31/12/2017
Chúa Nhật Thánh Gia Thất năm B
(phần II)
Phụng vụ Lời Chúa: Chúa Nhật Lễ Thánh Gia Thất, năm B
CHÚA NHẬT LỄ THÁNH GIA THẤT
(St 15,1-6; 21,1-3; Hr 11,8.11-12.17-19;
Lc 2,22-40 [hoặc Lc 2,22.39-40])
Lc 2,22-40 [hoặc Lc 2,22.39-40])
GƯƠNG MẪU ĐỨC TIN
“Nhờ đức tin, ông Ápraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi
mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp,
và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu” (Hr 11,8).
I. CÁC BÀI ĐỌC
1. Bài đọc 1:
Bài đọc trích từ sách Sáng Thế cho thấy việc Thiên Chúa đã thực hiện lời Ngài đã hứa với tổ phụ Ápraham khi ban cho ông người con nối dõi là Isaác, vì ông đã tin vào Chúa.
Trước hết, trong một thị kiến Thiên Chúa hứa ban cho Ápraham một phần thưởng lớn lao, một dòng dõi đông đúc như sao trời, nếu ông ra đi theo lời mời gọi của Chúa. Một lời hứa xa xôi trong một thị kiến lờ mờ để lên đường ra đi đến một nơi chưa xác định, liệu có đáng tin? Ápraham đã tin vào lời hứa của Thiên Chúa rằng “một kẻ do chính ngươi sinh ra mới thừa kế ngươi” nên “Thiên Chúa kể ông là người công chính”. Như vậy, khi Ápraham hoàn toàn tín nhiệm và phó thác vào Thiên Chúa và kế hoạch của Ngài, ông được kể là người công chính, nghĩa là thuận theo ý muốn của Thiên Chúa (x. St
15,1-6).
Sau nữa, khi ông Ápraham đã già, Thiên Chúa mới thực hiện lời Ngài đã hứa là ban cho ông một đứa con nối dõi (x. St 21,1-3). Nhờ tin cách tuyệt đối và trung thành phó thác vào Thiên Chúa cho đến cùng dù chỉ qua một lời hứa, ông Ápraham đã được ban cho điều ông ước mong. Quả thật, Thiên Chúa không bao giờ thất tín đối với những ai tuyệt đối tin tưởng vào Ngài. Những khó khăn và thử thách có thể đến, thời gian có thể làm lung lay
lòng tin, nhưng những ai thật sự tín thác nơi Thiên Chúa sẽ không bao giờ phải thất vọng. Ông Ápraham là một gương mẫu sống động như thế.
2. Bài
đọc 2:
Trong chương 11 thư Hípri (Do Thái) liệt kê một danh sách dài các tổ phụ đã sống trọn vẹn đức tin
trong những hoàn cảnh khác nhau.
Trong số đó, đức tin của ông Ápraham và bà Xara được nhấn mạnh cách đặc biệt.
Nhờ đức tin, ông Ápraham đã
vâng theo tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi bất định theo lời hứa của Thiên Chúa. Ông ra đi mà không biết mình đi đâu; ông ra đi mà không biết phần gia nghiệp được hứa ban sẽ thế nào (Hr 11,8). Tin là chấp nhận tín thác hoàn toàn vào một điều bất định phía trước mà không có bất kỳ một bằng chứng bảo đảm nào ngoài lời hứa của Thiên Chúa. Ông Ápraham được kể là tổ phụ của những kẻ tin vì ông đã hoàn toàn tín thác như thế.
Nhờ đức tin, bà Xara đã có thể mang thai và sinh con
nối dõi lúc tuổi đã cao. Một người vốn hiếm muộn lại có thể mang thai và sinh con.
Một người xem như đã chết rồi, lại có thể sinh ra một dòng dõi nhiều như sao trời cát biển (x. Hr 11,11-12). Thiên Chúa có thể biến “điều không thể” thành “có thể” cho những ai tín thác vào Ngài. Tin là
phó thác hoàn toàn và để cho Thiên Chúa hành động trên cuộc đời mình theo như ý định nhiệm mầu của Ngài. Đối với tác giả thư Híprri, bà Xara được kể vào số những người có đức tin gương mẫu vì bà đã tin như thế.
Nhờ đức tin, ông Ápraham đã chấp nhận hiến tế Isaác là đứa con nối dõi duy nhất, để rồi ông đã nhận lại người con ấy như một biểu tượng (x. Hr 11,17-20). Đó là biểu tượng của sự trung tín của Thiên Chúa với điều Ngài đã hứa, và cũng là biểu tượng của lòng tin tuyệt đối mà ông Ápraham đặt nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa có
thể dùng những nét cong để vẽ nên đường thẳng. Tin là để cho Thiên Chúa hướng dẫn đời mình theo chương trình yêu thương của Ngài.
3. Bài
Tin Mừng:
Tác giả Luca tường thuật việc thánh Giuse và Mẹ Maria mang con lên đền thờ Giêrusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa theo
truyền thống của người Do Thái, qua đó cho thấy đức tin, sự phó thác và đời sống cầu nguyện của thánh Giuse và Đức Maria.
Trước hết, như những người Do Thái đạo đức, thánh Giuse và Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu lại cho Thiên Chúa vì ý thức rằng “mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa” (Lc 2,23; x. Xh 13,2). Hơn nữa, lời sứ thần vẫn âm vang trong lòng Mẹ Maria rằng “Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc
1,35). Là Đấng Thánh, lại là Con Thiên
Chúa, Đức Giêsu hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Dù là cha mẹ chính thức và hợp pháp của Đức Giêsu trước mặt xã hội, nhưng thánh Giuse và Đức Mẹ lờ mờ hiểu rằng các ngài chỉ đang cộng tác vào chương trình lớn lao của Thiên Chúa qua trẻ Giêsu. Đó là sự phó thác của các ngài.
Hơn nữa, sự hiện diện của ông Simêon và bà Anna tại Giêrusalem trong biến cố dâng con, cùng với lời tiên tri của họ, càng khẳng định hơn về căn tính của trẻ Giêsu như là “ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân”, là “ánh sáng soi đường cho dân ngoại” và là “vinh quang
của Israel” (x. Lc 230-32). Dù vẫn chưa thể hiểu hết được huyền nhiệm chương trình cứu độ của Thiên Chúa thực hiện qua trẻ Giêsu (x. Lc 2,46-50), Đức Mẹ và thánh Giuse vẫn âm thầm tín thác và trung thành cộng tác vào để ý định của Thiên Chúa được thực hiện. Đó là đức tin của các ngài.
Cuối cùng, sau khi chu toàn những điều luật truyền, và trải qua những biến cố dồn dập với bao điều gây kinh ngạc tại Giêrusalem, thánh Giuse và Đức Mẹ lại đưa trẻ Giêsu về sống ẩn dật tại làng quê Nadarét. Trong âm thầm, trẻ Giêsu “càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa”. Dù bất cứ biến cố gì xảy ra, Đức Maria “hằng nghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc
2,51b; x Lc 2,19). Hơn ai hết, Đức Mẹ và thánh Giuse âm thầm chiêm ngắm mầu nhiệm về Chúa Giêsu trong
khiêm tốn lặng thầm. Đó là đời sống cầu nguyện của các ngài.
II. GỢI Ý ÁP DỤNG:
1/ Ông Ápraham đã hoàn toàn tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa trong mọi bước đường Chúa dẫn ông đi. Dù trải qua bao thăng trầm, ông vẫn tin chắc vào điều Chúa đã hứa về một dòng dõi đông đúc, nên ông được Thiên Chúa kể là người công chính, nghĩa là một người luôn tín thác và để cho Thiên Chúa thực hiện ý định của Ngài qua cuộc đời ông. Thiên Chúa vẫn không ngừng mời gọi mỗi Kitô hữu cộng tác để chương trình của Ngài được tiếp tục thể hiện trên thế giới này. Thiên Chúa mong muốn mỗi chúng ta tín thác hoàn toàn nơi Ngài và để Ngài hành động qua mỗi người chúng ta.
2/ Ông Ápraham và bà Xara được tác giả thư Hípri liệt kê vào số những gương mẫu về đức tin. Đời sống của các ngài cho thấy thế nào là đức tin. Tin
là chấp nhận tín thác hoàn toàn vào một điều bất định phía trước mà không có bất kỳ một bằng chứng bảo đảm nào ngoài lời hứa của Thiên Chúa. Tin là phó thác hoàn toàn và
để cho Thiên Chúa hành động trên cuộc đời mình theo như ý định nhiệm mầu của Ngài. Tin là để cho Thiên Chúa hướng dẫn đời mình theo chương trình yêu thương của Ngài. Mỗi Kitô hữu đều được mời gọi để nhìn lại đời sống đức tin của mình.
3/ Qua đoạn Tin Mừng Luca tường thuật lại biến cố Đức Mẹ và thánh Giuse
mang trẻ Giêsu lên đền thờ dâng lại cho Thiên Chúa, chúng ta nhận thấy nơi Thánh Gia một gương mẫu về đức tin, sự phó thác và đời sống cầu nguyện. Đứng trước những khủng hoảng lớn lao trong đời sống hôn nhân, các gia đình Kitô hữu được mời gọi chiêm ngắm Thánh Gia để nhìn lại đời sống đức tin
trong gia đình, sự tín thác nơi Thiên Chúa trong những lúc khó khăn, và biết dành thời gian cầu nguyện cùng nhau và cho nhau.
III. LỜI NGUYỆN
CHUNG:
Chủ tế: Anh chị em thân mến! Thiên Chúa là Cha rất nhân từ đã muốn Con của Người sinh ra và lớn lên trong một gia đình thánh, để nêu gương và mời gọi các gia đình hãy trở nên cung thánh của sự sống, tình thương và sự vâng phục ý Chúa. Chiêm ngắm Thánh Gia thất trong tâm tình ngợi khen và cảm tạ Chúa, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện:
1. Thánh Giuse và Mẹ Maria đã đem Chúa Giêsu hiến dâng cho
Thiên Chúa theo lề luật. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi thành phần của đại gia đình Hội Thánh luôn đồng tâm nhất trí với nhau trong bổn phận thờ phượng Thiên Chúa và trở nên nhân chứng cho Người.
2. Đức Giêsu chính là ơn cứu độ của Thiên Chúa và là ánh sáng chiếu soi muôn dân. Chúng ta cùng cầu xin Chúa luôn an ủi, nâng đỡ và hướng dẫn các gia đình trên khắp thế giới đang phải đau khổ hoặc bị khủng hoảng, để họ được bình an và hạnh phúc trong cuộc sống.
3. Cả ông Simêon và bà Anna đều chúc tụng Thiên Chúa và nói về Hài Nhi Giêsu. Chúng ta cùng cầu nguyện cho bậc làm cha mẹ trong các gia đình Công giáo biết quan tâm giáo dục đức tin cho
con cái mình bằng một đời sống gương mẫu trong mọi hoàn cảnh.
4. Con trẻ Giêsu lớn lên đầy khôn ngoan và trong ơn nghĩa của Thiên Chúa. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người trong cộng đoàn chúng ta không ngừng trưởng thành trong đức tin bằng một đời sống gắn bó mật thiết với Chúa và nỗ lực thực thi công bình bác ái.
Chủ tế: Lạy Chúa là Cha toàn năng, xin thương nhận lời chúng con cầu nguyện và ban xuống muôn ơn lành giúp các gia đình của chúng con trở nên những cộng đoàn thánh thiện và nhiệt tâm loan bao Tin Mừng theo gương Thánh Gia thất xưa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.
SCĐ
CHÚA NHẬT LỄ THÁNH GIA NĂM B
CHỦ ĐỀ
GIA
ĐÌNH GƯƠNG MẪU
"Bà Maria và Ông Giuse đem Con lên
Giêrusalem để tiến dâng cho Chúa"
(Lc 2,22)
Sợi chỉ
đỏ
- Bài
đọc I (Hc 3,3-7.14-17a) : "Chúa muốn con cái thảo kính cha mẹ"
- Đáp
ca (Tv 127) : "Hiền thê bạn như cây nho đầy hoa trái trong cửa trong nhà bạn"
- Tin
Mừng (Lc 2,22-40) : Thánh Giuse và Đức Maria dâng Đức Giêsu trong Đền thờ.
- Bài
đọc II (Cl 3,12-21) : Thánh Phaolô liệt kê những đức tính gia đình.
I. DÃN VÀO THÁNH LỄ
Con
Thiên Chúa đã sinh ra làm người và sống trong một gia đình. Gia đình của Ngài gồm
có Thánh Giuse, Đức Mẹ Maria và Ngài. Một gia đình rất thánh thiện, gương mẫu.
Hôm nay dâng lễ mừng kính Thánh Gia, chúng ta hãy học nơi các Ngài những đức
tính cần có trong cuộc sống gia đình, và chúng ta xin các Ngài ban ơn cho gia
đình chúng ta.
II.GỢI
Ý SÁM HỐI
-
Chúng ta hãy ăn năn sám hối vì những thiếu sót của chúng ta đối với những người
trong gia đình mình.
-
Chúng ta hãy ăn năn sám hối vì chưa dành chỗ xứng đáng cho Chúa trong gia đình
mình.
-
Chúng ta hãy ăn năn sám hối vì những gương xấu mà gia đình mình đã gây ra cho
những gia đình chung quanh.
III.
LỜI CHÚA
1.
Bài đọc I : Hc 3,3-7.14-17a
Huấn
ca là một tập sách luận bàn về cách sống khôn ngoan trong nhiều lãnh vực. Trong
đoạn này, tác giả, Ben Sira, đưa những lời khuyên về cách sống trong gia đình.
Điều quan trọng nhất là con cái phải thảo kính cha mẹ. Tác giả kể ra những ích
lợi của việc này :
- Việc
thảo kính cha mẹ sẽ đền bù được tội lỗi
- Người
thảo kính cha mẹ đến khi có con cái thì được con cái mình thảo kính.
- Người
thảo kính cha mẹ khi cầu nguyện sẽ được Chúa nhậm lời.
- Phải
thảo kính cha mẹ nhất là khi các ngài già yếu.
2.
Đáp ca : Tv 127
Tv
này được hát lúc hành hương lên Đền thờ Giêrusalem. Người tín hữu hành hương
tin chắc rằng ai sống công chính thì sẽ được Thiên Chúa ban phúc. Các ơn phúc
Chúa ban trước hết là những ơn cho cuộc sống gia đình : việc làm ăn có kết quả,
vợ con mạnh khoẻ, sống lâu v.v.
3.
Tin Mừng : Lc 2,22-40
Tường
thuật việc Thánh gia lên Đền thờ Giêrusalem để dâng con cho Thiên Chúa. Trong dịp
này, cụ ông Simêon và cụ bà Anna nói những lời tiên tri về tương lai của Đức
Giêsu.
Một số
điều đáng lưu ý :
-
Thánh gia là một gia đình nghèo (lễ vật của người nghèo), nhưng giữ luật đạo rất
chín chắn (luật thanh tẩy người mẹ sau khi sinh con, luật cắt bì cho con, luật
dâng con đầu lòng cho Thiên Chúa).
- Các
phần tử của Thánh gia rất hiệp nhất với nhau : tất cả đều cùng nhau lên Đền thờ
mặc dù luật không buộc như thế (chẳng hạn luật tẩy uế cho người mẹ chỉ buộc người
mẹ lên đền thờ thôi).
- Khi
đó cha mẹ Đức Giêsu chưa hiểu hết mầu nhiệm con mình. Bởi vậy, khi nghe Simêon
nói, hai ông bà "kinh ngạc".
4.
Bài đọc II : Cl 3,12-21
Thánh
Phaolô giảng về "nếp sống mới" của những người đã cùng chết và cùng sống
lại với Đức Giêsu. Nếp sống này gồm :
- Những
đức tính nhân bản : "Từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng
lẫn nhau và tha thứ cho nhau".
- Nền
tảng và nguồn gốc của những đức tính trên là chính Thiên Chúa : "Như Chúa
đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Trên hết mọi sự, anh
em hãy có đức yêu thương".
- Bí
quyết để sống được như trên là luôn suy gẫm Lời Chúa.
- Và
dịp tốt thường có để thực hành các đức tính ấy chính là trong gia đình.
IV. GỢI
Ý GIẢNG
*
1. Gia đình Nadarét và gia đình chúng ta
Gia
đình Nadarét vừa giống nhưng cũng vừa khác phần lớn gia đình chúng ta :
- Như
phần lớn gia đình chúng ta, gia đình Nadarét nghèo. Trong Tin Mừng ta tìm thấy
hai dấu chỉ tình trạng nghèo của các ngài : Khi đến Bêlem, Thánh Gia không đủ
tiền để thuê một chỗ trọ trong hàng quán nên phải ở tạm trong hang súc vật ;
khi đem con đầu lòng dâng trong đền thờ cùng với lễ vật theo luật định, Thánh
Gia chỉ dâng một đôi chim câu, là thứ lễ vật của người nghèo.
- Như
phần lớn gia đình chúng ta, gia đình Nadarét phải sinh nhai bằng chính sức lao
động của mình. Có lẽ các ngài không có vốn để đầu tư, buôn bán. Thánh Giuse và
Đức Giêsu kiếm tiền sinh sống bằng nghề thợ mộc.
- Như
phần lớn gia đình chúng ta, vì nghèo và vì theo nghề lao động, nên gia đình
Nadarét không được người ta coi trọng cho lắm. Mãi sau này khi Đức Giêsu đã
thôi làm ăn để đi rao giảng, thế mà nhiều người vẫn nhắc với giọng mỉa mai
"Ông ta là con bác thợ mộc".
Nhưng
gia đình Nadarét khác hầu hết gia đình chúng ta ở nhiều điểm : một là dù nghèo
nhưng không gian tham trộm cắp ; hai là dù nghèo nhưng không lục đục với nhau ;
ba là dù nghèo nhưng vẫn thu xếp công việc được để chu toàn mọi bổn phận trong
đạo.
Những
nét giống giữa gia đình Nadarét và gia đình chúng ta khiến chúng ta cảm thấy gần
gũi với Thánh gia, và nhớ đó chúng ta biết mình có thể học với các ngài ở
những điểm khác biệt với chúng ta.
*
2. Tương lai của đứa con gia đình
Trong
ngày lễ đặt tên cho Gioan Tẩy giả, bà con lối xóm đã đặt câu hỏi "Đứa trẻ
này rồi ra sẽ thế nào ?" (Lc 1,66). Đây là câu hỏi của mọi người làm cha mẹ.
Càng thương con bao nhiêu, câu hỏi đó càng là mối băn khoăn cho cha mẹ bấy
nhiêu, bởi vì cha mẹ thương con chỉ muốn cho con mình có một tương lai tốt đẹp,
nhưng tương lai ấy lại không do cha mẹ hoàn toàn lo liệu cho con được.
Cha mẹ
Đức Giêsu cũng thế. Bởi vậy, sau khi nghe cụ Simêon nói về tương lai của trẻ
Giêsu bằng những lời rất khó hiểu, Tin Mừng viết, "Cha mẹ Ngài đều kinh ngạc".
Nhưng
tương lai của đứa con không hoàn toàn không có phần của cha mẹ. Điều này rất rõ
trong trường hợp Đức Giêsu :
- Người
ta vẫn nói Ngài là "con bác thợ mộc" (Mc 6,3).
- Đức
Giêsu có thói quen cầu nguyện và sống với Chúa Cha. Thói quen này hẳn là Ngài
đã học được từ gia đình. Tin Mừng tuy nói rất ít về thời thơ ấu của Ngài, nhưng
cũng đủ cho ta thấy Thánh gia rất quan tâm chu toàn những bổn phận tôn giáo.
*
3. Dung mạo Chúa cứu thế
Hoàng
đế của một vương quốc hùng cường và thịnh vượng, một ngày kia đã triệu tập các
nghệ nhân từ khắp các nước đến dự một cuộc tranh tài. Cuộc thi mô tả dung mạo
hoàng đế.
Các
nghệ nhân Ấn Độ đến với đầy đủ dụng cụ và các loại đá hoa cương quí hiếm. Các
nghệ nhân Acmêni mang theo một loại đất sét đặc biệt. Các nghệ nhân Ai cập mang
đủ loại đồ nghề và khối cẩm thạch hảo hạng.
Sau
cùng, người ta hết sức ngạc nhiên vì phái đoàn nghệ nhân Hy Lạp chỉ mang đến vỏn
vẹn một gói thuốc đánh bóng.
Mỗi
phái đoàn thi thố tài năng của mình trong một phòng riêng. Khi thời gian ấn định
đã hết, hoàng đế đến từng gian phòng để thưởng thức các tác phẩm. Vua hết lời
khen ngợi bức chân dung của mình do các họa sĩ Ấn Độ vẽ. Ông càng thán phục hơn
khi nhìn ngắm các pho tượng của chính ông mà các người Ai Cập và Acmêni điêu khắc.
Sau
cùng, đến phòng trưng bày của người Hy Lạp, hoàng đế không nhìn thấy gì cả, duy
chỉ có bức tường của căn phòng được đánh bóng đến độ khi nhìn vào ông thấy chân
dung mình hiện ra từng nét.
Dĩ
nhiên, giải nhất thuộc về các nghệ nhân Hy Lạp. Bởi vì họ đã hiểu rằng chỉ có
hoàng đế mới họa được dung mạo của chính mình.
*
Muốn
họa lại dung mạo Đức Kitô, chúng ta cần phải đánh bóng lòng mình cho sạch mọi vết
nhơ, mọi tì ố của tâm hồn. Một khi đã nên sáng bóng như gương, chúng ta sẽ tiếp
nhận khuôn mặt rạng ngời của Chúa.
Khi Đức
Maria và Thánh Giuse dâng Chúa Hài Nhi trong đền thánh, có biết bao tư tế và luật
sĩ thông thái, giỏi giang, am tường Kinh Thánh, nhưng họ đã không nhận ra Chúa.
Duy chỉ có ông Simêon, và bà Anna đã nhận ra được dung mạo của Người.
Simêon
và Anna đã dâng hiến trọn vẹn con người và cuộc đời, đã mài bóng đời mình bằng
đạo hạnh và khiêm tốn, đã tôn thờ Chúa trong tin yêu và phó thác. Vì thế, dung
mạo của Đấng Cứu Thế đã tỏ hiện sáng ngời trước mặt các ngài.
Simêon
và Anna đã đón nhận Đấng Cứu Thế như những người nghèo hèn bé nhỏ. Các ngài đã
được bồng ẵm Chúa, được thay mặt cho cả nhân loại nói lời đầu tiên tôn vinh
Chúa đến cứu độ con người.
Lễ
Thánh Gia mời gọi chúng ta nhìn vào các gia đình. Truyền thống gia đình ngày
càng sút giảm. Ly thân, ly dị, trẻ em lang thang, thanh niên nổi loạn, phá
thai, mại dâm, ma tuý ngày càng gia tăng. Gia đình là nền tảng của xã hội. Nếu
không có những gia đình lành mạnh thì không thể có một xã hội tốt đẹp. Cuộc sống
của gia đình phải tỏa hương thơm của thiên đàng.
Hơn
bao giờ hết, các gia đình chúng ta phải nhìn lên Thánh gia thất : một gia đình
lý tưởng, đạo đức, yêu thương và chăm lo cho nhau. Thánh Luca đã ghi lại hình ảnh
rất đẹp của Thánh Gia như sau : "Đức Giêsu đi xuống cùng với cha mẹ, trở về
Nadaret và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người hằng ghi nhớ tất cả những điều
ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi
người thương mến" (Lc.2,51-52).
Xã hội
chúng ta không thiếu các mẫu gương đạo hạnh : Louis Pasteur, nhà bác học thời
danh, đã tâm sự khi đặt tấm bia kỷ niệm tại gia đình ông : "Kính thưa cha
mẹ thân yêu của con đã khuất bóng, các ngài đã khiêm tốn sống trong nếp nhà bé
nhỏ này. Con mắc nợ công ơn cha mẹ về hết mọi điều…"
Federic
Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo hội Pháp cũng tâm sự : "Những
lời khuyên nhủ dịu dàng của mẹ tôi, gương đạo đức, lòng nhiệt thành hâm nóng
linh hồn nguội lạnh của tôi, khuyến khích nâng đỡ sức mạnh cho tôi. Chính nhờ
giáo huấn của người mà tôi có đức tin".
Có lẽ
thế giới biết nhiều đến Thủ tướng Thái Lan, nhưng ít ai biết được cậu Chuam
Leekpai còn là một người con giàu cảm xúc, hiếu thảo, và luôn nghĩ đến bậc sinh
thành. Ông nói với mẹ : "Giờ đây, con đã là một chính trị gia và con không
còn thời gian về thăm mẹ thường xuyên nữa. Điều này làm con cứ áy náy mãi. Tuổi
mẹ càng cao thì nỗi lo của con càng nhiều. Do đó con cố gắng tìm mọi cơ hội về
thăm mẹ".
Đức
Piô XI trong thông điệp về Giáo dục Kitô giáo có viết : "Nền giáo dục hữu
hiệu nhất và bền bỉ nhất là nền giáo dục được nhận lãnh từ một gia đình Kitô
giáo có qui củ và khuôn phép. Những gương lành của cha mẹ và của những người
trong gia đình càng chiếu tỏa và bền bỉ, thì kết quả của giáo dục càng lớn lao".
*
Lạy Đức
Giêsu, xin dạy chúng con biết theo gương Chúa, luôn sống trung hiếu với Cha
trên trời, thảo kính với ông bà cha mẹ, và sống hết tình với anh chị em chung
quanh.
Xin
cho chúng con luôn biết đánh bóng đời mình, bằng tấm lòng khiêm tốn và đạo hạnh,
bằng việc tôn thờ Chúa trong tin yêu và phó thác, để dung mạo của Chúa ngày
càng tỏ hiện sáng ngời trong cuộc đời chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như
Thầy đã yêu")
*
4. Con cái
Con
cái các bạn không phải là con cái của các bạn
Chúng
đến qua các bạn chứ không phải từ các bạn.
Mặc
dù chúng ở với các bạn nhưng chúng không thuộc về các bạn.
Các bạn
có thể cho chúng tình thương nhưng không thể cho chúng ý tưởng, bởi vì chúng có
những ý tưởng riêng của chúng.
Các bạn
có thể lo nơi ăn chốn ở cho thân xác chúng chứ không thể cho linh hồn chúng, vì
linh hồn chúng ở một nơi thuộc tương lai mà các bạn không thể đến thăm, ngay cả
trong giấc mơ.
Các bạn
có thể cố gắng để giống như chúng, nhưng đừng cố bắt chúng giống như các bạn.
Bởi
vì cuộc sống không đi giật lùi và cũng không ngừng mãi ở ngày hôm qua.
Các bạn
là những chiếc cung, và những mũi tên từ đó phóng đi chính là con cái của các bạn.
(Kahil Gibran)
*
5. Đạo hiếu
Bài
trích sách Huấn Ca (bài đọc I, được chỉ định đọc trong năm A, nhưng cũng có thể
đọc trong năm B và C) có câu : "Ai thờ Cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ
thì tích trữ kho báu"
Những
từ mà Thánh Kinh dùng rất quen thuộc với người Việt Nam. Thí dụ như câu ca dao
: "Một lòng thờ mẹ, kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con".
"Thờ"
và "kính" chính là những việc làm trong tôn giáo. Hiếu thảo với cha mẹ
chính là Đạo.
Câu
Huấn ca và câu ca dao trên giúp ta ý thức rằng hiếu thảo với cha mẹ không chỉ
là một tình cảm, cũng không phải chỉ là một lẽ công bình, mà là một Đạo. Mà lỗi
đạo tức là phạm tội chứ không chỉ là một sự thiếu sót.
V. LỜI
NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã làm cho Thánh gia trở
nên đền thánh của sự sống, của tình thương, và của niềm vâng phục ý Chúa. Hôm
nay mừng lễ Thánh Gia, chúng ta đặc biệt hướng về các gia đình và dâng lời cầu
nguyện :
1.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi người trong Hội thánh là gia đình của Chúa /
luôn cố gắng sống hiệp thông với nhau / để làm chứng cho tình yêu Chúa cho thế
giới.
2.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho các bậc làm cha mẹ và các nhà giáo dục / biết hướng
dẫn và cộng tác với các con em mình / để xây dựng gia đình thành một tổ ấm đầy
tình yêu thương.
3.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những người không gia đình / hoặc sống trong gia
đình đang bị khủng hoảng xáo trộn / được ơn can đảm để nhẫn nhục chịu đựng / và
tích cực góp phần hàn gắn lại những gì đã tan vỡ.
4.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những người làm cha mẹ cũng như làm con cái trong
xứ đạo chúng ta / luôn ý thức trách nhiệm của mình đối với hạnh phúc gia đình /
để biết cởi mở, đối thoại, thông cảm và công tác với nhau theo thánh ý Chúa.
Chủ tế : Lạy Chúa, xin chấp nhận những lời cầu
chúng con dâng lên Chúa nhân dịp lễ Thánh Gia, để nhờ ơn Chúa giúp, mỗi người
trong gia đình đều cộng tác làm cho gia đình trở nên Đền Thánh của sự sống của
tình thương, và niềm vâng phục ý Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô.
VI.
TRONG THÁNH LỄ
- Trước
kinh Lạy Cha : Ngoài gia đình tự nhiên, người kitô hữu chúng ta còn có được một
gia đình siêu nhiên trong đó Thiên Chúa là Cha, mọi người là anh em với nhau,
và Đức Giêsu là anh cả. Trong tình nghĩa gia đình ấy, chúng ta hãy dâng lên
Thiên Chúa lời kinh Lạy Cha.
- Trước
lúc Rước lễ : Thánh lễ là một bữa ăn gia đình. Chúa là gia trưởng, các tín hữu
là con cái ngồi quanh bàn ăn. Phúc cho những ai được mời vào bàn ăn gia đình ấy.
VII.
GIẢI TÁN
Sau
khi được khuyến khích bởi tấm gương gia đình Nadarét, giờ đây anh chị em trở về
sống với gia đình mình và các gia đình hàng xóm. Anh chị em hãy sống theo gương
thánh gia. Chúc anh chị em bình an.
Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI
Lectio Divina: Lễ Thánh Gia (B)
Chúa Nhật, 28 Tháng 12, 2014
Đấng
được mọi người trông ngóng
Tiến
dâng Chúa Hài Đồng trong Đền Thờ
Lc
2:22-40
1. Lời nguyện mở đầu:
Lạy
Thiên Chúa, Người là Đấng Tạo Hóa và là Cha của chúng con, Chúa đã muốn Con Một
Chúa, Đấng đã hiện hữu trước khi thế gian được tạo dựng, phải trở thành một
thành viên của gia đình nhân loại.
Xin
Chúa hãy nhen nhúm lại trong chúng con lòng biết ơn về món quà của sự sống, để
cho các bậc cha mẹ có thể tham dự vào sự sinh sản của tình yêu Chúa, để người
già có thể truyền lại cho thế hệ con cháu sự khôn ngoan trưởng thành của họ, và
con cháu có thể lớn lên trong sự khôn ngoan, lòng đạo đức và ân sủng, mọi người
ca tụng tôn vinh danh thánh Chúa. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
2. Bài đọc: Luca
2:22-40
22 Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các
ngài theo luật Môisen, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến
dâng cho Chúa,23 như đã chép trong Luật Chúa rằng: "Mọi
con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa",24 và
cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là “một đôi chim gáy hay một cặp bồ
câu non.”
25 Hồi ấy ở Giêrusalem, có một người
tên là Simêôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi
của Israel, và Thánh Thần hằng ngự trên ông.26 Ông đã được
Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy
Đấng Kitô của Đức Chúa.27 Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền
Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền
liên quan đến Người,28 thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc
tụng Thiên Chúa rằng:
29 "Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
30 Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
31 Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
32 Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Israel Dân Ngài."
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
30 Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
31 Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
32 Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Israel Dân Ngài."
33 Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những
lời ông Simêôn vừa nói về Người.34 Ông Simêôn chúc phúc cho hai
ông bà, và nói với bà Maria, mẹ của Hài Nhi: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé
này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu
hiệu cho người đời chống báng; 35 và như vậy, những ý nghĩ
từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn
bà."
36 Lại cũng có một nữ ngôn sứ tên là
Anna, con ông Phanuel, thuộc chi tộc Asê. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất
giá, bà đã sống với chồng được bảy năm,37 rồi ở góa, đến nay đã
tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ
phượng Thiên Chúa.38 Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm
tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa
cứu chuộc Giêrusalem.
39 Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc
như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Nagiarét, miền
Galilê. 40 Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh,
đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.
3. Giây phút thinh lặng cầu
nguyện
- Để
Lời Chúa có thể ngự vào lòng chúng ta và để cho lời ấy soi sáng đời sống chúng
ta;
- Để
trước khi chúng ta đưa bất kỳ ý kiến nào, xin cho ánh sáng Lời Chúa có thể tỏa
sáng và bao phủ với mầu nhiệm về sự hiện diện sống động của Chúa.
4. Một vài câu hỏi gợi ý
Để
giúp chúng ta trong việc suy gẫm cá nhân.
a) Tại sao Đức Giêsu, Con Một của
Đấng Tối Cao, và Đức Maria mẹ Người, đã được thụ thai không vướng tội lỗi, mà lại
phải tuân theo các lề luật của Môisen? Có phải bởi vì Đức Maria chưa
nhận thức được sự vô nhiễm và thánh thiện của bà không?
b) Lời nói và thái độ của ông
Simêon và bà tiên tri Anna có ý nghĩa đặc biệt nào không? Cử chỉ và
sự vui mừng của họ có làm gợi nhớ lại phong thái của các tiên tri cổ xưa không?
c) Làm thế nào chúng ta có thể
giải thích được câu “một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn”: đó có phải
là việc xé nát lương tâm trước những thách thức và sự phong phú của Chúa Giêsu
không? Hay đó chỉ là nỗi đau lòng của Đức Mẹ?
d) Cảnh này có thể nào có một ý
nghĩa gì đó cho các bậc phụ huynh ngày nay không: về ý thức tôn giáo
của con cái họ; về kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mỗi con cái của Người; về
những nỗi sợ hãi và đau khổ mà bậc cha mẹ mang trong tâm tư những khi họ nghĩ đến
lúc con cái họ lớn khôn?
5. Chìa khóa dẫn đến bài
đọc
Dành
cho những ai muốn đào sâu hơn vào trong bài Tin Mừng.
a) Như
đã chép trong Luật Môisen/Lề Luật Chúa. Đây là một loại điệp khúc được lặp đi lặp lại
nhiều lần. Thánh sử Luca hòa lẫn hai hệ thống lề luật mà không có bất
kỳ một sự phân biệt nào. Luật thanh tẩy người mẹ đã được dự kiến
trongSách Lêvi (12:2-8) và đã được định là bốn mươi ngày sau khi
lâm bồn. Cho đến lúc ấy, người phụ nữ không được phép đến gần những
nơi thiêng liêng, và nghi thức được đi kèm với lễ vật là một con vật nhỏ. Nhưng
lễ thánh hiến con đầu lòng đã được quy định trong sách Xuất Hành chương
13:11-16, và được xem như là một loại “tiền chuộc” để tưởng nhớ cử chỉ cứu rỗi
của Thiên Chúa khi Người giải thoát dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập. Vì
việc này cũng dâng lên lễ vật là một sinh vật nhỏ. Trong cả hai trường
hợp này, các bậc cha mẹ dường như là trong tiến trình dâng/thánh hiến con trai
của họ như đã làm với vật hiến tế và chi tộc Lêvi, trong khi nhờ vào con người
của ông Simêon và bà Anna, có vẻ như chính Thiên Chúa là Đấng dâng/hiến tế Con
Người để cứu độ nhân loại.
b) Ông Simêon và bà Anna: Đây
là những nhân vật đầy đủ giá trị tiêu biểu. Vai trò của họ là sự
công nhận, xuất phát từ việc soi sáng lẫn việc làm của Chúa Thánh Thần và một
cuộc sống đã sống trong sự mong đợi và đức tin. Cách đặc biệt, ông
Simêon được mô tả như là một người hoàn toàn đắm chìm trong sự chờ
đợi (prodekòmenos), và là kẻ bước tới để chào đón. Ông cũng
xuất hiện để tuân giữ lề luật, lề luật của Chúa Thánh Thần, Đấng hướng dẫn ông
về phía hài nhi trong đền thờ. Bài ca vịnh ông công bố biểu lộ khuynh
hướng sống cho người khác (pro-existentia) của ông, ông đã
sống để chờ đến thời khắc này và giờ đây ông rút lui để cho những người khác có
thể nhìn thấy ánh sáng và ơn cứu độ đến cho dân tộc Israel cũng như dân ngoại. Bà
Anna hoàn thành bức tranh, bằng vào số tuổi của bà (con số tượng
trưng: 84 = 7 x 12; mười hai chi tộc Israel; hoặc 84 – 7 = 77, con số
toàn thiện kép), nhưng hơn hết cả là bằng lối sống của bà (ăn chay và cầu nguyện)
và bằng lời công bố của bà cho tất cả những ai “nhìn về tương
lai”. Bà được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần về việc nói tiên tri, phụng
thờ Chúa và sự trinh khiết trong lòng của bà. Ngoài ra, bà thuộc về
một chi tộc nhỏ bé nhất, chi tộc Asê, một dấu chỉ cho thấy rằng những người nhỏ
bé và mong manh là những người có khuynh hướng nhận ra Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế,
hơn. Cả hai ông bà lão này – trông giống như là một cặp đôi thuở tạo
dựng trời đất – là những biểu tượng đẹp nhất của Do Thái giáo, của thành
Giêrusalem trung thành và hiền lành, đang chờ đợi và vui mừng và từ bây giờ sẽ
để cho nguồn ánh sáng mới lan tỏa.
c) Một
lưỡi gươm sẽ đâm thấu: thông thường những chữ này được hiểu như có
nghĩa là Đức Maria sẽ chịu đau khổ, một cảnh được thấy rõ ràng là hình ảnh Đức
Mẹ Sầu Bi. Thay vào đó, chúng ta cần xem Đức Mẹ như là một biểu tượng
của dân tộc Israel. Ông Simêon linh cảm được cảnh tượng dân tộc của
ông sẽ bị chia rẽ sâu xa bởi lời sắc bén và hằng sống của Đấng Cứu Thế (xem Lc
12:51-53). Đức Maria đại diện cho đường đi: bà phải tín
thác, nhưng sẽ phải trải qua những thời gian đau thương và đen tối, sự im lặng
đớn đau và cố gắng. Câu chuyện của Đấng Mêssia đau khổ sẽ làm cho mọi
người đau đớn, ngay cả đối với Đức Mẹ. Người ta không thể đi theo
ánh sáng mới của toàn thế giới mà không phải trả giá, mà không phải bị khích động
để chọn các quyết định đầy rủi ro, mà không phải được tái sinh từ trời và trong
sự mới mẻ. Nhưng hình ảnh của “lưỡi gươm đâm thấu” này, về một hài
nhi sẽ “làm vấp ngã” và giao động những trái tim khỏi sự thờ ơ của họ, thì
không thể bị tách rời khỏi hành động đầy ý nghĩa của hai cụ già: một
người là ông Simêon, kẻ đã bế Chúa Hài Đồng trên tay mình để cho thấy rằng đức
tin là một sự gặp gỡ và vòng tay ôm, chứ không phải là một lý thuyết suông; còn
người kia, cụ bà Anna, đảm nhận vai trò công bố và nhen nhóm lại ánh sáng rực rỡ
trong lòng tất cả những ai “đã nhìn về phía” Người.
d) Đời
sống hằng ngày, sự hiển linh của Thiên Chúa: Cuối cùng, thật là thú vị khi nhận thấy
rằng toàn bộ câu chuyện nhấn mạnh đến hoàn cảnh đơn sơ và chất phác nhất: một
cặp vợ chồng trẻ với một đứa con trong tay, một ông già vui mừng và ôm ấp đứa
bé, một bà lão cầu nguyện và nói tiên tri, những kẻ lắng nghe dường như là những
người đang gián tiếp tham gia. Ở phần cuối của đoạn Tin Mừng, chúng
ta cũng có một cái nhìn thoáng qua về làng Nagiarét, về sự phát triển của đứa
trẻ trong một bối cảnh thông thường, ấn tượng về một đứa trẻ có năng khiếu khác
thường cùng với sự khôn ngoan và tốt lành. Chủ đề của sự khôn ngoan
được đan dệt vào trong tấm vải của đời sống bình thường và lớn lên trong một bối
cảnh của ngôi làng, để cho câu chuyện dường như treo lơ lửng, và nó sẽ được nhắc
lại lần nữa đúng với chủ đề sự khôn ngoan của cậu bé ở giữa các luật sĩ trong đền
thờ. Thật vậy, đây là cảnh kế tiếp ngay sau đây (Lc 2:41-52).
6. Thánh Vịnh 122
Vui
dường nào khi thiên hạ bảo tôi:
"Ta cùng trẩy lên đền thánh CHÚA! "
Và giờ đây, Giêrusalem hỡi,
cửa nội thành, ta đã dừng chân.
Giêrusalem khác nào đô thị
được xây nên một khối vẹn toàn.
Từng chi tộc, chi tộc của CHÚA,
trẩy hội lên đền ở nơi đây,
để danh CHÚA, họ cùng xưng tụng,
như lệnh đã truyền cho Israel.
Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử,
ngai vàng của vương triều Đavít.
Hãy nguyện chúc Giêrusalem được thái bình,
rằng: "Chúc thân hữu của thành luôn thịnh đạt,
tường trong lũy ngoài hằng yên ổn,
lâu đài dinh thự mãi an ninh."
Nghĩ tới anh em cùng là bạn hữu,
tôi nói rằng: "Chúc thành đô an lạc."
Nghĩ tới đền thánh CHÚA, Thiên Chúa chúng ta thờ,
tôi ước mong thành được hạnh phúc, hỡi thành đô.
7. Lời nguyện kết
"Ta cùng trẩy lên đền thánh CHÚA! "
Và giờ đây, Giêrusalem hỡi,
cửa nội thành, ta đã dừng chân.
Giêrusalem khác nào đô thị
được xây nên một khối vẹn toàn.
Từng chi tộc, chi tộc của CHÚA,
trẩy hội lên đền ở nơi đây,
để danh CHÚA, họ cùng xưng tụng,
như lệnh đã truyền cho Israel.
Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử,
ngai vàng của vương triều Đavít.
Hãy nguyện chúc Giêrusalem được thái bình,
rằng: "Chúc thân hữu của thành luôn thịnh đạt,
tường trong lũy ngoài hằng yên ổn,
lâu đài dinh thự mãi an ninh."
Nghĩ tới anh em cùng là bạn hữu,
tôi nói rằng: "Chúc thành đô an lạc."
Nghĩ tới đền thánh CHÚA, Thiên Chúa chúng ta thờ,
tôi ước mong thành được hạnh phúc, hỡi thành đô.
7. Lời nguyện kết
Lạy
Cha, chúng con ngợi khen và chúc tụng Cha bởi vì nhờ Con Cha, được sinh ra bởi
một người phụ nữ do việc làm của Chúa Thánh Thần, được sinh ra theo lề luật, đã
cứu chuộc chúng con khỏi lề luật và Cha đã làm đầy cuộc sống chúng con với ánh
sáng và niềm hy vọng mới mẻ. Nguyện xin cho gia đình chúng con hân
hoan chào đón và trung thành với chương trình của Cha, nguyện xin cho những người
trong gia đình chúng con giúp đỡ và duy trì trong con cái họ những giấc mơ và sự
nhiệt tình mới, xin Cha ấp ủ chúng trong sự dịu dàng khi chúng yếu ớt mong
manh, xin Cha dạy dỗ chúng trong tình yêu dành cho Cha và cho tất cả tha
nhân. Lạy Cha, tất cả mọi danh dự và vinh quang đều quy về Cha.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét