01/01/2018
Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa.
Lễ Trọng.
Ngày thế giới cầu cho hoà bình.
Bài Ðọc I: Ds 6, 22-27
"Họ sẽ kêu cầu
danh Ta trên con cái Israel và Ta sẽ chúc lành cho chúng".
Trích sách Dân Số.
Chúa phán cùng Môsê rằng:
"Hãy nói với Aaron và con cái nó rằng: Các ngươi hãy chúc lành cho con cái
Israel; hãy nói với chúng thế này: "Xin Chúa chúc lành cho con, và gìn giữ
con. Xin Chúa tỏ nhan thánh Chúa cho con, và thương xót con. Xin Chúa ghé mặt lại
cùng con, và ban bằng yên cho con". Họ sẽ kêu cầu danh Ta trên con cái
Israel, và Ta sẽ chúc lành cho chúng".
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 66, 2-3. 5.
6 và 8
Ðáp: Xin Thiên Chúa xót thương và ban phúc lành cho
chúng con (c. 2a).
Xướng: 1) Xin Thiên
Chúa xót thương và ban phúc lành cho chúng con; xin chiếu giãi trên chúng con
ánh sáng tôn nhan Chúa, để trên địa cầu người ta nhìn biết đường lối của Ngài,
cho chư dân thiên hạ được biết rõ ơn Ngài cứu độ. - Ðáp.
2) Các dân tộc hãy vui
mừng hoan hỉ, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản các nước địa
cầu. - Ðáp.
3) Chư dân, hãy ca tụng
Ngài; thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài! Xin Thiên Chúa ban phúc
lành cho chúng con, và cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ Ngài. - Ðáp.
Bài Ðọc II: Gl 4, 4-7
"Thiên Chúa đã
sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ nữ".
Trích thư Thánh Phaolô
Tông đồ gửi tín hữu Galata.
Anh em thân mến, khi
đã tới lúc thời gian viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Ngài sinh hạ bởi người phụ
nữ, sinh dưới chế độ Luật, để cứu chuộc những người ở dưới chế độ Luật, hầu cho
chúng ta được nhận làm dưỡng tử. Sở dĩ vì anh em được làm con, Thiên Chúa đã
sai Thần Trí của Con Ngài vào tâm hồn chúng ta, kêu lên rằng:
"Abba!", nghĩa là "Lạy Cha!" Thế nên, bạn không còn phải là
tôi tớ, nhưng là con; mà nếu là con, tất bạn cũng là người thừa kế, nhờ ơn
Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Alleluia: Dt 1, 1-2
Alleluia, alleluia! -
Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha
ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy
chúng ta nơi người Con. - Alleluia.
Phúc Âm: Lc 2, 16-21
"Họ đã gặp thấy
Maria, Giuse và hài nhi... và tám ngày sau người ta gọi tên Người là
Giêsu".
Tin Mừng Chúa Giêsu
Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, các mục tử ra
đi vội vã đến thành Bêlem, và gặp thấy Maria, Giuse và hài nhi mới sinh nằm
trong máng cỏ. Khi thấy thế, họ hiểu ngay lời đã báo về hài nhi này. Và tất cả
những người nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục tử thuật lại cho họ.
Còn Maria thì ghi nhớ
tất cả những việc đó và suy niệm trong lòng. Những mục tử trở về, họ tung hô ca
ngợi Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và đã xem thấy, đúng như lời đã báo cho
họ.
Khi đã đủ tám ngày,
lúc phải cắt bì cho con trẻ, thì người ta gọi tên Người là Giêsu, tên mà thiên
thần đã gọi trước khi con trẻ được đầu thai trong lòng mẹ.
Ðó là lời Chúa.
Suy Niệm: Tâm Tình Hòa
Bình
Những bài Kinh Thánh
chúng ta vừa nghe đọc cho thấy Lễ này có nhiều khía cạnh. Từ ngàn xưa khi mừng
Lễ Chúa Giáng Sinh, Dân Chúa vẫn chú tâm đến Ðức Mẹ và không ngớt chiêm ngưỡng
khuôn mặt của Người nơi máng cỏ. Có thể nói, Mùa Giáng sinh cũng là mùa lễ Ðức
Mẹ. Nhưng riêng ngày 1 tháng Giêng hôm nay, Phụng vụ nhiều khi lúng tún: khi
thì chú trọng đến việc cắt bì và đặt tên cho Hài Nhi, khi lại muốn tôn kính đặc
biệt Ðức Thánh Mẫu. Ðức Phaolô VI lại thêm cho ngày này một ý nghĩa xã hội và đặt
tên là Ngày Hòa Bình Thế Giới. Suy nghĩ của chúng ta có lẽ nên bao gồm cả ba
khía cạnh đó để Ngày Lễ hôm nay được cử hành một cách phong phú.
1. Cắt Bì Và Ðặt Tên
Cho Hài Nhi
Trong Thánh Lễ Nửa Ðêm
Giáng sinh, Phụng vụ đọc cho ta nghe bài Tin Mừng Luca. Tác giả thuật lại câu
chuyện Chúa ra đời một cách chính xác khiến ta thấy rõ lịch sử tính của Tin Mừng.
Nhưng Luca đã dùng một từ ngữ, mà những người có kiến thức đạo đức nông cạn đã
không hiểu gì. Luca nói: Ðức Maria đã sinh con đầu lòng, lấy khăn bọc lại rồi đặt
vào máng cỏ. Có người đã nói: vì sao lại nói là "con đầu lòng"? Ðức
Maria có sinh người con nào khác nữa đâu! Tốt hơn và chính xác hơn nên nói là
"Con Một". Suy nghĩ như thế cũng đúng thôi, và khoa học đấy,nhưng lại
không đạo đức như Luca là một tác giả Sách Thánh. Chữ "Con đầu lòng"
dùng trong Tin Mừng gợi lên nhiều âm vang trong Cựu Ước, đặc biệt các đoạn sách
liên quan tới việc Chúa đưa dân ra khỏi Aicập. Ngày ấy, thần sứ nhà Trời đã đi
qua nước này và giết hết các con trai đầu lòng người Aicập và bỏ qua các con
trai đầu lòng người Dothái. Từ đó, cả dân được cứu vớt được coi như con đầu
lòng của Chúa và mọi con trai đầu lòng người Dothái phải được hiến thánh cho
Ngài để trở thành của Ngài, đến nỗi gia đình phải dâng một đôi chim hay một con
chiên nhỏ cho Ðền Thờ để thế lại rồi mới được đem đứa con đầu lòng về lại gia
đình.
Vậy, khi dùng từ ngữ
"con trai đầu lòng" để nói về Hài Nhi mà Ðức Maria vừa sinh ra, Luca
muốn cho chúng ta nhìn thấy ngay Hài Nhi về phương diện đạo đức. Ðây là Hài Nhi
thánh, Hài Nhi của dân thánh, Hài Nhi được hiến thánh, là Con của Thiên Chúa.
Nhất là Luca đã viết trong bài Truyền tin rằng: Thánh Thần đến phủ bóng trên Ðức
Maria; nên Trẻ Người sinh ra sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Thế
nên Luca đã không dùng từ ngữ "Con Một" để nói về Hài Nhi Ðức Maria vừa
sinh ra; ông đã dùng từ ngữ "con đầu lòng" để bao trùm máng cỏ trong
một bầu khí thánh thiện đạo đức.
Và chúng ta cũng phải
nhìn việc cắt bì và đặt Tên cho Hài Nhi trong bầu khí thánh thiện đạo đức ấy. Mọi
ý nghĩa tò mò đều không xứng đáng. Người Dothái cử hành ngày thứ 8 này sau khi
đứa trẻ sinh ra, một cách thánh thiện lạ lùng. Họ ý thức đâu là buổi lễ liên kết
gia đình, dòng dõi họ vào Giao ước; họ được gắn liền với Thiên Chúa để Yavê là
Chúa của họ và họ là dân và con của Ngài ở giữa mọi dân khác chỉ là dân ngoại.
Gia đình Hài Nhi ở Bêlem còn cử hành ngày hôm nay đạo đức hơn nữa. Vì cả Yuse lẫn
Maria sẽ phải đặt Tên cho Con Trẻ là Yêsu, như thiên thần đã dạy. Làm công việc
này là vâng theo Ý Chúa, là thực hiện chương trình cứu độ của Ngài. Ngày hôm nay
đáng dùng để suy nghĩ về các Ngài và đặc biệt về Ðức Maria.
