga 18, 1 - 19, 42
"Sự Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".
C: Người đọc Chung, Thánh Sử; S: Người đối thoại khác, hoặc Cộng đoàn. J: Chúa Giêsu

C. Bài Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi với môn đệ sang qua suối Xêrông, ở đó có một khu vườn, Người vào đó cùng với các môn đệ. Giuđa, tên phản bội, đã biết rõ nơi đó, vì Chúa Giêsu thường đến đấy với các môn đệ. Nên Giuđa dẫn tới một toán quân cùng với vệ binh do các thượng tế và biệt phái cấp cho, nó đến đây với đèn đuốc và khí giới. Chúa Giêsu đã biết mọi sự sẽ xảy đến cho Mình, nên Người tiến ra và hỏi chúng:
J. "Các ngươi tìm ai?"
C. Chúng thưa lại:
S. "Giêsu Nadarét".
C. Chúa Giêsu bảo: "Ta đây".
C. Giuđa là kẻ định nộp Người cũng đứng đó với bọn chúng. Nhưng khi Người vừa nói "Ta đây", bọn chúng giật lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi chúng:
J. "Các ngươi tìm ai?"
C. Chúng thưa:
S. "Giêsu Nadarét".
C. Chúa Giêsu đáp lại: "Ta đã bảo các ngươi rằng Ta đây! Vậy nếu các ngươi tìm bắt Ta, thì hãy để cho những người này đi".
C. Như thế là trọn lời đã nói: "Con chẳng để mất người nào trong những kẻ Cha đã trao phó cho Con". Bấy giờ Simon Phêrô có sẵn thanh gươm, liền rút ra đánh tên đầy tớ vị thượng tế, chém đứt tai bên phải. Ðầy tớ ấy tên là Mancô. Nhưng Chúa Giêsu bảo Phêrô rằng:
J. "Hãy xỏ gươm vào bao. Chén Cha Ta đã trao lẽ nào Ta không uống!"
C. Bấy giờ, toán quân, trưởng toán và vệ binh của người Do-thái bắt Chúa Giêsu trói lại, và điệu Người đến nhà ông Anna trước, vì ông là nhạc phụ của Caipha đương làm thượng tế năm ấy. Chính Caipha là người đã giúp ý kiến này cho người Do-thái: để một người chết thay cho cả dân thì lợi hơn. Còn Phêrô và môn đệ kia vẫn theo Chúa Giêsu. Môn đệ sau này quen vị thượng tế nên cùng với Chúa Giêsu vào trong sân vị thượng tế, còn Phêrô đứng lại ngoài cửa. Vì thế, môn đệ kia là người quen với vị thượng tế, nên đi ra nói với người giữ cửa và dẫn Phêrô vào. Cô nữ tì gác cửa liền bảo Phêrô:
S. "Có phải ông cũng là môn đệ của người đó không?"
C. Ông đáp:
S. "Tôi không phải đâu".
C. Ðám thủ hạ và vệ binh có nhóm một đống lửa và đứng đó mà sưởi vì trời lạnh, Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Vị thượng tế hỏi Chúa Giêsu về môn đệ và giáo lý của Người. Chúa Giêsu đáp:
J. "Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ, Tôi thường giảng dạy tại hội đường và trong đền thờ, nơi mà các người Do-thái thường tụ họp, Tôi không nói chi thầm lén cả. Tại sao ông lại hỏi Tôi? Ông cứ hỏi những người đã nghe Tôi về những điều Tôi đã giảng dạy. Họ đã quá rõ điều Tôi nói".
C. Nghe vậy, một tên vệ binh đứng đó vả mặt Chúa Giêsu mà nói:
S. "Anh trả lời vị thượng tế như thế ư".
C. Chúa Giêsu đáp:
J. "Nếu Ta nói sai, hãy chứng minh điều sai đó; mà nếu Ta nói phải, thì tại sao anh lại đánh Ta?"
C. Rồi Anna cho giải Người vẫn bị trói đến cùng vị thượng tế Caipha. Lúc ấy Phêrô đang đứng sưởi. Họ bảo ông:
S. "Có phải ông cũng là môn đệ người đó không?"
C. Ông chối và nói:
S. "Tôi không phải đâu".
C. Một tên thủ hạ của vị thượng tế, có họ với người bị Phêrô chém đứt tai, cãi lại rằng:
S. "Tôi đã chẳng thấy ông ở trong vườn cùng với người đó sao?"
C. Phêrô lại chối nữa, và ngay lúc đó gà liền gáy.
Bấy giờ họ điệu Chúa Giêsu từ nhà Caipha đến pháp đình. Lúc đó tảng sáng và họ không vào pháp đình để khỏi bị nhơ bẩn và để có thể ăn Lễ Vượt Qua. Lúc ấy Philatô ra ngoài để gặp họ và nói:
S. "Các ngươi tố cáo người này về điều gì".
C. Họ đáp:
S. "Nếu hắn không phải là tay gian ác, chúng tôi đã không nộp cho quan".
C. Philatô bảo họ:
S. "Các ông cứ bắt và xét xử theo luật của các ông".
C. Nhưng người Do-thái đáp lại:
S. "Chúng tôi chẳng có quyền giết ai cả".
C. Thế mới ứng nghiệm lời Chúa Giêsu đã nói trước: Người sẽ phải chết cách nào. Bấy giờ Philatô trở vào pháp đình gọi Chúa Giêsu đến mà hỏi:
S. "Ông có phải là Vua dân Do-thái không?"
C. Chúa Giêsu đáp:
J. "Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?"
C. Philatô đáp:
S. "Ta đâu phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các thượng tế đã trao nộp ông cho ta. Ông đã làm gì?"
C. Chúa Giêsu đáp:
J. "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng nước tôi không thuộc chốn này".
C. Philatô hỏi lại:
S. "Vậy ông là Vua ư?"
C. Chúa Giêsu đáp:
J. "Quan nói đúng: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng tôi".
C. Philatô bảo Người:
S. "Chân lý là cái gì?"
C. Nói lời này xong, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ:
S. "Ta không thấy nơi người này có lý do để khép án. Nhưng theo tục lệ các ngươi, ta sẽ phóng thích cho các ngươi một tù nhân vào dịp Lễ Vượt Qua. Vậy các ngươi có muốn ta phóng thích Vua Do-thái cho các ngươi chăng?"
C. Họ liền la lên:
S. "Không phải tên đó, nhưng là Baraba".
C. Baraba là một tên cướp. Bấy giờ Philatô truyền đem Chúa Giêsu đi mà đánh đòn Người. Binh sĩ kết một triều thiên bằng gai nhọn đội lên đầu Người và nói:
S. "Tâu Vua Do-thái!"
C. Và vả mặt Người. Philatô lại ra ngoài và nói:
S. "Ðây ta cho dẫn người ấy ra ngoài cho các ngươi để các ngươi biết rằng ta không thấy nơi người ấy một lý do để kết án".
C. Bấy giờ Chúa Giêsu đi ra, đội mão gai và khoác áo đỏ. Philatô bảo họ:
S. "Này là Người".
C. Vừa thấy Người, các thượng tế và vệ binh liền la to:
S. "Ðóng đinh nó vào thập giá! Ðóng đinh nó vào thập giá!"
C. Philatô bảo họ:
S. "Ðấy các ngươi cứ bắt và đóng đinh ông vào thập giá, phần ta, ta không thấy lý do nào kết tội ông".
C. Người Do-thái đáp lại:
S. "Chúng tôi đã có luật, và theo luật đó nó phải chết, vì nó tự xưng là Con Thiên Chúa".
C. Nghe lời đó Philatô càng hoảng sợ hơn. Ông trở vào pháp đình và nói với Chúa Giêsu:
S. "Ông ở đâu đến?"
C. Nhưng Chúa Giêsu không đáp lại câu nào. Bấy giờ Philatô bảo Người:
S. "Ông không nói với ta ư? Ông không biết rằng ta có quyền đóng đinh ông vào thập giá và cũng có quyền tha ông sao?"
C. Chúa Giêsu đáp:
J. "Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống cho, vì thế nên kẻ nộp tôi cho quan, mắc tội nặng hơn".
C. Từ lúc đó Philatô tìm cách tha Người. Nhưng người Do-thái la lên:
S. "Nếu quan tha cho nó, quan không phải là trung thần của Xêsa, vì ai xưng mình là vua, kẻ đó chống lại Xêsa".
C. Philatô vừa nghe lời đó, liền cho điệu Chúa Giêsu ra ngoài rồi ông lên ngồi toà xử, nơi gọi là Nền đá, tiếng Do-thái gọi là Gabbatha. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu ngày chuẩn bị Lễ Vượt Qua. Philatô bảo dân:
S. "Ðây là vua các ngươi".
C. Nhưng họ càng la to:
S. "Giết đi! Giết đi! Ðóng đinh nó đi!"
C. Philatô nói:
S. "Ta đóng đinh vua các ngươi ư?"
C. Các thượng tế đáp:
S. "Chúng tôi không có vua nào khác ngoài Xêsa".
C. Bấy giờ quan giao Người cho họ đem đóng đinh.
Vậy họ điệu Chúa Giêsu đi. Và chính Người vác thập giá đến nơi kia gọi là Núi Sọ, tiếng Do-thái gọi là Golgotha. Ở đó họ đóng đinh Người trên thập giá cùng với hai người khác nữa: mỗi người một bên, còn Chúa Giêsu thì ở giữa. Philatô cũng viết một tấm bảng và sai đóng trên thập giá. Bảng mang những hàng chữ này: "Giêsu, Nadarét, vua dân Do-thái". Nhiều người Do-thái đọc được bảng đó, vì nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh thì gần thành phố, mà bảng viết thì bằng tiếng Do-thái, Hy-lạp và La-tinh. Vì thế các thượng tế đến thưa với Philatô:
S. Xin đừng viết "Vua dân Do Thái", nhưng nên viết: "Người này đã nói: 'Ta là vua dân Do-thái'".
C. Philatô đáp:
S. "Ðiều ta đã viết là đã viết".
C. Khi quân lính đã đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá rồi thì họ lấy áo Người chia làm bốn phần cho mỗi người một phần, còn cái áo dài là áo không có đường khâu, đan liền từ trên xuống dưới. Họ bảo nhau:
S. "Chúng ta đừng xé áo này, nhưng hãy rút thăm xem ai được thì lấy".
C. Hầu ứng nghiệm lời Kinh Thánh: "Chúng đã chia nhau các áo Ta và đã rút thăm áo dài của Ta". Chính quân lính đã làm điều đó.
Ðứng gần thập giá Chúa Giêsu, lúc đó có Mẹ Người, cùng với chị Mẹ Người là Maria, vợ ông Clopas và Maria Mađalêna. Khi thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu thưa cùng Mẹ rằng:
J. "Hỡi Bà, này là con Bà".
C. Rồi Người lại nói với môn đệ:
J. "Này là Mẹ con".
C. Và từ giờ đó môn đệ đã lãnh nhận Bà về nhà mình. Sau đó, vì biết rằng mọi sự đã hoàn tất, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, Chúa Giêsu nói:
J. "Ta khát!"
C. Ở đó có một bình đầy dấm. Họ liền lấy miếng bông biển thấm đầy dấm cắm vào đầu ngành cây hương thảo đưa lên miệng Người. Khi đã nếm dấm rồi, Chúa Giêsu nói:
J. "Mọi sự đã hoàn tất".
C. Và Người gục đầu xuống trút hơi thở cuối cùng.
(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)
Hôm đó là ngày chuẩn bị lễ: để tội nhân khỏi treo trên thập giá trong ngày Sabbat, vì ngày Sabbat là ngày đại lễ, nên người Do-thái xin Philatô cho đánh dập ống chân tội nhân và cho cất xác xuống. Quân lính đến đánh dập ống chân của người thứ nhất và người thứ hai cùng chịu treo trên thập giá với Người. Nhưng lúc họ đến gần Chúa Giêsu, họ thấy Người đã chết, nên không đánh dập ống chân Người nữa, tuy nhiên một tên lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người; tức thì máu cùng nước chảy ra. Kẻ đã xem thấy thì đã minh chứng, mà lời chứng của người đó chân thật, và người đó biết rằng mình nói thật để cho các người cũng tin nữa. Những sự việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: "Người ta sẽ không đánh dập một cái xương nào của Người". Lời Kinh Thánh khác rằng: "Họ sẽ nhìn xem Ðấng họ đã đâm thâu qua".
Sau đó, Giuse người xứ Arimathia, môn đệ Chúa Giêsu, nhưng thầm kín vì sợ người Do-thái, xin Philatô cho phép cất xác Chúa Giêsu. Philatô cho phép. Và ông đến cất xác Chúa Giêsu. Nicôđêmô cũng đến, ông là người trước kia đã đến gặp Chúa Giêsu ban đêm. Ông đem theo chừng một trăm cân mộc dược trộn lẫn với trầm hương. Họ lấy xác Chúa Giêsu và lấy khăn bọc lại cùng với thuốc thơm theo tục khâm liệm người Do-thái. Ở nơi Chúa chịu đóng đinh có cái vườn và trong vườn có một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai. Vì là ngày chuẩn bị lễ của người Do-thái và ngôi mộ lại rất gần, nên họ đã mai táng Chúa Giêsu trong mộ đó.


Suy Niệm: Người Tôi Tớ Của Thiên Chúa
Phụng vụ hôm nay không phải là Phụng vụ Thánh Thể mà là Phụng vụ Thánh Giá. Cao điểm của buổi phụng vụ này là nghi thức mở Thánh Giá và thờ lạy Thánh Giá. Nhưng để giúp chúng ta hiểu biết mầu nhiệm Thánh Giá, ba bài Kinh Thánh vừa nghe lần lượt giới thiệu với chúng ta những khía cạnh của Thánh gía Ðức Kitô, cũng là những nét chính trên khuôn mặt Ðức Kitô ở trên Thánh giá. Là vì từ ngày Người bị đóng đinh, thập giá đã trở thành Thánh giá khi mang xác thánh Người; và như lời thánh Phaolô nói, chúng ta cũng chẳng biết một Ðức Kitô nào khác ngoài chính Ðức Kitô đã bị đóng đinh vào Thập giá. Nên suy nghĩ về Thánh giá, là chiêm ngưỡng Ðức Kitô chịu đóng đinh. Qua những bài Kinh Thánh vừa nghe, Phụng vụ muốn chúng ta nhìn ngắm Ðức Kitô trên Thánh giá như là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa, như là Vị Thượng Tế của Ðạo Mới, và như là Ðấng Hoàng Ðế đã cứu chuộc chúng ta.

A. Người Tôi Tớ Của Thiên Chúa
Isaia có một đoạn sách rất mầu nhiệm, đoạn mà chúng ta vừa nghe đọc. Cho đến ngày Ðức Kitô chịu treo trên Thập giá, người ta chẳng hiểu gì về đoạn sách này. Tác giả nói đến một người Tôi Tớ của Ðức Yavê. Người có đủ mọi tư cách của một người công chính và của một vị tiên tri. Hơn nữa đó còn là Vị Tiên tri công chính đặc biệt. Chẳng người công chính và vị tiên tri nào trong lịch sử hội đủ những tư cách của Người. Phải nói Người là vị thánh duy nhất và là Người của Thiên Chúa có một không hai. Bản chất của con người của Người đã rất mầu nhiệm vì dường như Người không phải là một cá nhân nhưng là toàn dân Thiên Chúa ở nơi Người. Ðịnh mệnh của Người còn mầu nhiệm hơn nữa. Người đạo đức thánh thiện tuyệt vời, thế mà không hiểu sao lại bị đánh đập, mắng chửi, ruồng rẫy, vất bỏ như một tên vô đạo, như một kẻ bất lương. Và cực hình Người phải chịu dữ dằn đến nỗi làm nát khuôn mặt Người, khiến ai nhìn vào cũng phải rùng rợn ngó đi nơi khác. Thế rồi Người được tôn vinh, tôn vinh đến cùng độ khiến cả thiên hạ phải ngỡ ngàng. Ai hiểu được con người lạ lùng ấy? Isaia viết ra theo ơn linh hứng cũng phải bàng hoàng. Ông suy nghĩ và táo bạo viết thêm chính vì tội lỗi loài người mà Vị công chính kia phải chịu khổ như vậy. Người là bầy tôi Thiên Chúa dùng để gánh vác các khổ đau của chúng ta, hầu trở nên Vị trung gian cầu bầu cho tội nhân. Isaia được linh hứng viết đoạn trên, nhưng ông cũng như mọi độc giả đều ngậm tăm, chẳng biết nhân vật mình mô tả đó là ai. Lời tiên tri trên còn chờ mạc khải.
Nay Ðức Kitô chịu treo trên Thập giá. Và chính lúc ấy trời đất chuyển động. Nhiều kẻ đấm ngực ăn năn thú nhận: Người bị treo kia thật là Con Thiên Chúa. Mầu nhiệm Phục sinh tiếp đến chứng thực cho lời thú nhận trên. Và bài sách Isaia nay được ứng nghiệm. Ðức Kitô bị đóng đinh chính là Ðấng Thánh đã mang lấy tội lỗi và khổ đau của loài người. Người bị đánh đập, ruồng rẫy, vứt bỏ như viên đá mà thợ xây quẳng đi. Nhưng Thiên Chúa đã nhặt lại làm đá góc xây nên Ðền thờ mới là Hội Thánh hiện thời. Ðức Kitô Chúa chúng ta đã hoàn tất lời tiên tri; đã làm trọn thời Cựu ước; đã trở nên phương xá cứu rỗi loài người.
Bài sách Isaia ít nhất khuyên nhủ chúng ta điều này: mỗi khi nhìn vào Thập giá Ðức Kitô, lập tức chúng ta phải nghĩ đến tội lỗi lớn lao và khổ đau dữ dằn của loài người. Không có tội lỗi và hậu quả của nó, thì không có việc Ðức Kitô phải đập đánh và khổ đau trên Thập giá. Thân thể rách nát của Người nhắc nhở chúng ta ý thức sự kiện tội lỗi tràn lan mọi nơi, mọi thời một cách thật độc dữ. Và trước hết chính mỗi người chúng ta phải nhận thức lương tâm và đời sống nhiều khi còn tội lỗi của mình. Thiếu sự công nhận này là phủ nhận Thánh giá Ðức Kitô; là không chấp nhận ý nghĩa cứu thế của việc Người tử nạn; là cho rằng việc Người chịu chết thật vô ích, nếu không phải chỉ có hệ tới Người. Và như vậy rõ rệt là phạm thượng và xúc phạm.
Ngược lại, ai có cái nhìn như Isaia, ai nhận thức rằng Ðấng bị treo trên Thập giá đã phải khổ hình vì tội lỗi chúng ta, người đó dễ nhận ra Ðức Kitô bị đóng đinh hiện nay là Vị trung gian cầu bầu cho kẻ có tội. Khi ấy Thập giá của Người trở nên Thánh giá, trở thành phương xa cứu độ loài người tội nhân.
Thế nên thái độ đầu tiên phải có để cử hành Phụng vụ Thánh giá hôm nay là tâm tình nhận thức mình là tội nhân và Ðấng bị đóng đinh kia đang đau khổ vì mình; chúng ta đến với Thập giá vừa khiêm cung vừa cảm mến. Cái hôn nồng nàn đặt vào chân Ðấng bị đóng đinh sẽ có giá trị tha tội khác nào những cái hôn đầy nước mắt của bà Maria đặt vào chân Chúa khi Người còn sống. Ðó là những cái hôn thú nhận tội lỗi và trao phó chúng cho Ðấng đầy yêu thương muốn gánh đỡ hết tội lỗi của loài người.
Tuy nhiên bài sách Isaia mới đem đến thái độ mở đầu. Chúng ta còn phải đi xa hơn nữa vào Phụng vụ Thánh giá hôm nay. Và bài thư Hipri tiếp sau gợi lên một tâm tình mới.

B. Vị Thượng Tế Của Ðạo Mới
Tác giả thư Hipri nói với chúng ta: Ðức Kitô bị đóng đinh Thập giá là Vị Thượng tế đã tiến vào thiên cung. Không giống như bất cứ vị thượng tế nào trong đạo cũ, hay đã gặp ở trần gian này, Vị Thượng tế của chúng ta độc nhất vô song và đáng tin cậy hoàn toàn, vì lẽ Người đã chịu khổ nạn.
Ý tác giả muốn nói gì? Mấy lời thư chúng ta vừa nghe chỉ nêu lên một ý tưởng. Theo ông, cuộc khổ nạn Ðức Kitô đã chịu chứng tỏ Người có lòng tôn kính vâng phục Thiên Chúa. Người đã khiêm nhường sấp mình nài van Ðấng có thể cứu thoát Người khỏi chết. Lòng vâng phục của Người đã khiến Người được chấp nhận. Và cũng nhờ sự vâng phục cho đến chết như thế, Người đã trở nên phương xá tội tất cả những ai tùng phục Người.
Muốn hiểu ý tác giả một cách đơn sơ, có lẽ chúng ta có thể nói theo như đã học biết. Thánh Kinh dạy loài người đã sa ngã phạm tội bất vâng phục Thiên Chúa và càng đi càng vấp váp nặng nề. Ðức Kitô đến gánh vác mọi tội lỗi trần gian. Người phải tỏ ra vâng phục hết mình, tức là phải vâng phục cho đến chết và chết trên Thập giá. Khi đó Người mới được nâng lên, trở thành phương xá cứu độ tất cả những ai chấp nhận tinh thần vâng phục của Người. Nói một cách vắn tắt hơn, như vì sự bất tuân phục của một người mà cả loài người phải chết, thì nay nhờ sự vâng phục của một người khác mà cả nhân loại lại được sống. Nhiều tác giả đạo đức còn suy nghĩ thêm: như loài người đã hư đi vì một người đã bất tuân phục nơi cây trái cấm, thì nay nhân loại được cứu chuộc nhờ một người khác đã vâng phục cho đến chết và chết trên cây gỗ. Do đó, Thánh giá Ðức Kitô đã trở thành cây thang đưa người ta trở về Thiên Quốc. Và Ðức Kitô cũng chỉ có thể lên nơi vinh hiển qua nhiều gian khổ đớn đau để học biết vâng phục.
Tuy nhiên như vậy chúng ta vẫn chưa nói đủ về tư cách Thượng tế của Ðức Kitô như bài Thánh thư hôm nay muốn. Tác giả nghĩ đến ngày xá tội trong dân Dothái. Ông thấy đạo cũ đặt cả tin tưởng vào vị thượng tế, khi ngài bước vào cung cực thánh, dâng máu chiên máu bò để xin ơn tha tội. Ðó là lễ xá tội lớn nhất của đạo cũ. Ðó là ngày thượng tế thi hành đặc quyền của mình. Nhưng nếu chỉ có vậy, thì sánh làm sao được với lễ xá tội trong Ðạo Mới? Hay nói cách khác, lễ đền tội trên Thánh giá tỏ ra trổi vượt hơn biết bao! Ở đây không phải là vị thượng tế thường, nhưng là vị Thượng tế tuyệt vời. Ở đây không phải chỉ là máu chiên máu bò, nhưng là chính Máu Thánh Ðức Kitô. Ở đây vị Thượng tế không khách quan dùng một hy lễ ngoài mình để dâng lên, nhưng dâng chính sự đau khổ và sự chết của mình làm Hy tế. Nhất định vị Thượng tế này thật là trổi vượt, Hy tế của Người thật là giá trị. Thế nên chúng ta hãy tin tưởng đến gần ngai ân sủng để được cứu độ. Và để lòng tin tưởng không bị một nghi ngờ nào có thể làm lung lay, thì chúng ta cũng cần biết: Vị Thượng tế của chúng ta thông cảm vô ngần, vì Người đã kinh nghiệm nơi cuộc đời và thân thể của Người mọi nỗi khổ đau của chúng ta ngoài trừ tội lỗi.
Nói đúng ra, khi nêu lên lý do tin tưởng này, tác giả cũng hàm ý bảo chúng ta: muốn tin tưởng đến gần ngai ân sủng, chúng ta cũng phải cảm thông những đau khổ đớn đau của Người. Cũng như khi gợi lên giá trị của sự vâng lời trong cuộc Khổ nạn của Ðức Kitô, tác giả đã khuyên ta chỉ mong được cứu độ khi chúng ta tuân phục Người.
Như vậy bài thư Hipri đã đi xa hơn bài sách Isaia nhiều. Nhìn vào Thánh giá Ðức Kitô không những chúng ta phải nhận thức rằng chính vì tội lỗi của loài người chúng ta mà Người Tôi Tớ Thiên Chúa đã phải cực hình như vậy; nhưng sau bài thư Hipri, chúng ta còn thấy rõ hơn; Ðức Kitô đã phải đi qua nhiều đau khổ và chết trên Thập giá để học biết và chứng tỏ lòng vâng phục hầu chuộc tội bất tuân phục, khiến một đàng Người trở thành vị Thượng tế duy nhất có thể ban ơn tha tội và đàng khác chúng ta chỉ có thể đến gần ngai ân sủng nếu tùng phục Ðấng đã bị đóng đinh, tức là tham gia vào cuộc Khổ nạn của Người. Tư tưởng cuối cùng này dẫn ta sang bài tường thuật việc Chúa chịu nạn theo Tin Mừng Yoan.

C. Ðấng Hoàng Ðế Cứu Ðộ
Như đã có lần chúng ta nói: mỗi tác giả Tin Mừng có một lối riêng để trình bày việc Chúa chịu chết. Nhờ vậy chúng ta có những bài tường thuật phong phú và độc đáo. Cách thánh Yoan thuật lại việc Chúa chịu nạn cũng thật là của người. Ở đây chúng ta chỉ làm nổi bật lên hai tư tưởng: Ðức Kitô là Thượng Tế và là Hoàng Ðế.
Nếu tác giả thư Hipri còn nhận thấy Chúa chịu đóng đinh là Thượng tế tuyệt vời, thì huống nữa là tác giả Tin Mừng Yoan. Cuốn Tin Mừng sau chót này luôn có khuynh hướng phụng vụ: làm sao lại có thể không nhận ra khuôn mặt Tư tế của Ðức Kitô trong cuộc Người thương khó?
Theo Yoan, sau khi bị bắt, Ðức Yêsu bị điệu đến nhà Hanna là thân phụ của vị thượng tế năm ấy là Caipha. Và khi Người ở trước mặt ông này, Yoan dùng đi dùng lại danh từ thượng tế để chúng ta thấy rõ tư cách trổi vượt của Ðức Yêsu, khiến chúng ta công nhận chức thượng tế của đạo cũ không còn giá trị gì nữa.
Rồi Yoan phân biệt rõ trong số y phục của Chúa mà lý hình đem ra chia nhau, có cái áo dài một đường chỉ. Lý hình đã để nguyên và rút thăm. Cái áo ấy gợi lên hình ảnh cái áo dài của thầy thượng tế. Và như vậy, Yoan muốn cho chúng ta nhìn nhận nơi Ðức Kitô chịu đóng đinh, vị Thượng tế ở trên bàn thờ Thánh giá.
Mà quả thật Thánh giá đã trở thành bàn thờ của Ðạo Mới. Khi người lính không đánh dập ống chân Chúa như đã làm cho hai người tử tội hai bên, Yoan đã nhận ra Người là Chiên Vượt qua, mà khi hy tế không được để gẫy một cái xương nào.
Hơn nữa, lúc người lính cầm đòng đâm cạnh sườn Chúa, Yoan thấy nước với máu chảy ra. Ông thấy ngay đó là Ðền thờ Yêrusalem mới, có nước sinh sống chảy ra từ bên hông, đem sự sống mới đến phục sinh mọi loài.
Như vậy Yoan đã kín đáo nhưng rất tài tình và sâu sắc giới thiệu Ðức Kitô chịu cực hình là Thượng tế, là Ðền thờ, là Hy lễ, tức là tất cả tôn giáo mới của chúng ta. Ông đồng ý với tác giả thư Hipri. Cũng như ông nhắc lại một câu trong sách Isaia để chứng tỏ ông coi Ðức Kitô chịu nạn đây là Người Tôi Tớ Thiên Chúa: "Chúng sẽ trông lên Người chúng đã đâm".
Nhưng khi trông lên Ðấng đã bị đâm, Yoan còn nhìn thấy Người là Hoàng đế muôn dân trông đợi. Tác giả sách Tin Mừng thứ tư có cái nhìn đặc biệt này: ngay khi thấy Ðức Yêsu còn sinh hoạt ở trần gian này, ông đã nhìn ra vinh quang của Người là Ngôi Lời Thiên Chúa. Lúc nào Người cũng có vẻ uy nghi, mặc dầu kín đáo, vì Ngôi Lời đã hóa thành xác phàm. Thế nên cả trong cuộc Khổ nạn này, Ðức Kitô uy nghi, lẫm liệt, và có thể nói, hơn bao giờ hết. Một mình Yoan đã nói lên cái oai của Ðức Kitô nơi vườn Cây Dầu. Tiếng của Người vừa phán, bọn lính đã ngã lăn ra. Mà không phải chỉ một lần! Thái độ của Người ở trước tòa Caipha cũng vậy. Ðặc biệt cuộc đối thoại giữa Người với Philatô. Yoan thuật lại tỉ mỉ và ông đã giải thích vương quyền của Chúa là gì. Ðến nỗi Philatô bị ám ảnh. Hay bị chinh phục? Ông đã đưa Ðức Kitô ra trước mặt dân, chỉ vào Người mà tuyên bố: Ðây là Người. Nhưng ông cũng đã nói: Ðây là Vua các ngươi! Rồi một mình tác giả Tin Mừng thứ tư nhấn mạnh việc Philatô từ chối không sửa lại bảng viết đặt trên đầu Thánh giá Ðức Yêsu. Ông muốn muôn đời người ta nhìn nhận Ðấng chịu đóng đanh đây là Hoàng đế cứu độ muôn dân. Ông ngồi ghế quan tòa, mà cuối cùng đã thú nhận người bị xét xử kia là Vua! Cũng như Caipha là thượng tế đã bị mất mặt trước Vị Thượng tế mới!
Vậy, nếu chúng ta phải tóm tắt những tư tưởng và tâm tình của Phụng vụ muốn chúng ta phải có khi đến với Thánh giá Ðức Kitô, thì chúng ta có thể nói:
* Mọi người hãy như Isaia nhìn lên Thập giá mà nhận thức rằng: Thân thể tan nát kia là nạn nhân của tội lỗi. Ðó là Người Tôi Tớ Thiên Chúa đã gánh chịu mọi tội lỗi và hậu quả của trần gian. Không thể tôn thờ Thánh giá mà không nhìn nhận phần trách nhiệm tội lỗi của mình; nên phải thống hối ăn năn đến với Thánh giá Chúa Kitô.
* Khi đó, theo lời thư Hipri, chúng ta sẽ được dạn dĩ, tin tưởng đến gần ngai ân sủng vì có Ðức Kitô làm Thượng tế. Người đã chịu đóng đinh để tiến vào thiên cung với Máu Thánh của Người, hầu cầu bầu ơn tha thứ cho chúng ta với một tấm lòng rất thông cảm mọi sự yếu đuối của chúng ta.
* Như vậy, chúng ta hãy để Ðức Kitô chịu đóng đinh kéo mình lên với Người. Chính Người đã phán: khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi sự lên cùng Ta. Người thống nhất mọi sự khi ở trên Thánh giá. Người chinh phục mọi người khi hy sinh đến cả mạng sống cho người mình yêu. Người là Vua Tình yêu khi chịu đóng đinh.
Phụng vụ hôm nay quy tụ chúng ta lại bên Thánh giá. Chúng ta hãy nhìn lên Ðấng đã bị đóng đinh và bị lưỡi đòng đâm thâu. Người đang khẩn khoản nài xin Chúa Cha tha tội cho chúng ta. Và ơn tha tội ấy như đang chảy ra từ cạnh sườn Người trong Nước và Máu để rửa sạch và tưới mát chúng ta thành tạo vật mới. Như vậy Ðấng bị đóng đinh vừa là Của Lễ Ðền Tội, vừa là Vị Thượng Tế ban ơn cứu độ và là Thủ Cấp của một cơ thể mới, hay là Vua của Dân Thánh Mới. Chúng ta đến với Thánh giá không những trong tâm tình ăn năn thống hối, nhưng còn để được đổi mới canh tân và ý thức từ nay phải liên kết với Vị Thủ Lãnh của mình đang giang tay trên Thập giá để cầu bầu cho nhân loại và đang để mở cạnh sườn cho thiên hạ thấy tình yêu to lớn đã hy sinh phục vụ cho đến chết và chết trên Thập giá. Liên kết với Ðấng yêu thương loài người như vậy, chúng ta hãy đứng lên cầu nguyện cho mọi hạng người, mong mọi người đến thờ lạy Thánh giá Chúa Kitô.

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)



LỜI CHÚA MỖI NGÀY
Thứ Sáu Tuần Thánh
Bài đọcIsa 52:13 – 53:12; Heb 4:14-16, 5:7-9; Jn 18-19.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Vinh quang tuyệt đỉnh qua đau khổ tột cùng
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tập trung trong những đau khổ của Đức Kitô và lý do tại sao Ngài phải chịu những đau khổ này.
Trong Bài Đọc I, tiên tri Isaiah nói rõ lý do tại sao Người Tôi Trung của Thiên Chúa chịu đau khổ: Ngài mang lấy thương tích của chúng ta. Ngài đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm. Ngài đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Trong Bài Đọc II, tác-giả Thư Do Thái chứng minh Chúa Giêsu là Vị Thượng Tế tuyệt hảo, vì Ngài vừa biết những gì nơi Thiên Chúa, vừa biết những gì nơi con người; nên Ngài có thể cầu bầu với Thiên Chúa một cách hiệu quả cho con người. Hơn nữa, vì sự vâng phục Thiên Chúa và những đau khổ Chúa Giêsu chịu, Ngài đã trở nên nguồn ơn cứu độ cho muôn người. Trong Phúc Âm, thánh-sử Gioan tường thuật Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, từ khi Ngài bị phản bội bởi Judah cho tới khi ông Joseph Arithmatha và Nicodemus an táng Ngài trong huyệt mộ, Chúa Giêsu biết tất cả những đau khổ xảy đến cho Ngài, và Ngài luôn can đảm đối phó và chịu đựng.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Bài ca thứ tư về Người Tôi Trung của Thiên Chúa
Trong Bài ca thứ tư, Thiên Chúa cho biết lý do tại sao Người Tôi Trung phải chịu đau khổ: (1) để gánh chịu hình phạt cho nhân lọai, và (2) để đạt được vinh quang tuyệt đỉnh.
1.1/ Người Tôi Trung được vinh quang tuyệt đỉnh qua đau khổ tột cùng: Tiên tri Isaiah muốn nhấn mạnh đến cách thức được vinh quang: “qua đau khổ tột cùng.” Cần chú ý đến 4 động từ dùng trong câu này: “Này đây, người tôi trung của Ta sẽ cư xử khôn ngoan (sakal), sẽ được vươn cao (rum), được tuyên dương (nasa), và được suy tôn đến tuyệt đỉnh (gabah meod). Vì Người Tôi Trung biết hành động khôn ngoan và hiệu quả, nên Người được vươn cao, được tuyên dương, và đạt tới vinh quang tuyệt đỉnh. Một người không thể đọc câu này mà không suy nghĩ đến (Phi 2:6-11, Acts 2:33, và Acts 3:13, 26). Tác giả Stier so sánh 3 giai đọan được nâng cao của Người với 3 giai đọan sống lại, lên trời, và ngự bên hữu Thiên Chúa (Psa 110:1). Ai là Người Tôi Trung biết cư xử khôn ngoan để đạt được vinh quang tuyệt đỉnh như thế? Vua David? dân Israel? tiên tri? Chỉ có Đức Kitô mà thôi.
Đau khổ mà Người Tôi Trung phải chịu vượt quá đau khổ con người có thể tưởng tượng được: “bao kẻ đã sửng sốt khi thấy người tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người, không còn dáng vẻ con người nữa.” Điều này tác giả muốn nhấn mạnh đến hậu quả của hình phạt: Vì chịu quá nhiều đau khổ nơi thân xác, Người Tôi Trung không còn giữ được dáng vẻ con người nữa.
Có một sự khác biệt giữa Bản Bảy Mươi và Bản Do Thái trong câu 52:15: Nhóm PVCGK dịch theo Bản Bảy Mươi: “Nó sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ…” Theo Bản Do-thái: “Nó sẽ rẩy (yazah) trên các dân tộc …” E.J. Young cắt nghĩa: Động từ yazah là một động từ đặc biệt, dùng trong luật Moses cho việc rẩy dầu, nước, hay máu như một lễ nghi thanh tẩy bởi các tư tế (Lev 4:6, 8:11, 14:7a). Chúa Giêsu rẩy máu của người trên các dân tộc để thanh tẩy tội lỗi của họ như lời người Do-thái nói: “Máu của nó sẽ đổ trên chúng tôi và con cháu chúng tôi” (Mt 27:25).
1.2/ Phản ứng của con người khi nhìn thấy Người Tôi Trung.
(1) Phản ứng của các vua chúa: Khi được chứng kiến tòan bộ: vinh quang tuyệt đỉnh cũng như đau khổ tột cùng của Người Tôi Trung, “các vua chúa sẽ phải câm miệng, vì được thấy điều chưa ai kể lại, được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ.”
(2) Phản ứng của dân Chúa: “Ai mà tin được điều chúng ta đã tường thuật? Cánh tay uy quyền của Đức Chúa đã được mặc khải cho ai?” Vì điều Thiên Chúa làm quá cao siêu, vượt quá trí hiểu biết của con người; hậu quả là con người sẽ khó lòng tin được. Thánh Phaolô gọi Thập Giá là một điên rồ với người Hy-lạp, và sự sỉ nhục với người Do-thái. Họ không thể nào hiểu được một Thiên Chúa uy quyền muốn con mình chấp nhận điều đó. Nhưng Thiên Chúa uy quyền sẽ làm cho con người hiểu được Mầu Nhiệm Thập Giá và tin vào Đức Kitô, đó là Tin Mừng mà chúng ta rao giảng.
Tiên-tri tường thuật về cuộc đời của Người Tôi Trung với các động từ ở thời quá khứ tiên tri: “Người tôi trung đã lớn lên tựa chồi non trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn (Isa 11:1). Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.”
1.3/ Lý do tại sao Người phải chịu đau khổ: Người Tôi Trung chịu đau khổ vì con người.
* Lý do đúng: “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta.”
* Lý do sai: “Còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề.”
“Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta. Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng. Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt. Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa.”
1.4/ Những thắng lợi của Người Tôi Trung được hưởng.
(1) Ý muốn của Thiên Chúa được thực hiện: Người Tôi Trung là nhân vật chính trong Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa, chính Ngài sẽ đưa kế hoạch này tới chỗ thành tựu và hòan hảo: “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện.”
(2) Ức triệu sinh linh được cứu độ: Mục đích của Kế Hoạch Cứu Độ là giải thóat con người khỏi quyền lực của tội lỗi và mang lại ơn cứu độ cho muôn người: “Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ. Vì thế, Ta sẽ ban cho nó muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, nó sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì nó đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân; nhưng thực ra, nó đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi.”
2/ Bài đọc II: Chúa Giêsu đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục.
2.1/ Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội (Heb 4:14-16): “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.”
- Vai trò của vị Thượng Tế: mang những gì Thiên Chúa nói cho dân và hướng dẫn dân ra trước sự hiện diện của Ngài. Vị Thượng Tế hòan hảo là người vừa biết Thiên Chúa vừa biết dân. Vai trò này chỉ Chúa Giêsu mới có thể hòan thành.
(1) Chúa Giêsu biết Thiên Chúa: vì bản chất của Ngài là Thiên Chúa. Tác giả Thư Do-thái xác tín: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa.”
(2) Chúa Giêsu biết con người: vì Ngài mang thân xác con người. Hơn nữa, “Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội.”
- Chúa Giêsu biết, chịu, và thắng cám dỗ hơn ai hết: Lý do, chúng ta sa chước cám dỗ trước khi ma quỉ dùng hết thủ đoạn của nó; Chúa Giêsu biết, chịu, và thắng vượt tất cả thủ đoạn của ma quỉ. Ví dụ, khi gián điệp tra tấn, họ sẽ dùng các tra tấn từ nhẹ tới nặng. Tra tấn nặng nhất chỉ dành cho con người can đảm nhất. Một người yếu bóng vía sẽ không biết mọi thủ đọan tra tấn.
- Ngài muốn chịu khổ đau của con người: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta.” Người Hy-lạp và Do-thái không thể hiểu nổi tại sao Thiên Chúa chịu đau khổ; họ không thể chấp nhận một Thiên Chúa chết treo trên Thập Giá. Đây là một ý tưởng hay quan niệm hoàn toàn mới. Họ tin một Thiên Chúa vô cảm (apatheia); vì một Thiên Chúa nhạy cảm sẽ thay đổi trước những đau khổ của con người; và nếu Thiên Chúa thay đổi, Ngài không còn là Thiên Chúa nữa. Người nào làm Thiên Chúa phải thay đổi, người đó sẽ lớn hơn Thiên Chúa. Họ không thể tưởng tượng một Thiên Chúa muốn liên quan với thế giới vật chất này.
- Ngài hiểu biết sự đau khổ con người phải trải qua: “Có đau mắt mới biết thương người mù.” Ngài có thể giúp đỡ con người cách hiệu quả: Vì đã trải qua tất cả, Ngài có kinh nghiệm tất cả. Vì thế, không ai có thể giúp con người hiệu quả hơn người đi trước đã có kinh nghiệm về điều đó.
2.2/ Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người (Heb 5:7-9). Tác giả Thư Do Thái tóm tắt công trình cứu độ của Đức Kitô như sau:
(1) Chúa Giêsu biết những gì sẽ xảy đến cho Ngài trong Cuộc Thương Khó: Ngài đã khóc trong vườn Ghetsemane vì sắp phải đương đầu với chúng. Trong giây phút sợ hãi, Ngài đã cầu nguyện để xin Thiên Chúa chọn cho Ngài một con đường khác, nếu có thể: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính.”
(2) Chúa Giêsu vâng phục Chúa Cha cho đết chết: Dẫu vậy, Ngài vẫn xin vâng theo thánh ý của Thiên Chúa Cha: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục.” Hậu quả của sự vâng phục là Ngài đã phải chết trên Thập Giá.
(3) Chúa Giêsu trở nên nguồn cứu độ: Vì sự vâng phục qua những đau khổ Ngài chịu, Chúa Giêsu đã trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.
3/ Phúc Âm: Cuộc Thương Khó Chúa Giêsu theo thánh Gioan
3.1/ Judah bán Chúa Giêsu: “Sau khi nói những lời đó, Đức Giêsu đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối Kedron. Ở đó, có một thửa vườn, Người cùng với các môn đệ đi vào. Judah, kẻ nộp Người, cũng biết nơi này, vì Người thường tụ họp ở đó với các môn đệ. Vậy, Judah tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisees; họ mang theo đèn đuốc và khí giới. Đức Giêsu biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi: "Các anh tìm ai?" Họ đáp: "Tìm Giêsu Nazareth." Người nói: "Chính tôi đây." Judah, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ. Khi Người vừa nói: "Chính tôi đây!" thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi một lần nữa: "Các anh tìm ai?" Họ đáp: "Tìm Giêsu Nazareth."”
- Chúa Giêsu bảo vệ các môn đệ của Ngài: Đức Giêsu nói: "Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi." Thế là ứng nghiệm lời Đức Giêsu đã nói: "Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai." Ông Simon Phêrô có sẵn một thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải của y. Người đầy tớ ấy tên là Mankhô. Đức Giêsu nói với ông Phêrô: "Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?"
3.2/ Chúa Giêsu trước dinh Thượng Tế: “Bấy giờ toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ của người Do-thái bắt Đức Giêsu và trói Người lại. Trước tiên, họ điệu Đức Giêsu đến ông Hannah là nhạc phụ ông Caiaphas. Ông Caiaphas làm thượng tế năm đó. Chính ông này đã đề nghị với người Do-thái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn.”
(1) Thẩm vấn Chúa Giêsu:
- Vị thượng tế tra hỏi Đức Giêsu về các môn đệ và giáo huấn của Người.
- Đức Giêsu trả lời: "Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì."
- Đức Giêsu vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói: "Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?"
- Đức Giê-su đáp: "Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?"
Ông Hannah cho giải Người đến thượng tế Caiaphas, Người vẫn bị trói.
(2) Phêrô chối Chúa Giêsu 3 lần: “Ông Simon Phêrô và một môn đệ khác đi theo Đức Giêsu. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Đức Giêsu vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. Còn ông Phêrô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phêrô vào.”
- Lần thứ nhất: Người tớ gái giữ cổng nói với ông Phêrô: "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao?" Ông liền đáp: "Đâu phải."
- Lần thứ hai: Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó; ông Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Người ta nói với ông: "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao?" Ông liền chối: "Đâu phải."
- Lần thứ ba: Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phêrô chém đứt tai, lên tiếng hỏi: "Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao?" Một lần nữa ông Phêrô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.
3.3/ Chúa Giêsu trước tòa Philatô: Vậy, người Do-thái điệu Đức Giêsu từ nhà ông Caiaphas đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được.
(1) Quan Philatô từ chối không xử Chúa Giêsu:
- Tổng trấn Philatô ra ngoài gặp họ và hỏi: "Các người tố cáo ông này về tội gì?"
- Họ đáp: "Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan."
- Ông Philatô bảo họ: "Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người."
- Người Do-thái đáp: "Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả."
Thế là ứng nghiệm lời Đức Giêsu đã nói, khi ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.
* Kiểu Do-thái: ném đá cho tới chết. Người Do-thái từ chối không xử tử Chúa Giêsu.
* Kiểu Rôma: đóng đinh vào thập giá. Chúa Giêsu bị xử tử theo kiểu Rôma.
(2) Quan Philatô thẩm vấn Chúa Giêsu:
- Ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giêsu và nói với Người: "Ông có phải là vua dân Do-thái không?"
- Đức Giêsu đáp: "Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?"
- Ông Phi-la-tô trả lời: "Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?"
- Đức Giêsu trả lời: "Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này."
- Ông Philatô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao?"
- Đức Giê-su đáp: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi."
- Ông Philatô nói với Người: "Sự thật là gì?"
- Chúa Giêsu không trả lời. Một người không biết sự thật, làm sao có thể sống và làm chứng cho sự thật như tổng trấn Philatô?
(3) Philatô muốn tha Chúa Giêsu:
- Theo tục lệ của các người, vào dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha một người nào đó cho các người. Vậy các người có muốn ta tha vua dân Do-thái cho các người không?
- Họ la lên rằng: "Đừng tha nó, nhưng xin tha Barabba!" Mà Barabba là một tên cướp.
(4) Philatô cho quân lính đánh đòn Chúa Giêsu: “Bấy giờ ông Philatô truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Người. Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. Họ đến gần và nói: "Kính chào Vua dân Do-thái!" rồi vả vào mặt Người.”
(5) Philatô không tìm ra lý do để kết tội Chúa Giêsu:
- Ông Philatô lại ra ngoài và nói với người Do-thái: "Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy." Vậy, Đức Giêsu bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Philatô nói với họ: "Đây là Người!"
- Khi vừa thấy Đức Giêsu, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng: "Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá!"
- Ông Philatô bảo họ: "Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy."
- Người Do-thái đáp lại: "Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa." Nghe lời đó, ông Philatô càng sợ hơn nữa.
(6) Philatô tìm cách tha Chúa Giêsu:
- Ông lại trở vào dinh và nói với Đức Giêsu: "Ông từ đâu đến?"
- Nhưng Đức Giêsu không trả lời.
- Ông Philatô nói với Người: "Ông không trả lời tôi ư? Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao?"
- Đức Giêsu đáp lại: "Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn."
Từ đó, ông Philatô tìm cách tha Người. Nhưng dân Do-thái kêu lên rằng: "Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Caesar. Ai xưng mình là vua, thì chống lại Caesar."
(7) Philatô trao Chúa Giêsu cho họ đóng đinh: Khi nghe thấy thế, ông Philatô truyền dẫn Đức Giêsu ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên toà, ở nơi gọi là Nền Đá, tiếng Do-thái là Gabbatha.
Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng mười hai giờ trưa.
- Ông Philatô nói với người Do-thái: "Đây là vua các người!"
- Họ liền hô lớn: "Đem đi! Đem nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá!"
- Ông Philatô nói với họ: "Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua các người sao?"
- Các thượng tế đáp: "Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Caesar."
Bấy giờ ông Philatô trao Đức Giêsu cho họ đóng đinh vào thập giá.
- Người Do-thái phạm thượng khi họ nói: "Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Caesar." Họ chỉ có một vua là Thiên Chúa.
3.4/ Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào Thập Giá: Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Do-thái là Golgotha; tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giêsu thì ở giữa.
(1) Người Do-thái xin sửa bảng viết: “Ông Philatô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá; bảng đó có ghi: "Giêsu Nazareth, Vua dân Do-thái." Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giêsu bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng: Do-thái, La-tinh và Hy-lạp.”
- Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Philatô: "Xin ngài đừng viết: "Vua dân Do-thái;" nhưng viết: "Tên này đã nói: Ta là Vua dân Do-thái."”
- Ông Philatô trả lời: "Ta viết sao, cứ để vậy!"
(2) Chia nhau áo của Chúa Giêsu: “Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. Vậy họ nói với nhau: "Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được." Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.”
3.5/ Chúa Giêsu sinh thì trên Thập Giá: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cleopas, cùng với bà Maria Magdala.”
(1) Chúa Giêsu trối Đức Mẹ cho Gioan: Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: "Thưa Bà, đây là con của Bà." Rồi Người nói với môn đệ: "Đây là mẹ của anh." Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.
(2) Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng: “Sau đó, Đức Giêsu biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói: "Tôi khát!" Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người.
Nhắp xong, Đức Giêsu nói: "Thế là đã hoàn tất!" Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.”
3.6/ Táng xác Chúa Giêsu:
(1) Chúa Giêsu bị đâm thâu: “Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày Sabbath, mà ngày Sabbath đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Philatô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giêsu. Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra. Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập. Lại có lời Kinh Thánh khác: Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.”
(2) Tháo đanh và táng xác Chúa Giêsu: “Sau đó, ông Joseph, người Arithmatha, xin ông Philatô cho phép hạ thi hài Đức Giêsu xuống. Ông Joseph này là một môn đệ theo Đức Giêsu, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Philatô chấp thuận. Vậy, ông Joseph đến hạ thi hài Người xuống. Ông Nicodemus cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giêsu ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. Các ông lãnh thi hài Đức Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái.
Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó.”
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Mỗi khi đọc lại Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, chúng ta phải nhận thức: lẽ ra chúng ta là người phải ngang qua những đau khổ này, chứ không phải là Con Thiên Chúa.
- Chúa Giêsu chấp nhận vâng phục Thiên Chúa và tất cả các đau khổ là để cứu chuộc con người. Chúng ta đã làm gì để đáp lại tình thương của Thiên Chúa?
- Nếu Chúa Giêsu chấp nhận vâng phục và đau khổ để chứng tỏ tình thương cho Thiên Chúa và cho con người; chúng ta cũng phải làm tương tự để đền bù lại tình thương Thiên Chúa và mang sự sống cho tha nhân.
Lm. Anthony ĐINH MINH TIÊN, OP.

Ga 18,1-19.42

CHÚNG TA LÀ NHỮNG KẺ CÓ TỘI


Đức Giê-su nói: “Thế là đã hoàn tất”.  Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” (Ga 19,30)

Suy niệm: Chúa Giê-su đến trần gian trong thân phận con người là để làm theo Ý Chúa Cha: “Này Con xin đến để thực thi Ý Chúa.” Ngài đã vâng phục Thánh Ý đến cùng qua cái chết trên thập giá. Từ A-đam đến con người cuối cùng trong ngày tận thế, mọi người đã phạm tội, và vì thế sự chết thống trị. Nay nhờ cái chết của Con Thiên Chúa, món nợ sự chết đó được thanh toán trọn vẹn và mọi người nhờ tin vào Ngài mà được ơn sự sống: “Như vậy, nếu tội lỗi đã thống trị bằng cách làm cho người ta phải chết, thì ân sủng cũng thống trị bằng cách làm cho người ta nên công chính để được sống đời đời, nhờ Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 5,21).

Mời Bạn: Qua cái chết và phục sinh của Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã sắm sẵn cho chúng ta hồng ân cứu độ. Nhưng chỉ khi chúng ta nhận ra tội lỗi của mình và cầu xin ơn tha thứ, chúng ta mới đón nhận được hồng ân đó. Trong phần sám hối của Thánh lễ, chúng ta đấm ngực thú nhận mình là người tội lỗi. Bạn có làm điều đó với nhận thức tội lỗi của mình và tâm tình ăn năn đích thực không?

Chia sẻ: Chúng ta nại đến “đức tin của Hội Thánh” để xin Chúa tha tội cho chúng ta như lời nguyện sau kinh Lạy Cha trong thánh lễ: “Xin Chúa đừng chấp tội chúng con, nhưng xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh Chúa….” Bạn hiểu thế nào về lời cầu xin này?

Sống Lời Chúa: Khi tham dự Nghi thức tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su, tôi xin ơn nhận ra sự nặng nề và độc hại của tội lỗi để xin ơn tha thứ và hoán cải đời sống.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin thương xót con là người tội lỗi. (đọc 3 lần)

(5 phút lời Chúa)


Thế là đã hoàn tt (14.4.2017 – Th Sáu Tun Thánh)

Suy nim:
Vào Chúa nhật Lễ Lá chúng ta đã nghe đọc bài Thương Khó
trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm.
Vào thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta luôn nghe đọc bài Thương Khó theo Gioan.
Thánh Gioan kể lại cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu với những nét riêng của ông.
Chúng ta trân trọng cái nhìn bổ sung của thánh Gioan cho những Tin Mừng khác.
Trong cuộc Khổ Nạn, Đức Giêsu của Gioan tỏ ra là người chủ động.
Ngài biết trước các biến cố sắp xảy ra, và Ngài có quyền năng làm chủ mọi sự.
Chính Ngài tiến ra và hỏi các kẻ đến bắt Ngài: “Các anh tìm  ai?”
Câu trả lời của Ngài đủ làm họ lùi lại và ngã xuống đất (18, 4-9).
Đức Giêsu bình an và uy nghiêm bước vào cuộc Khổ nạn,
vì Ngài đã chấp nhận chén đắng Cha trao (18, 11).
Khi bị vị thượng tế Khanna tra hỏi về giáo huấn,
chẳng chút sợ hãi, Ngài đã thẳng thắn từ chối trả lời (18, 19-21).
Khi bị vả mặt, Ngài cũng đòi kẻ xúc phạm Ngài phải nói rõ tại sao (18, 23).
Đức Giêsu bị đem tới dinh tổng trấn Philatô lúc trời đã sáng.
Philatô là người xét xử Đức Giêsu, nhưng có vẻ ông là người bị động.
Ông bị giằng co giữa một bên là Đức Giêsu đang ở trong dinh,
bên kia là đám đông và các nhà lãnh đạo Do thái giáo đang ở ngoài dinh.
Một bên là ông Giêsu mà ông không tìm thấy lý do nào để kết tội (18, 38; 19, 4. 6).
Bên kia là chức tổng trấn và chức “Bạn của Xêda” mà ông đang nắm giữ (19, 12).
Philatô không biết phải theo ai, chọn ai trong tình cảnh căng thẳng này.
Vì thế ông đã đi ra, đi vào cả thảy bảy lần (18, 18, 29. 33. 38; 19, 1. 4. 9. 13).
Đức Giêsu đã đối thoại khá dài với Philatô về Nước của Ngài (18, 36-37),
một nước không có trên bản đồ, không có quân đội, không dùng bạo lực.
Nước của Ngài gồm những người biết nghe sự thật và đứng về phía sự thật,
sự thật này được Ngài làm chứng và cất tiếng nói lên.
“Đây là Vua các người”, Philatô đã giới thiệu Đức Giêsu như thế (19, 14)
và ông đã cương quyết giữ lại tấm bảng treo trên thập giá mang dòng chữ :
“Giêsu Nadarét, Vua dân Do thái” (19, 19).
Đức Giêsu đã tự mình vác thập giá lên đồi Sọ và bị đóng đinh vào giữa trưa.
Chiên Thiên Chúa bị giết đúng vào lúc ở Đền Thờ người ta giết chiên Vượt qua.
Đức Giêsu không cô đơn trên thập giá vì có Mẹ và người môn đệ dấu yêu.
Suốt một đời Ngài đã sống cho sứ mạng Cha trao, nay Ngài biết nó đã hoàn tất.
Chủ động cả trong cái chết, Ngài “gục đầu xuống và trao Thần Khí” (19, 30).
Qua cái chết trên thập giá, Đức Giêsu cho thấy tình yêu lớn nhất của Ngài (15, 13),
tình yêu trao hiến cả Máu và Nước từ trái tim bị đâm thâu (19, 34).
Nhưng thập giá cũng cho thấy tình yêu của Cha khi ban Con Một cho ta (3, 16).
Đức Giêsu Kitô đã trở về với Cha bằng con đường khó đi.
Người Kitô hữu cũng về với Thiên Chúa bằng con đường hẹp.
Ước gì chúng ta sống cuộc Khổ nạn của mình với sự bình an, can đảm của Giêsu.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu,
vì Chúa đã bẻ tấm bánh trao cho chúng con,
xin cho những người nghèo khổ được no đủ.
Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Dầu,
xin cho các bạn trẻ đủ sức đối diện
với những khó khăn gay gắt của cuộc sống.
Vì Chúa bị kết án bất công,
xin cho chúng con can đảm bênh vực sự thật.
Vì Chúa bị làm nhục và nhạo báng,
xin cho phụ nữ và trẻ em được tôn trọng.
Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề,
xin cho những người bệnh tật được đỡ nâng.
Vì Chúa bị lột áo và đóng đinh,
xin cho sự hiền hòa thắng được bạo lực.
Vì Chúa dang tay chết trên thập giá,
xin cho đất nối lại với trời,
con người nối lại mối dây liên đới với nhau.
Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui òa vỡ,
xin cho chúng con biết đón lấy đời thường
với tâm hồn thanh thản bình an. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J