2. Ðức Maria, Mẹ Thiên
Chúa
Còn tước hiệu nào hợp
hơn để nói về Ðức Maria trong hoàn cảnh này bằng tước hiệu Mẹ Thiên Chúa? Dĩ
nhiên những lạc giáo ở những thế kỷ III-IV đã khiến Phụng vụ nhấn mạnh đến khía
cạnh này. Nhưng như vậy cũng chỉ đúng với sự thật thôi! Nhìn Ðức Maria nơi máng
cỏ, ai không thấy Người là Mẹ? Và sở dĩ máng cỏ được chúng ta chú ý và các thế
hệ loài người nhìn ngắm, là vì Hài Nhi nằm đó không phải là một trẻ thường. Cả
Luca, cả Yoan và cả Matthêô chỉ nói về Hài Nhi này như là một Trẻ Thánh. Luca
dù tả chính xác câu chuyện Chúa sinh ra với những chi tiết thật cụ thể, vẫn gọi
Hài Nhi là "con đầu lòng" như chúng ta đã nói ở trên và vẫn thêm cả một
khúc trong bài tường thuật để làm nổi bật tính cách thần linh trong việc Giáng
sinh này. Yoan thì rõ ràng xác định: Hài Nhi chính là Ngôi Lời trở thành nhục
thể. Và chúng ta cử hành Phụng vụ Giáng sinh để cùng với các thiên thần trên trời
thờ lạy người Con mà Chúa Cha vừa sinh ra ở đời. Vậy, Hài Nhi nơi máng cỏ đã là
Ðấng Thánh, là Con Thiên Chúa và là chính Ngôi Lời Thiên Chúa hóa thân làm người,
thì Ðức Maria, mẹ Người, cũng thật là Thánh Mẫu và là Mẹ Thiên Chúa.
Ðừng sợ tước hiệu này
xúc phạm đến Thiên Chúa Cao Cả. Ngài đã chấp nhận giáng trần để trở nên như
chúng ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi; Ngài chấp nhận mọi luật lệ sinh sống, đau
khổ và tử nạn, thì tại sao ta lại sợ nói phạm đến Ngài khi bảo Ngài là con của
một người mẹ? Ngài đã gọi chúng ta là anh em và muốn là bạn hữu của mọi người;
và chúng ta lấy đó làm vinh dự, thì chúng ta càng không có lý khi không muốn
tuyên xưng Ðức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Suy nghĩ kỹ, chúng ta chỉ có thể thấy
đây là một vinh dự lớn lao cho một người trong loài người chúng ta. Chúng ta phải
hân hoan chúc tụng Mẹ là Ðấng đầy ơn phúc. Chúng ta cảm mến Mẹ và nhất là muốn
theo gương Mẹ để có tâm hồn, tâm tình và thái độ đạo đức như Mẹ.
3. Tâm Tình Hòa Bình
Trong bài Tin Mừng
Luca hôm nay, Mẹ hiện ra như là một từ mẫu ghi sâu tất cả những điều về Con và
suy đi nghĩ lại trong lòng. Chúng ta quen nhìn thái độ ấy một cách đạo đức và
có lý để coi Mẹ như là gương mẫu về sự chiêm niệm và cầu nguyện. Nhưng chúng ta
cũng đừng quên nhìn thái độ ấy một cách tự nhiên hơn, để thấy Ðức Maria là một
bà mẹ như hết mọi bà mẹ, ghi nhớ tất cả những điều gì về Con và gẫm suy những
điều đó trong lòng. Quả thật, người mẹ nào không tự hỏi về tương lai của đứa
con? Bất cứ dấu hiệu nào cũng khiến người mẹ suy nghĩ. Ðức Maria không suy đi
nghĩ lại sao được khi thấy các mục đồng đến thăm và kể chuyện về việc các thiên
thần hiện ra ban đêm? Và Người có thể nào không suy nghĩ về tiếng
"Yêsu" mà từ nay theo lệnh sứ thần, Người sẽ dùng để gọi Con mình.
Chính sứ thần đã giải thích trong buổi Truyền tin: "Bà sẽ gọi Con Trẻ là
Yêsu. Người sẽ làm lớn và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Chính Chúa là Thiên
Chúa sẽ ban cho Người ngai vua Ðavit cha Người và Người sẽ cai trị trong nhà
Yacob đến muôn đời". Những lời đó không đơn sơ dễ hiểu. Nội dung chắc chắn
vô cùng phong phú. Maria dĩ nhiên phải suy đi nghĩ lại.
Hôm nay các mục đồng lại
kể thêm về các lời của thiên sứ. Hài Nhi trong máng cỏ sẽ là Cứu Thế, nên các
thiên thần đã xướng ca: Vinh quang Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho
người Chúa thương. Như vậy, Yêsu Con của Ðức Maria thực hiện lời tiên tri hứa
cùng nhà Ðavít. Người sẽ đem lại hòa bình cho Dân Chúa và vinh quang cho Chúa
Trời. Ðức Maria hôm nay gẫm suy những điều ấy. Và Ðức Phaolô VI khuyên ta hằng
năm hãy dùng Ngày Ðầu Năm Dương lịch này để suy nghĩ về hòa bình thế giới.
Chúng ta đã ra khỏi những
năm chiến tranh. Chúng ta vẫn còn nhiệm vụ phải suy nghĩ về hòa bình. Hòa bình
không phải chỉ là hết chiến tranh. Hòa bình còn là xây dựng bình đẳng, ấm no,
thịnh vượng, hạnh phúc nữa. Phần tích cực có thể nói còn gồm nhiều mặt hơn phần
tiêu cực là hết chiến tranh. Vả lại hết chiến tranh cũng phải là đã hết những hậu
quả của chiến tranh là những thương tích, đổ vỡ vật chất và tinh thần. Chúng ta
phải cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới. Chúng ta còn có nhiệm vụ quốc tế và công
giáo. Hòa bình hạnh phúc phải là khí thở của mọi người trên thế giới.
Chúng ta đóng góp được
gì? Hãy suy nghĩ hòa bình như Ðức Maria hằng suy đi nghĩ lại. Người suy nghĩ về
Danh "Yêsu", có nghĩa là Cứu Thế. Danh đó phải được kêu cầu trên con
cái loài người, như bài sách Dân số nói, để phước lộc được đổ xuống trên các
dân. Và phước lộc phong phú cụ thể là chính Thánh Thần yêu mến mà Thiên Chúa muốn
đổ xuống lòng mọi người, như lời thư Galát nói, để khi chúng ta gọi Chúa là Cha
thì thấy mình là anh em với nhau.
Nhưng làm sao có thể
kêu cầu Danh Chúa Yêsu mang lại hòa bình như thế, khi không bắt chước Ðức Maria
mà kêu Danh ấy với tất cả lòng yêu mến dấn thân. Mỗi lần Ðức Maria gọi tên
Yêsu, Người muốn hiến thân để cùng cứu thế. Ðiều đó thật chắc chắn! Ðiều đó nhắc
nhở ta là Kitô hữu phải hiến thân cứu đời, tức là quên mình để sống vì hạnh
phúc của xã hội. Yêu hòa bình thì phải xây dựng công bình bác ái; phải kiến tạo
bình đẳng, ấm no, thịnh vượng, hạnh phúc; phải dứt khoát với mọi hình thức vinh
thân phì gia, sống chết mặc bay miễn là cái tôi ích kỷ được thỏa mãn. Như vậy,
hòa bình đòi phấn đấu và đấu tranh để tiêu diệt các xấu và phát triển cái tốt.
Rất nhiều công tác cụ thể đang ở tầm tay mỗi người. Hết thảy chúng ta hãy tích
cực để chúng ta không chỉ nói hòa bình nhưng muốn xây hòa bình.
Chúng ta sẽ đáp lại
nguyện vọng của Ðức Phaolô VI khi đặt tên cho ngày hôm nay là Ngày Hòa Bình Thế
Giới. Chúng ta sẽ bắt chước Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa, hôm nay suy nghĩ về Danh
Ðức Yêsu, muốn hiến thân cùng cứu thế với Người. Chúng ta sẽ thể hiện ý nghĩa của
mầu nhiệm Thánh Thể sắp cử hành, khi đem thân, đem máu mình ra để hủy diệt cái
cũ, xây dựng cái mới cho muôn người được cứu độ.
(Trích dẫn từ tập
sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục
Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)
LỜI CHÚA MỖI NGÀY
Ngày 1 tháng 1, Lễ Mẹ Thiên Chúa, Năm ABC
Bài đọc: Num
6:22-27; Gal 4:4-7; Lk 2:16-21.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Lời chúc lành tốt đẹp nhất
của Năm Mới.
Trong Ngày Đầu Năm,
chúng ta có thói quen chúc cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất, tùy vào những
gì mà người khác muốn nghe; chẳng hạn, đối với các thương gia: phú quí, thịnh đạt;
đối với các sinh viên sắp ra trường: thành công và thắng lợi trên đường công
danh; đối với nhà nông: mùa màng trù phú; đối với người bệnh: sức khỏe lành mạnh.
Nhưng đâu là lời chúc tốt đẹp và hòan hảo nhất của Ngày Đầu Năm? Các tín hữu
tin đó là lời chúc có được Thiên Chúa; lý do của niềm tin này: có Chúa là có tất
cả. Hơn nữa, chưa chắc có được những gì người khác chúc là đã tốt lành, chẳng hạn
như được trúng số mà gia đình tan nát; nhưng nếu được những gì Thiên Chúa ban,
chắc chắn sẽ tốt lành cho người lãnh nhận, vì Ngài biết con người cần gì.
Các Bài đọc của Ngày Đầu
Năm tập trung trong các ơn lành đến từ Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, Thiên Chúa
dạy cho Aaron biết cách chúc lành cho con cái Israel: phải nhân danh Thiên
Chúa, phải xin Thiên Chúa tươi mặt nhìn đến và dủ lòng thương, phải xin Thiên
Chúa ghé mắt nhìn đến và ban bình an. Trong Bài Đọc II, Thiên Chúa đã tỏ tình
yêu của Ngài qua Mầu Nhiệm Nhập Thể: Ngài không những giải thóat con người khỏi
tội, ban cho con người diễm phúc được làm nghĩa tử, và còn ban Thánh Thần để
thúc đẩy con người gọi Thiên Chúa là Abba, Cha ơi! Trong Phúc Âm, Thiên Chúa đã
ban cho con người, đại diện qua Thánh Giuse, Đức Mẹ Maria, và các Mục-đồng được
nhìn thấy Mặt của Thiên Chúa. Vì thế, khi con người có được Thiên Chúa, được
Ngài đóai thương nhìn tới, con người sẽ không còn thiếu một ân huệ nào nữa.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Lời chúc tốt đẹp nhất: Xin
Thiên Chúa đóai thương nhìn tới anh em!
1.1/ Phải nhân danh Thiên
Chúa mà chúc lành: Đức Chúa phán với ông
Moses: "Hãy nói với Aaron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái
Israel, anh em hãy nói thế này: "Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh
em!””
Theo truyền thống
Do-Thái, tên là người. Danh của Thiên Chúa, Yaweh, đồng nhất với lòng thương
xót, sự tốt lành, và sự bình an. Khi Thiên Chúa hiện ra với ông Moses, Người đã
mặc khải tên này cho Moses. Khi chúng ta lấy tên ai để kêu cầu, chúng ta muốn đặt
những lời cầu xin dưới sự bảo trợ của người đó; chẳng hạn, khi chúng ta kết
thúc lời cầu xin bằng câu: “chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
Amen;” là chúng ta đặt lời cầu dưới sự bảo trợ của Đức Kitô. Trong đọan văn hôm
nay, Thiên Chúa cũng bảo đảm điều này: “Chúc như thế là đặt con cái Israel dưới
quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng.”
1.2/ Xin Thiên Chúa ghé mặt
nhìn tới: “Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn
đến anh em và dủ lòng thương anh em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình
an cho anh em!" Truyền thống Do-Thái tin: Chúa nhìn thấy con người, nhưng
con người không thể nhìn thấy Thiên Chúa. Ai nhìn thấy Thiên Chúa sẽ phải chết.
Khi Chúa nhìn đến ai, người đó được Ngài chúc lành; ví dụ, Mẹ Maria ca ngợi
Thiên Chúa: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đóai thương nhìn tới.” Ngược lại, khi
Thiên Chúa ngỏanh mặt đi, hay nhìn đến với nét mặt không tươi, người đó bị chúc
dữ.
2/ Bài đọc II: Chúa Giêsu làm cho con người nên công chính trước mặt Thiên
Chúa.
2.1/ Thiên Chúa cho Con của
Người nhập thể để cứu chúng ta khỏi Lề Luật: “Nhưng
khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một
người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu
chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử.”
Tại sao phải cứu con
người thóat khỏi Lề Luật? Vì Lề Luật mà con người phạm tội, không chu tòan những
gì Lề Luật dạy. Hậu quả của tội là sự chết. Con người không thể nên công chính
trước mặt Thiên Chúa bằng Lề Luật. Để cứu con người thóat khỏi sự chết, hậu quả
của Lề Luật, Thiên Chúa đã cho Người Con nhập thể trong cung lòng một con người,
Đức Mẹ Maria, để sinh ra làm người. Chính Người Con này sẽ gánh tất cả tội cho
con người; vì thế, con người có thể trở nên công chính trước mặt Thiên Chúa.
Khi Người Con cất đi mọi tội, Ngài đã vô hiệu hóa Lề Luật - làm cho Lề Luật
không còn giam hãm con người nữa.
2.2/ Thiên Chúa nhận
chúng ta làm nghĩa tử qua Chúa Giêsu: Không
những chỉ giải phóng con người khỏi tội, Chúa Giêsu còn ban cho con người muôn
vàn ân phúc qua Mầu Nhiệm Nhập Thể. Thánh Phaolô nói: “Để chứng thực anh em là
con cái, Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà
kêu lên: "Abba, Cha ơi!" Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa,
nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.”
(1) Ơn làm con Thiên
Chúa: Nhờ Chúa Giêsu, con người trở thành những người con của Thiên Chúa bằng
niềm tin vào Đức Kitô, như Thánh Gioan nói: “Còn những ai đón nhận, tức là những
ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được
sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do
ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Jn 1:12-13). Đã là con,
cũng là người thừa kế. Con người được thừa hưởng tất cả những gì Thiên Chúa ban
qua Đức Kitô, nhất là ơn được sống đời đời.
(2) Các ơn của Chúa
Thánh Thần: Để có thể tin vào Đức Kitô, và gọi Thiên Chúa là Abba, Cha ơi! con
người phải được Chúa Thánh Thần tác động. Nếu đã có Thánh Thần, con người sẽ
không thiếu những ơn lành của Ngài, cách cụ thể là 7 ơn của Chúa Thánh Thần.
3/ Phúc Âm: Các Mục-đồng đến thờ lạy Hài Nhi.
3.1/ Ba phản ứng của các
Mục-đồng: Sau khi được các Thiên-thần loan
báo Tin Mừng, các Mục đồng đã đáp lại bằng 3 phản ứng:
(1) Họ đi tìm và đã thấy:
Trình thuật kể: “Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp Bà Maria, Ông Giuse,
cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được
nói với họ về Hài Nhi này.” Con người chúng ta cũng phải hối hả và nhiệt thành
như các Mục-đồng trong việc tìm kiếm Thiên Chúa; vì nếu không lên đường đi tìm,
làm sao chúng ta có thể thấy Ngài được. Yếu điểm của nhiều người chúng ta là
nhiệt thành tìm kiếm mọi điều, nhưng không nhiệt thành trong việc tìm kiếm và học
hỏi về Thiên Chúa. Với một thái độ như thế, không lạ gì khi chúng ta vẫn còn xa
cách Thiên Chúa vạn dặm!
(2) Họ tôn vinh ca tụng
tình yêu Thiên Chúa: “Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng
Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với
họ.” Không có niềm vui nào lớn hơn niềm vui của người đã cảm nghiệm được tình
yêu Thiên Chúa. Các Mục-đồng chắc chắn đã được Hài Nhi cho cảm nghiệm được tình
yêu này, khi họ chiêm ngắm Ngài. Chúng ta đã cảm nghiệm được tình yêu của Thiên
Chúa khi chiêm ngắm Hài Nhi trong máng cỏ chưa?
(3) Phải rao giảng và
làm chứng cho tình yêu này: “Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc
nhiên.” Một khi đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa, con người trở thành khí
cụ ca rao tình yêu của Thiên Chúa cho muôn người. Thánh Phanxicô Khó Khăn chỉ
có thể hát lên “Kinh Hòa Bình” sau khi đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa
dành cho ngài. Nếu các tín hữu đều phản ứng như các Mục-đồng hôm nay, chẳng mấy
chốc mọi con người trong thế giới này sẽ cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa.
3.2/ Mẹ Maria ghi nhớ mọi
kỷ niệm ấy để suy đi nghĩ lại trong lòng: Một
gương sáng Đức Mẹ dạy cho con người: đứng trước Mầu Nhiệm Nhập Thể, chúng ta đừng
nói nhiều, nhưng hãy ghi nhận mọi sự kiện xảy ra và suy niệm trong lòng. Như một
con người, có rất nhiều điều Mẹ có thể hỏi và kêu ca trách Thiên Chúa trong
ngày sinh của Chúa Giêsu; chẳng hạn: Con Thiên Chúa mà lại sinh ra trong cảnh
khó nghèo như vậy sao? Uy quyền của Thiên Chúa đâu mà để cho Con Ngài mới sinh
ra đã phải chạy nạn rồi? Không phải chỉ lúc sinh con, nhưng trong suốt cả cuộc
đời, Mẹ đã chứng kiến cuộc sống của Chúa Giêsu: khi thì rất uy quyền làm các
phép lạ như tại tiệc cưới Cana, khi thì cô đơn bại trận như lúc sinh thì trên
Thánh Giá. Mẹ có thể hỏi Thiên Chúa những lý do tại sao, nhưng Mẹ đã chọn sự
thinh lặng và hòan tòan tin tưởng vào Kế Họach và tình yêu của Thiên Chúa cho
gia đình Mẹ.
3.3/ Đặt tên cho con trẻ
là Jesus: Tên Jesus trong
tiếng Do-Thái có nghĩa là “Jaweh cứu thóat,” đó là tên mà Sứ-thần đã truyền đặt
cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ (Lk 1:31). Trong Cựu-Ước,
cũng có một nhân vật mang tên này là Thủ Lãnh Joshua. Ông được chọn để thay
Moses mang dân vào Đất Hứa (Num 13:6). Giống như Joshua, Chúa Giêsu cũng được
Chúa Cha tuyển chọn để cứu nhân lọai khỏi tội, và mang họ đế cuộc sống đời đời
trên Thiên Đàng. Khi ban cho chúng ta Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã sống đúng với
Danh của Ngài là Thiên Chúa Thương Xót.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Trong Ngày Đầu Năm,
chúng ta hãy dùng danh Đức Kitô mà chúc cho nhau được Thiên Chúa đóai thương
nhìn tới.
- Vì Thiên Chúa đóai
thương, nên Người ban cho chúng ta Người Con Một của Ngài, để gánh tội và để
cho chúng ta thành những người con của Ngài.
- Thuở xưa, con người
không được phép nhìn mặt Thiên Chúa; nhưng qua Biến Cố Nhập Thể, con người có
thể chiêm ngưỡng dung nhan Thiên Chúa qua khuôn mặt của Chúa Hài Nhi.
- Với nền kinh tế bấp
bênh của thế giới và của quốc gia chúng ta đang định cư, chúng ta không biết
tương lai sẽ thế nào; nhưng chúng ta biết chắc chắn một điều: “những người được
Thiên Chúa đóai thương, sẽ chẳng thiếu chi những điều tốt lành và bình an.”
- Cầu chúc quí khán giả
khắp nơi luôn hăng hái nhiệt thành trong việc học hỏi Lời Chúa, và luôn sống
trong tình yêu và ơn thánh của Ngài. Chúng con cầu xin nhờ Danh Đức Kitô, Chúa
chúng con. Amen.
Chia sẻ của Lm Lê minh Thông
Đoạn Tin Mừng Lc
2,6b-20 vẽ lên ba bức tranh chính: (1) Đức Ma-ri-a hạ sinh Đức Giê-su ở Bê-lem.
(2) Chuyện những người chăn chiên được báo tin và tìm đến gặp Hài Nhi. (3) Lời
ca ngợi Thiên Chúa của các sứ thần.
Xin chia sẻ câu chuyện
về những người chăn chiên trong bức tranh thứ hai, liên quan đến các động từ
“nghe”, “thấy”, “nói” và “tôn vinh Thiên Chúa”. Có thể hành trình của những người
chăn chiên cũng là hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su qua mọi thời đại.
Bức tranh về nhân vật
những người chăn chiên thật sinh động. Sứ điệp mà sứ thần dành cho những người
chăn chiên là audio-visuel, nghĩa là vừa nghe bằng tai vừa thấy bằng mắt.
Trước hết những người
chăn chiên thấy sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả, khiến
họ kinh khiếp hãi hùng (2,9). Kế đến là họ nghe lời sứ thần với hai ý. Một là
báo tin vui: Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít. Thứ đến
là dấu chỉ để nhận ra Hài Nhi: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm
trong máng cỏ” (2,12). Như thế, lời loan báo của sứ thần không phải chỉ để nghe
cho biết, nhưng là một sứ điệp có khả năng biến “sợ hãi” thành “niềm vui”, có
khả năng biến “lời nói” thành “hành động”: đứng dậy và lên đường.
Đáp trả lời mời gọi,
những người chăn chiên bảo nhau: “Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy
ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (2,15). Họ đã “gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng
với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (2,16) như lời sứ thần loan báo. Nhờ kiểm chứng
“lời đã nghe” bằng “mắt” đã thấy”, những người chăn chiên xác tín sự kiện đã xảy
ra, từ đó trình thuật chuyển sang đề tài đối thoại với ba khía cạnh:
1) Đối thoại với người
khác. Những người chăn chiên đã kể lại những điều họ đã nghe sứ thần Chúa nói với
mình về Hài Nhi.
2) Đối thoại với chính
mình qua hình ảnh Đức Ma-ri-a hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại
trong lòng. Tự đối thoại với chính mình bằng cách sống với biến cố, tự đặt câu
hỏi và tìm câu trả lời để hiểu ý nghĩa của biến cố.
3) Đối thoại với Thiên
Chúa bằng cách “tôn vinh và ca tụng” (2,20) như những người chăn chiên đã làm.
Câu kết cho thấy điểm
nhấn của câu chuyện: “Các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng
Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ”
(2,20). Nhắc lại những gì đã thấy và lời loan báo để kết câu chuyện, làm lộ ra
ý nghĩa trình thuật nhắm tới:
Thấy vinh quang Chúa,
nghe tin vui và dấu chỉ của sứ thần, vội vã lên đường; khi đã gặp thì kể cho mọi
người biết và rồi lại ra đi tôn vinh Thiên Chúa.
Đó là hành trình của
người tin, hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su. Nghe, biết, đón nhận, tin
vào Người để rồi ra đi chia sẻ cho người khác và không ngừng ca tụng tình
thương của Thiên Chúa dành cho loài người.
Người chăn chiên là hạng
người thấp nhất trong xã hội, nhưng họ lại là người được loan báo tin vui trước
hết. Không những Thiên Chúa không loại trừ một ai mà Người còn dành ưu ái cho hạng
người thấp nhất trong xã hội. Vì thế, chúng ta đừng bao giờ thất vọng về chính
mình hay nghĩ là Chúa bỏ rơi mình. Thực ra, chỉ có con người bỏ rơi Thiên Chúa
chứ Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người.
Đoạn Tin Mừng Lc
2,6b-20 gợi lại hành trình trở thành người môn đệ và hành trình sứ vụ của chúng
ta. Xin cho chúng ta biết cách nhìn để thấy những gì đã và đang xảy ra trong lịch
sử; biết cách lắng nghe Lời mặc khải để đón nhận tin vui trọng đại cho loài người,
để từ đó xác tín và lên đường, hân hoan loan báo tin vui và cất lời ca tụng
Thiên Chúa như những người chăn chiên đã làm. Để được như thế, ước gì chúng ta
luôn suy đi nghĩ lại trong lòng giáo huấn của Đức Giê-su trong suốt hành trình
làm người, như Mẹ đã làm.
Lm. Anthiny
ĐINH MINH TIÊN, OP.
Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa
Ngày cầu cho hoà bình thế giới Lc 2,16-21
Ngày cầu cho hoà bình thế giới Lc 2,16-21
TRÂN TRỌNG TỪNG KỶ NIỆM
“Bà Ma-ri-a thì hằng
ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.” (Lc 2,19)
Suy niệm: Một người mẹ
bỏ hai bé sơ sinh vào một tủ lạnh, trước đó đã thiêu xác một đứa con khác trong
lò sưởi. Khi được hỏi nguyên nhân, câu trả lời của bà làm nhiều người kinh ngạc:
bà đã có hai con, bà không muốn có thêm người con nào nữa. Xã hội tiêu thụ đã đẻ
ra những sản phẩm kinh khủng như bà mẹ trên đây. Xã hội ấy cũng đang âm thầm sản
sinh những con người mất “chất người” khác, nói theo nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, “Quỷ
ở với người” chứ không phải người sống với người nữa. Trong ngày đầu
năm mới, Giáo Hội mời gọi tín hữu nhìn lên mẫu gương của Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên
Chúa vàø Mẹ nhân loại. Mẹ đã nâng niu trẻ Giê-su và trân trọng từng kỷ niệm của
Ngài, Mẹ cũng ghi nhớ mọi kỷ niệm của những người con khác với Mẹ, kể cả những
gì nhỏ bé nhất, vì Mẹ yêu mọi con cái của mình.
Mời Bạn: “Sung sướng thay cho người
được Thiên Chúa ban cho một người mẹ nhân hậu” (Lamartine). Đức Giê-su đã hạnh phúc có được một người mẹ
nhân lành như Đức Ma-ri-a, chúng ta cũng vậy. Hãy dành cho ngài một vị trí xứng
hợp trong đời sống của bạn: một người mẹ thân thiết, một mẫu gương gần gũi.
Sống Lời Chúa: Trong ngày đầu năm mới,
cùng với Mẹ Ma-ri-a, tôi và gia đình dâng lời tạ ơn Thiên Chúa và cầu xin gia
đình mình trở thành mái ấm.
Cầu nguyện: Lạy Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa, xin gìn giữ nơi con quả
tim của trẻ thơ. Xin ban cho con quả tim đơn sơ, mau quên những nỗi buồn phiền.
Một quả tim hào hiệp dám hiến thân. Một quả tim trung thành, quảng đại, không
quên ơn, không báo oán.
(5 phút Lời Chúa)
GHI NHỚ VÀ SUY NIỆM TRONG LÒNG (1.1.2018 – Thứ hai cuối tuần Bát nhật Giáng sinh: Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa)
Muốn sinh Đức Giêsu cho thế giới hôm nay, Chúng ta cũng cần nhiều thời gian để cưu mang Ngài trong cuộc đời ta.
Suy niệm:
Làm người ai cũng cần có mẹ.
Mẹ là người cưu mang, sinh ra và dưỡng nuôi con cho
khôn lớn.
Khi Con Thiên Chúa làm người, mang lấy trọn phận
người,
Ngài cũng cần một người mẹ, như bao người khác.
Mẹ Maria là thiếu nữ, là trinh nữ được Thiên Chúa
tuyển chọn,
Để thụ thai và sinh hạ Con Một Thiên Chúa.
Khi Công đồng Êphêsô (năm 431) gọi Đức Maria là Mẹ
Thiên Chúa,
Công đồng không có ý dạy
Đức Mẹ sinh ra Chúa Cha hay Chúa Thánh Thần.
Đức Mẹ chỉ sinh ra Đức Giêsu,
Mà Đức Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể,
Nên Mẹ thực sự là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos).
Chắc Mẹ Maria không thể hiểu hết và hiểu ngay
Màu nhiệm lớn lao mà Mẹ đang cưu mang trong dạ.
Khi các mục đồng kể lại những điều huy hoàng họ nghe
thấy ở Belem,
Mẹ Maria ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ
lại trong tim mình.
Để đi vào mầu nhiệm cách sâu xa, cần ơn soi sáng của
Chúa,
Nhưng cũng cần thái độ chiêm niệm, nghiền ngẫm trong
lặng thinh.
Chúng ta thường để ý đến biến cố Truyền Tin và biến cố
Giáng Sinh,
biến cố Ngôi Lời bắt đầu hiện hữu trong lòng mẹ và
biến cố chào đời.
Nhưng chúng ta không được quên chín tháng Mẹ cưu mang
người Con.
Con Thiên Chúa đã lớn lên từ từ trong lòng Mẹ như các
thai nhi khác.
Muốn sinh Đức Giêsu cho thế giới hôm nay,
Chúng ta cũng cần nhiều thời gian để cưu mang Ngài
trong cuộc đời ta,
để Ngài trở nên đủ cứng cáp khi chào đời.
Chúng ta cũng phải chấp nhận cả sự đau đớn khi sinh
hạ.
Bước qua một Năm Mới, mở trang đầu của cuốn lịch mới,
Chúng ta mong những điều mới mẻ tốt lành xảy đến cho
mình
Và muốn tặng cho nhau một câu chúc đầy ý nghĩa:
“Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh
em!” (Ds
6, 26).
Cầu nguyện:
Lạy Mẹ Maria,
khi đọc Phúc Âm,
lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.
Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Ðức Giêsu.
Mẹ đưa con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ.
Mẹ tìm Con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana.
Mẹ đi thăm Ðức Giêsu khi Ngài đang rao giảng.
Và cuối cùng Mẹ đã theo Ngài đến tận Núi Sọ.
khi đọc Phúc Âm,
lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.
Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Ðức Giêsu.
Mẹ đưa con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ.
Mẹ tìm Con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana.
Mẹ đi thăm Ðức Giêsu khi Ngài đang rao giảng.
Và cuối cùng Mẹ đã theo Ngài đến tận Núi Sọ.
Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi
âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong,
từ con người hay từ Thiên Chúa.
Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Ðức Giêsu
trong mọi bước đường của cuộc sống.
Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa.
Có những con đường đầy máu và nước mắt.
âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong,
từ con người hay từ Thiên Chúa.
Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Ðức Giêsu
trong mọi bước đường của cuộc sống.
Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa.
Có những con đường đầy máu và nước mắt.
Xin Mẹ dạy chúng con
đừng sợ lên đường mỗi ngày,
đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa
dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.
đừng sợ lên đường mỗi ngày,
đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa
dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.
Xin giữ chúng con luôn đi trên Ðường-Giêsu
để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ
đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.
để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ
đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.
Lm
Antôn Nguyễn
Cao Siêu, SJ
HÃY NÂNG TÂM HỒN LÊN
1 THÁNG GIÊNG
Lời Kinh Dâng Hiến
Mẹ Ơi!
Chúng con xin dâng hiến
chính mình chúng con
cho Mẹ,
vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa
và là Mẹ chúng con;
vì Chúa Giê-su, Con Mẹ,
đã ký thác chúng con cho Mẹ;
vì Mẹ sẵn lòng nhận
làm Mẹ Giáo Hội.
Từ muôn nẻo, tất cả
chúng con sum họp về đây,
hòa lời kinh dâng hiến.
Xin dâng Mẹ toàn thể
Giáo Hội:
các mục tử và các tín
hữu.
Xin Mẹ đón nhận các
giám mục – là những vị nối gót Chúa Chiên Lành săn sóc đoàn dân được Ngài trao
phó;
Xin Mẹ đón nhận các
linh mục – là những người đã được xức đầu bởi Thánh Thần;
Xin Mẹ đón nhận các tu
sĩ nam nữ – là những người tận hiến cuộc đời cho Nước Chúa Kitô;
Xin Mẹ đón nhận các chủng
sinh – đang nồng nhiệt đáp lại tiếng gọi của Chúa;
Xin Mẹ đón nhận các
đôi vợ chồng Kitôhữu – trong mối kết hiệp bền vững của tình yêu trao hiến cho
nhau và cho gia đình họ;
Xin Mẹ đón nhận các
anh chị em giáo dân đang dấn thân hoạt động tông đồ, các bạn trẻ đang khao khát
một xã hội mới, các em thiếu nhi đang lớn lên trong một thế giới còn thiếu nhân
đạo và hòa bình;
Xin Mẹ đón nhận các bệnh
nhân, những người nghèo, những tù nhân, những anh chị em bị ngược đãi, các trẻ
mồ côi, những tâm hồn tuyệt vọng và những người hấp hối.
Lạy Mẹ là Mẹ Giáo Hội,
Chúng con ẩn náu trong
sự chở che của Mẹ;
Chúng con phó thác
chính mình trong bàn tay săn sóc của Mẹ.
Xin Mẹ cầu bàu cho
Giáo Hội,
để Giáo Hội trung
thành
trong đức tin tinh tuyền,
trong niềm cậy trông
không lay chuyển,
trong lòng mến yêu nồng
cháy,
trong nhiệt tâm tông đồ
và sứ mạng,
trong dấn thân phụng sự
cho công lý và hòa bình giữa lòng nhân loại của thế giới đã được chúc phúc này.
Chúng con cầu xin Mẹ
cho toàn thể Giáo Hội
luôn gìn giữ mối hiệp
thông trọn vẹn trong đức tin và đức ái,
luôn hiệp nhất với Tòa
Thánh Phê-rô trong niềm mến yêu và vâng phục.
Chúng con ký thác cho
Mẹ
hạt giống rao giảng
Tin Mừng của chúng con,
lòng kiên định ưu tiên
yêu mến người nghèo,
và công cuộc giáo dục
đức tin cho thế hệ trẻ.
Xin Mẹ giúp gia tăng
ơn gọi linh mục và tu sĩ,
xin Mẹ nuôi dưỡng lòng
quảng đại của những người cống hiến bản thân mình vì sứ mạng của Chúa Kitô,
xin Mẹ giúp xây dựng mối
hiệp nhất và cuộc sống thánh thiện trong mọi gia đình.
Lạy Đức Trinh Nữ Mân
Côi, Mẹ chúng con!
Xin cầu bàu cho chúng
con bây giờ:
Xin ban cho chúng con
ơn bình an vô giá,
để biết thứ tha mọi đố
kỵ và xua tan trong lòng mình mọi hiềm khích;
để hòa giải với mọi
anh chị em.
Xin Mẹ giúp chấm dứt mọi
bạo động và loạn lạc;
Xin cho con người biết
sẵn sàng đối thoại với nhau hơn – và biết chung sống thuận hòa;
Xin Mẹ giúp chúng con
mở ra những nẻo đường mới,
để mưu cầu công bình
và thịnh vượng.
Lạy Mẹ, là Nữ Vương
Hòa Bình của chúng con,
Chúng con kêu cầu Mẹ,
bây giờ và trong giờ sau hết!
Chúng con ký thác
trong tay Mẹ,
tất cả những nạn nhân
của bất công và bạo lực,
tất cả những người gục
chết vì thiên tai,
tất cả những ai trong
giây phút từ giã cõi đời đã chạy đến với Mẹ để nấp bóng bảo trợ từ mẫu.
Lạy Mẹ là cửa thiên
đàng,
Xin trở thành sức sống,
sự ngọt ngào và hy vọng của chúng con,
để chúng con được cùng
với Mẹ
mãi mãi chúc tụng tôn
vinh
Chúa Cha, Chúa Con và
Chúa Thánh Thần. Amen.
01 Tháng Giêng
Chiếc Mốc Thời Gian
Cứ ở mỗi cuối năm,
hoặc ở khởi đầu của một năm mới, một thập niên mới, một kỷ nguyên mới, tạp chí
Time có thói quen chọn một người nổi bật nhất trong lịch sử nhân loại để làm một
cái mốc cho thời gian.
Lần đầu tiên, năm
1927, phi công Hoa Kỳ tên là Charles Lindbergh đã được chọn làm người của năm.
Viên phi công này là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã thực hiện một
chuyến bay liên tục từ New York sang Paris. Người của năm không phải chỉ là một
đấng mày râu, mà ngay cả phái yếu cũng được chọn vào danh dự ấy. Trước kia, có
nữ hoàng Elizabeth đệ nhị, và năm 1986, tổng thống Aquino của Phi Luật Tân cũng
đã được chọn làm người của năm.
Có đàn ông, có đàn
bà. Có những người xây dựng Hòa bình như Mahatma Gandhi, như martin Luther
King, mà cũng có những người chỉ biết gây đau thương tang tóc cho nhân loại như
Stalin, như Hitler, như Ðặng Tiểu Bình cũng đã từng được chọn làm người của
năm.
Gần đây, thế giới
nhìn vào chủ tịch Gorbachov như gương mặt nổi bật nhất của lịch sử nhân loại.
Năm 1987, ông được chọn làm người của năm vì đã xuất hiện như một biểu tượng của
Hy vọng cho Liên Xô. Và với những thay đổi sâu rộng trong khối Ðông Âu do chính
sách đổi mới của ông mang lại, ông được chọn làm người của năm 1989. Nhưng tạp
chí Time còn đi xa hơn nữa khi tặng cho ông danh hiệu "Người của thập niên
80". Trước kia, năm 1949, thủ tướng nước Anh là Winston Churchill cũng đã
được chọn làm người của nửa thế kỷ.
Thời gian sẽ vô
nghĩa và trống rỗng, nếu không được liên tục bằng những cái mốc của lịch sử.
Con người cần có những chiếc ấy để nhìn lại quá khứ và dự phóng cho tương lai.
Người Kitô sống giữa
thế giới không thể không dựa vào những chiếc mốc thời gian ấy. Nhưng chúng ta
không nhìn vào những chiếc mốc thời gian ấy với đôi mắt bàng quan, hoặc tệ hơn
nữa, bằng cái nhìn bi quan. Trong đức tin, tất cả được nhìn bằng đôi mắt lạc
quan, bởi vì chúng ta tin rằng Thiên Chúa là chủ của lịch sử, Thiên Chúa luôn
có mặt trong lịch sử con người. Tin vào sự hiện diện và hướng dẫn ấy của Thiên
Chúa, chúng ta nhìn vào những chiếc mốc của thời gian như những dấu hiệu của Hy
vọng. Ngay cả trong thất bại, rủi ro, tang tóc, thương đau, người Kitô cũng
luôn nhận ra những dấu chỉ của Hy vọng. Tất cả mọi biến cố xảy đến đều phải được
nhìn trong ánh sáng phục sinh của Ðức Kitô. Cái chết đau thương và nhục nhã của
Ngài trên thập giá không phải là ngõ cụt, là đường cùng, là tăm tối mà là đường
dẫn về Ánh Sáng.
Tin tưởng ở sự hiện diện
của Thiên Chúa trong từng phút giây của cuộc sống và lịch sử con người, cái mốc
thời gian của chúng ta có lẽ không phải là đơn vị của năm, thập niên, mà là từng
phút giây của Hiện tại. Và người được chúng ta chọn cho từng phút giây ấy phải
là Thiên Chúa, chủ của thời gian, chủ của lịch sử.
Xin chọn Người làm
trung tâm điểm của cuộc sống, xin chọn Người làm Sự Sống, xin chọn Người làm Lý
Tưởng, xin chọn Người làm Cảm Hứng, xin chọn Người làm cho tất cả cho cuộc đời,
xin chọn Người trong từng phút giây của cuộc sống.
Lẽ Sống
Lectio Divina: Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa, Lễ Trọng
Thứ Hai, 1 Tháng 1, 2018
Các mục đồng đến viếng
thăm Chúa Hài Đồng Giêsu và Mẹ Người
Kẻ sống bên lề xã hội
là người được Thiên Chúa ưu ái
Lc 2:16-21
1. Lời nguyện mở đầu
Lạy Chúa Giêsu, xin
hãy sai Thần Khí Chúa đến giúp chúng con đọc Kinh Thánh cùng với tâm tình mà
Chúa đã đọc cho các môn đệ trên đường Emmau. Trong ánh sáng của Lời
Chúa, được viết trong Kinh Thánh, Chúa đã giúp các môn đệ khám phá ra được sự
hiện diện của Thiên Chúa trong nỗi đau buồn về bản án và cái chết của
Chúa. Vì thế, cây thập giá tưởng như là sự kết thúc của mọi niềm hy vọng,
đã trở nên nguồn mạch của sự sống và sự sống lại.
Xin hãy tạo trong
chúng con sự thinh lặng để chúng con có thể lắng nghe tiếng Chúa trong sự Tạo Dựng
và trong Kinh Thánh, trong các sự việc của đời sống hằng ngày và trong những
người chung quanh, nhất là những người nghèo khó và đau khổ. Nguyện xin Lời
Chúa hướng dẫn chúng con, để cũng giống như hai môn đệ từ Emmau, chúng con cũng
sẽ được hưởng sức mạnh sự phục sinh của Chúa và làm chứng cho những người khác
rằng Chúa đang sống hiện hữu giữa chúng con như nguồn gốc của tình anh em, công
lý và hòa bình. Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu, con của Đức Maria,
Đấng đã mặc khải cho chúng con về Chúa Cha và đã gửi Chúa Thánh Thần đến với
chúng con. Amen.
2. Bài Đọc
a) Chìa
khóa để hướng dẫn bài đọc:
Lý do đã khiến cho
thánh Giuse và Đức Maria phải đi đến Bêlem là lệnh kiểm tra dân số ban ra bởi
hoàng đế La Mã (Lc 2:1-7). Theo định kỳ, nhà cầm quyền La Mã ra lệnh
làm tổng kiểm tra dân số trong các khu vực khác nhau trong đế chế rộng lớn của
họ. Họ phân loại dân cư và để biết bao nhiêu người sẽ phải nộp thuế. Nhà
giàu thì phải nộp thuế về đất đai và tài sản họ sở hữu. Người nghèo
thì phải trả thuế cho số con cái mà họ có. Đôi khi tiền thuế phải
đóng đã vượt quá 50% tổng số lợi tức của một người.
Trong Tin Mừng Luca,
chúng ta thấy một sự khác biệt đáng kể giữa sự ra đời của Đức Giêsu và của ông
Gioan Tẩy Giả. Gioan được sinh ra ở quê nhà trên mảnh đất của ông, ở
giữa cha mẹ và làng xóm, và được mọi người đón chào (Lc
1:57-58). Chúa Giêsu được sinh ra không ai biết đến, cách xa khỏi
thân thích và xóm làng, và xa khỏi quê hương của Người. “Không còn
chỗ trong quán trọ”. Chúa Hài Đồng đã được đặt nằm trong máng cỏ (Lc
2:7).
Chúng ta hãy hình dung
và nhận xét đoạn Tin Mừng (Lc 2:16-21) trong bối cảnh rộng lớn hơn về việc thăm
viếng của các mục đồng (Lc 2:8-21). Trong khi đọc, chúng ta hãy cố gắng
chú ý đến điều sau đây: Những sự bất ngờ và tương phản ta thấy trong
văn bản này là gì?
b) Phân
đoạn bài Tin Mừng để trợ giúp cho bài đọc:
Lc 2:8-9: Các
mục tử ở ngoài đồng, những người đầu tiên được mời đến
Lc
2:10-12: Lời loan báo đầu tiên về Tin Mừng được mang đến cho các
mục đồng
Lc
2:13-14: Lời ca ngợi của các thiên thần
Lc
2:15-18: Các mục đồng đi đến Bêlem và thuật lại việc thiên thần
hiện ra với họ
Lc
2:19-20: Thái độ của Đức Maria và của các mục đồng về những sự việc
này
Lc 2:21: Việc
cắt bì của con trẻ Giêsu
c) Phúc
Âm:
Bấy giờ trong miền đó
có những người mục tử đang ở ngoài đồng và thức đêm để canh giữ đoàn vật
mình. Bỗng có thiên thần Chúa hiện ra đứng gần bên họ, và ánh sáng của
Thiên Chúa bao tỏa chung quanh họ, khiến họ hết sức kinh sợ. Nhưng
thiên thần Chúa đã bảo họ rằng: “Các ngươi đừng sợ, đây ta mang đến
cho các ngươi một tin mừng đặc biệt, đó cũng là tin mừng cho cả toàn
dân: Hôm nay Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế, đã giáng sinh cho các ngươi
trong thành của Đavít. Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người: Các
ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ.” Và
bỗng chốc, cùng với các thiên thần, có một số đông thuộc đạo binh thiên quốc đồng
thanh hát khen Chúa rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời và bình
an dưới thế cho người thiện tâm.” Khi các thiên thần biến đi, thì các mục
tử nói với nhau rằng: “Chúng ta đi đến Bêlem và coi xem sự việc đã xảy
ra mà Chúa đã cho chúng ta được biết.” Rồi họ hối hả tới nơi và gặp
thấy Maria, Giuse và hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ. Khi thấy thế,
họ đã hiểu ngay lời đã báo về hài nhi này. Và tất cả những người
nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục tử thuật lại cho họ. Còn Maria
thì ghi nhớ tất cả những sự việc đó, và suy niệm trong lòng. Những mục
tử trở về, họ tung hô ca ngợi Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và xem thấy,
đúng như lời đã báo cho họ. Khi đã đủ tám ngày, lúc phải cắt bì cho con trẻ,
thì người ta gọi tên Người là Giêsu, tên mà thiên thần đã gọi trước khi con trẻ
được đầu thai trong lòng mẹ.
3. Giây phút thinh lặng cầu nguyện:
Để Lời Chúa được thấm
nhập và soi sáng đời sống chúng ta.
4. Một vài câu hỏi gợi ý:
Để giúp chúng ta trong
việc suy gẫm cá nhân.
a) Bạn thích điều gì nhất trong đoạn Tin Mừng
này? Tại sao?
b) Bạn đã tìm thấy những ngạc nhiên và sự tương
phản gì trong đoạn Tin Mừng này?
c) Làm cách nào đoạn Tin Mừng cho chúng ta biết
rằng kẻ bé mọn và người nghèo khổ nhất trên trần thế lại là người cao trọng
trên thiên đàng?
d) Thái độ của Đức Maria và của các mục đồng về
mầu nhiệm Thiên Chúa vừa mới mặc khải cho họ là gì?
e) Luca muốn nhắn nhủ gì với chúng ta qua các
chi tiết này?
5. Chìa khóa dẫn đến bài đọc
Dành cho những ai muốn
đào sâu hơn vào trong chủ đề
a) Bối
cảnh của thời ấy và của ngày nay:
Đoạn Tin Mừng về ngày
lễ Mẹ Thiên Chúa (Lc 2:16-21) là một phần của câu chuyện về việc sinh ra của
Chúa Giêsu (Lc 2:1-7) và các mục đồng đến thăm (Lc 2:8-21). Thiên thần
đã loan báo sự sinh ra của Đấng Cứu Độ và cho một dấu chỉ để nhận biết: “Các
ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ!” Họ
đang mong đợi Đấng Cứu Thế của toàn dân và họ đã nhận ra Người trong một hài
nhi mới sinh, nghèo khó, nằm giữa các thú vật! Thật là một bất ngờ lớn
lao!
Kế hoạch của Thiên Chúa
đã được thực hiện theo một phương cách không thể ngờ, đầy ngạc
nhiên. Điều này cũng còn xảy ra ngày nay. Một bé thơ
nghèo hèn là Đấng Cứu Thế của nhân loại! Có ai ngờ được không?
b) Lời
bình giải về đoạn Tin Mừng:
Lc 2:8-9: Những vị khách được mời đầu tiên
Mục đồng là những người
cùng đinh trong xã hội, không được coi trọng mấy. Họ sống cùng với
các thú vật, tách biệt với người thường. Bởi vì họ thường xuyên tiếp
xúc với thú vật, nên họ bị xem như là ô uế. Không bao giờ có ai muốn
mời họ tới thăm một em bé sơ sinh. Thế nhưng chính các Thiên
Thần Chúa lại hiện ra với những mục đồng này để loan báo tin vui sự ra
đời của Chúa Giêsu. Trông thấy các thiên thần, họ thật sự sợ
hãi.
Lc 2:
10-12: Lời loan báo đầu tiên về Tin Mừng
Lời nói đầu tiên của
thiên thần là: Các ngươi đừng sợ! Thứ hai
là: Tin Vui cho cả toàn dân! Thứ ba
là: Hôm nay! Và rồi thiên thần mang đến ba danh hiệu
để chỉ Chúa Giêsu là ai: Đấng Cứu Thế, Đức Kitô và Chúa! Đấng
Cứu Thế là Đấng giải thoát mọi người khỏi tất cả những gì trói buộc họ! Các
vua chúa thời bấy giờ thích dùng danh hiệu Đấng Cứu Chuộc. Chính họ
đã tự phong cho mình tước hiệu đấng cứu rỗi. Đức Kitô có
nghĩa là Đấng Được Xức Dầu hay là Đấng Thiên Sai. Trong
Cựu Ước, đây là danh hiệu được trao cho vua chúa và các tiên tri. Đó
cũng là danh hiệu của Đấng Thiên Sai tương lai là đấng sẽ thực hiện lời hứa của
Thiên Chúa với dân của Người. Điều này có nghĩa là hài nhi mới sinh,
đang nằm trong máng cỏ, đã đến để thực hiện niềm hy vọng của toàn
dân. Chúa là danh hiệu của chính Thiên Chúa! Ở
đây chúng ta có ba danh hiệu có thể xem là cao cả nhất. Từ lời loan
báo về sự sinh ra của Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, Chúa Kitô
và là Chúa, có còn ai cao cả hơn thế nữa không? Và thiên thần
nói rằng: “Cẩn thận! Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận
biết Người: các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh nằm trong máng cỏ,
trong số những người nghèo khó!” Bạn có tin nổi không? Phương
cách hành động của Thiên Chúa thì thật là khác hẳn với chúng ta!
Lc
2:13-14: Lời hát khen của các thiên thần về Tin Mừng: Vinh
danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người Chúa thương.
Một số đông thiên thần
xuất hiện và từ trời xuống. Đó có thể được giải thích là thiên đàng
đã hạ mình xuống dưới thế. Hai phần của câu Kinh Thánh này tóm tắt lại
chương trình của Thiên Chúa, kế hoạch của Người. Phần đầu cho biết
những gì xảy ra trên thiên đàng: Vinh danh Thiên Chúa trên trời
cao. Phần thứ hai cho biết việc gì sẽ xảy ra ở dưới đất: Bình
an dưới thế cho người Chúa thương. Nếu người ta có thể nghiệm ra
rằng được Chúa thương có ý nghĩa gì, thì tất cả mọi thứ sẽ đổi
thay và bình an sẽ hiện diện trên trái đất. Và điều
này sẽ cao quý hơn vinh quang Thiên Chúa Đấng ngự trên trời cao!
Lc 2:15-18: Các mục đồng đi đến Bêlem và thuật lại việc
hiện ra của các thiên thần
Lời của Chúa không còn
là một âm thanh được phát ra từ môi miệng. Hơn hết cả nó là một sự
kiện! Các mục đồng nói như thế này: “Chúng ta hãy
sang Bêlem và coi xem sự việc đã xảy ra mà Chúa đã cho chúng ta được biết”. Theo
tiếng Do Thái, chữ DABAR có thể có hai nghĩa là lời và
sự việc, được tạo ra bằng lời. Lời của Chúa là quyền năng tác tạo. Nó
hoàn thành những gì đã phán ra. Vào lúc tác tạo Thiên Chúa
phán: “Hãy có ánh sáng, và liền có ánh sáng!” (St 1:3). Lời của
thiên thần nói với các mục đồng là sự kiện về việc sinh ra của
Chúa Giêsu.
Lc 2:19-20: Thái độ của Đức Maria và của các mục đồng
về những sự việc này
Luca lập tức cho biết
thêm rằng: “Còn Maria thì ghi nhớ tất cả những sự việc đó và suy
niệm trong lòng”. Có hai cách để cảm nhận và đón tiếp Lời
Chúa: (i) Các mục đồng chỗi dậy để đi coi xem các sự việc và xác
nghiệm lại dấu chỉ được thiên thần cho biết, và sau đó, họ trở lại với đàn gia
súc của họ, tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và
xem thấy; (ii) Đức Maria, cách khác, lại cẩn thận ghi nhớ lại tất cả mọi điều
này và suy niệm trong lòng. Suy niệm về những việc trong tâm trí một
người có nghĩa là hồi tưởng lại chúng và làm sáng tỏ trong ánh sáng của Lời
Chúa để hiểu rõ hơn ý nghĩa đầy đủ của chúng cho đời sống.
Lc
2:21: Việc cắt bì và đặt tên cho con trẻ Giêsu
Theo luật định, Hài
Nhi Giêsu được cắt bì sau khi sanh được tám ngày (xem St 17:12). Việc
cắt bì là một dấu hiệu để chỉ thuộc về dân của Chúa. Nó cho kẻ ấy một
căn tính. Nhân dịp này mỗi trẻ sơ sinh được đặt tên (xem Lc
1:59-63). Hài nhi được gọi là Giêsu, tên mà thiên thần đã gọi trước
khi con trẻ được thụ thai. Thiên thần đã nói với Giuse rằng phải đặt
tên con trẻ là Giêsu vì “chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”
(Mt 1:21). Tên gọi Giêsu thì giống như tên Giôsuê,
và có nghĩa là Thiên Chúa sẽ cứu. Một tên khác mà sẽ được
trao dần dần cho Chúa Giêsu là Đức Kitô, có nghĩa là Đấng
Được Xức Dầu hay là Đấng Thiên Sai. Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai
đang được mong chờ. Tên thứ ba là Emmanuel, có nghĩa
là Thiên-Chúa-Ở-Cùng-Chúng-Ta (Mt 1:23). Tên gọi đầy
đủ là Đức Giêsu Kitô Thiên Chúa ở cùng chúng ta!
c) Lời
chú giải thêm:
Đức Maria trong
Tin Mừng theo Luca
i) Vai
trò của hai chương đầu tiên trong Tin Mừng Luca:
Hai chương này khá nổi
tiếng nhưng không được hiểu thấu đáo cho lắm. Luca đã viết chúng mô
phỏng theo Cựu Ước. Giống như thể hai chương này là phần kết của Cựu
Ước để mở ra cho sự xuất hiện của Tân Ước. Trong những chương này,
Luca tạo ra một bầu không khí êm ái và tán dương. Từ đầu chí cuối,
lòng thương xót của Thiên Chúa được ca tụng, Thiên Chúa là Đấng cuối cùng đã đến
để thực thi lời hứa của Người. Luca cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã
hoàn tất phần Cựu Ước và khởi đầu phần Tân Ước như thế nào. Và Chúa
ưa chuộng các kẻ khó khăn, kẻ nghèo hèn, những người biết cách chờ đợi cho việc
xuất hiện của Người: bà Êlisabéth, ông Giacaria, Đức Maria, thánh
Giuse, ông cụ Simêon, bà cụ Anna và các mục đồng. Đó là lý do tại
sao hai chương đầu tiên thuật lại lịch sử nhưng không phải trong ý nghĩa mà
ngày nay chúng ta gán cho lịch sử. Chúng gần như là sự phản chiếu mà
các chương ấy được viết cho những Kitô hữu thuộc dân ngoại, có thể khám phá ra
được Đức Giêsu là ai và làm cách nào mà Người đã đến để thực thi lời các tiên
tri trong Cựu Ước, đáp ứng được những nguyện vọng sâu xa nhất của tâm hồn con
người. Những chương này cũng là một sự phản chiếu các sự việc đã xảy
ra trong các cộng đoàn vào thời Luca. Các cộng đoàn bắt nguồn từ dân
ngoại sẽ được sinh ra bởi các cộng đoàn người Do Thái cải đạo. Tuy
nhiên đây là những khác biệt. Thời Tân Ước không tương ứng với những
gì Cựu Ước đã mường tượng và mong mỏi. Đó là “dấu hiệu của sự mâu
thuẫn” (Lc 2:34), đã gây ra các căng thẳng và là nguồn gốc của nhiều đau khổ. Trong
thái độ của Đức Maria, Luca trình bày một mô hình về làm cách nào các cộng đoàn
có thể phản ứng và kiên trì trong thời Tân Ước.
ii) Chìa
khóa dẫn đến bài đọc:
Trong hai chương này,
Luca trình bày Đức Maria như một gương mẫu cho đời sống cộng
đoàn. Điều quan trọng ban cho chúng ta trong cảnh nơi có người phụ nữ
trong đám đông đã ca ngợi thân mẫu Đức Giêsu. Chúa Giêsu cải sửa lời
khen ngợi ấy và nói rằng: “Phúc thay cho những kẻ biết lắng nghe
và tuân giữ Lời Chúa!” (Lc 11:27-28). Nơi đây hàm chứa sự
cao trọng của Đức Maria. Đó là sống trong thế gian mà Đức Maria biết
cách liên kết với Lời Chúa mà cộng đoàn chiêm niệm một cách chính xác hơn trong
sự liên kết với Lời Chúa: tiếp nhận, thể hiện, sống, đào sâu, suy niệm,
sinh sản và làm tăng trưởng, để cho chính mình được Lời Chúa làm chủ cho dù có
khi không hiểu hoặc phải chịu đau khổ vì nó. Đây là viễn ảnh hàm chứa
trong văn bản của chương 1 và 2 của Tin Mừng Luca, nói về Đức Maria, thân mẫu
Chúa Giêsu.
iii) Áp
dụng của chìa khóa vào văn bản:
1. Lc
1:26-38:
Truyền Tin: “Tôi xin vâng như lời thiên thần truyền!”
Mở lòng để Lời Chúa được
tiếp nhận và nhập thể.
2. Lc
1:39-45:
Đi viếng bà
Êlisabéth: “Phúc cho bà là
kẻ đã tin!”
Nhận ra Lời Chúa trong
các sự việc của đời sống.
3. Lc
1:46-56:
Bài ca Ngợi Khen
(Magnificat): “Đấng Toàn
Năng đã làm cho tôi những sự trọng đại!”
Bài thánh ca hy vọng
mang tính chất phá vỡ và chịu đựng.
4. Lc
2:1-20:
Chúa Ra Đời: “Bà ghi nhớ tất cả những sự việc này và
suy niệm trong lòng.”
Không có chỗ cho họ. Những
kẻ bị xã hội khinh khi chào đón Ngôi Lời.
5. Lc
2:21-32:
Tiến Dâng Chúa
Giêsu cho Thiên Chúa: “Chính
mắt con đã được thấy ơn cứu độ!”
Những năm tháng của đời
sống làm thanh sạch con mắt.
6. Lc
2:33-38:
Ông Simêon và bà
Anna: “Một lưỡi gươm sẽ
đâm thấu tâm hồn bà”
Là một người Kitô hữu
có nghĩa là một dấu hiệu của sự mâu thuẫn.
7. Lc
2:39-52:
Vào năm Chúa mười
hai tuổi: “Cha mẹ không biết
là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”
Họ không hiểu Lời Chúa
nói với họ!
iv) Những
tương phản nổi bật trong đoạn Tin Mừng của chúng ta:
1. Trong
bóng tối của đêm đen có ánh sáng tỏa chiếu (2:8-9).
2. Thiên
đàng trên trời dường như ôm lấy trần thế của chúng ta dưới đây (2:13).
3. Sự cao
trọng của Thiên Chúa được thể hiện nơi một hài nhi nhỏ bé mong manh (2:7)
4. Vinh
quang của Thiên Chúa được hiện diện trong máng cỏ, bên cạnh với súc vật (2:16).
5. Nỗi kinh
sợ tạo ra bởi sự hiện ra đột ngột của thiên thần và được biến đổi thành niềm
vui mừng (2:9-10).
6. Những kẻ
hoàn toàn bị thiệt thòi là những người được mời đầu tiên (2:8).
7. Các mục
đồng nhận thức được Thiên Chúa hiện diện trong một hài nhi mới sinh (2:20).
6. Cầu nguyện với Thánh Vịnh 23 (22)
“CHÚA là mục tử
chăn dắt tôi!”
CHÚA là mục tử chăn dắt
tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.
Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
và bổ sức cho tôi.
Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.
Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Chúa dọn sẵn cho con bữa
tiệc ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.
7. Lời Nguyện Kết
Lạy Chúa Giêsu, chúng
con xin cảm tạ Chúa về Lời Chúa đã giúp chúng con hiểu rõ hơn ý muốn của Chúa
Cha. Nguyện xin Thần Khí Chúa soi sáng các việc làm của chúng con và
ban cho chúng con sức mạnh để thực hành Lời Chúa đã mặc khải cho chúng
con. Nguyện xin cho chúng con, trở nên giống như Đức Maria, thân mẫu
Chúa, không những chỉ lắng nghe mà còn thực hành Lời Chúa. Chúa là Đấng
hằng sống hằng trị cùng với Đức Chúa Cha trong sự hiệp nhất với Chúa Thánh Thần
đến muôn thuở muôn đời. Amen.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét