Trang

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

20.08.2026: THỨ NĂM TUẦN XX THƯỜNG NIÊN - THÁNH BÊNAĐÔ, VIỆN PHỤ, TIẾN SĨ HỘI THÁNH - Lễ Nhớ

 


20/08/2026

 Thứ Năm tuần 20 thường niên.

 Thánh Bênađô, viện phụ, tiến sĩ Hội Thánh.

 Lễ nhớ. 

 


Thánh nhân sinh năm 1090 gần Đi-giông, nước Pháp. Được giáo dục theo nếp sống đạo đức, năm 1111, người nhập dòng các đan sĩ Xitô. Ít lâu sau, người được chọn làm viện phụ. Người đã dùng hoạt động và gương sáng để hướng dẫn các đan sĩ tập luyện các nhân đức. Vì có sự phân ly trong Hội Thánh, người đã đi khắp châu Âu để lo vãn hồi sự hòa bình và hiệp nhất. Người đã biên soạn nhiều tác phẩm thần học và tu đức. Người qua đời năm 1153.

 

Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 36, 23-28

“Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, và đặt giữa các ngươi một thần trí mới”.

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Ðây Chúa phán: Ta sẽ thánh hoá danh cao cả Ta đã bị xúc phạm giữa các dân tộc, nơi mà các ngươi đã xúc phạm danh thánh Ta, để các dân tộc biết Ta là Chúa, Thiên Chúa các đạo binh phán, khi Ta tự thánh hoá nơi các ngươi trước mặt họ. Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ các nước, và dẫn dắt các ngươi trên đất các ngươi. Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ. Ta sẽ thanh tẩy các ngươi sạch mọi vết nhơ các bụt thần. Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt. Ta đặt thần trí Ta giữa các ngươi, làm cho các ngươi thực thi các huấn lệnh Ta, làm cho các ngươi tuân giữ và thực hành các lề luật Ta. Các ngươi sẽ cư ngụ trong xứ Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ là dân Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 50, 12-13. 14-15. 18-19

Ðáp: Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ (Ed 36, 25).

Xướng: Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.

Xướng: Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ; với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài.

Xướng: Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung.

 

Alleluia: Tv 147, 12a và 15a

Alleluia, alleluia! – Giêrusalem, hãy ngợi khen Chúa, Ðấng đã sai Lời Người xuống cõi trần ai. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 22, 1-14

“Các ngươi gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu lại phán cùng các đầu mục tư tế và kỳ lão trong dân những dụ ngôn này rằng: “Nước Trời giống như vua kia làm tiệc cưới cho hoàng tử. Vua sai đầy tớ đi gọi những người đã được mời dự tiệc cưới, nhưng họ không chịu đến. Vua lại sai các đầy tớ khác mà rằng: “Hãy nói cùng những người đã được mời rằng: Này ta đã dọn tiệc sẵn rồi, đã hạ bò và súc vật béo tốt rồi, mọi sự đã sẵn sàng: xin mời các ông đến dự tiệc cưới”. Nhưng những người ấy đã không đếm xỉa gì và bỏ đi: người thì đi thăm trại, người thì đi buôn bán, những người khác thì bắt đầy tớ vua mà nhục mạ và giết đi. Khi vua nghe biết, liền nổi cơn thịnh nộ, sai binh lính đi tru diệt bọn sát nhân đó, và thiêu huỷ thành phố của chúng. Bấy giờ vua nói với các đầy tớ rằng: “Tiệc cưới đã dọn sẵn sàng, nhưng những kẻ đã được mời không đáng dự. Vậy các ngươi hãy ra các ngả đường, gặp bất cứ ai, thì mời vào dự tiệc cưới”. Các đầy tớ liền đi ra đường, gặp ai bất luận tốt xấu, đều quy tụ lại và phòng cưới chật ních khách dự tiệc.

Ðoạn vua đi vào quan sát những người dự tiệc, và thấy ở đó một người không mặc y phục lễ cưới. Vua liền nói với người ấy rằng: “Này bạn, sao bạn vào đây mà lại không mặc y phục lễ cưới?” Người ấy lặng thinh. Bấy giờ vua truyền cho các đầy tớ rằng: “Trói tay chân nó lại, ném nó vào nơi tối tăm, ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng!” Vì những kẻ được gọi thì nhiều, còn những kẻ được chọn thì ít”.

Ðó là lời Chúa.

 


Chú giải về Ê-dê-ki-en 36,23-28

Bài đọc hôm nay trình bày một lời sấm ngôn hướng về các núi đồi Israel, một lời hứa rằng rốt cuộc mọi sự sẽ tốt đẹp. Qua vị ngôn sứ của mình, Thiên Chúa bày tỏ mong muốn rằng sự thánh thiện của danh Ngài phải được tỏ lộ rõ ​​ràng giữa muôn dân thiên hạ. Danh Ngài đã bị các dân tộc vô tín xúc phạm, nhưng chính Israel cũng đã làm ô danh Ngài ngay trước mặt họ. Họ đã là những chứng nhân rất tồi về sự thánh thiện của Đức Chúa (Yahweh).

Nhưng giờ đây, "muôn dân sẽ biết Ta là Đức Chúa". Đây là mục đích tối hậu trong các kế hoạch của Thiên Chúa, và ý muốn của Ngài là qua Israel, toàn thế giới sẽ biết và nhìn nhận Thiên Chúa đích thực. Chúng ta cũng cầu nguyện điều này mỗi khi đọc Kinh Lạy Cha:

Danh Cha cả sáng; Nước Cha trị đến; Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời...

Để điều này xảy ra, dân của Thiên Chúa phải được đưa ra khỏi cảnh lưu đày giữa các dân ngoại và được đưa trở về quê hương mình. Ở đây, vị ngôn sứ đang nói về việc những người lưu đày trở về Jerusalem.

Nhưng Thiên Chúa sẽ không dừng lại ở việc chỉ khôi phục quê hương cho họ. Sẽ còn có một sự đổi mới về mặt tâm linh. Đức Chúa sẽ rưới nước thanh sạch trên họ để tẩy sạch mọi sự nhơ bẩn và thanh luyện họ khỏi mọi thói thờ ngẫu tượng.

Hơn nữa, họ sẽ được ban cho một trái tim mới và một thần khí mới. Trái tim bằng đá của họ sẽ được thay thế bằng một trái tim bằng thịt ấm nóng, biết đập nhịp sống. Trong Cựu Ước, từ "xác thịt" thường tượng trưng cho sự yếu đuối, còn trong Tân Ước, nó thường đại diện cho bản tính tội lỗi như một thế lực chống lại những gì thuộc về tâm linh đích thực. Tuy nhiên, ở đây, nó được đặt tương phản với đá để chỉ một trái tim ấm nóng, biết cảm nhận và biết vâng phục.

Cụm từ "Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi" (tức là Thần Khí của Thiên Chúa) được Kinh Thánh Jerusalem giải thích như sau:

Thần khí (hơi thở) của Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và ban sự sống, tác động lên con người để ban cho họ sức mạnh phi thường. Đặc điểm của thời đại Đấng Messiah là sự tuôn đổ Thần Khí một cách phi thường trên mọi người, ban cho họ những ân sủng đặc biệt. Nhưng mầu nhiệm hơn nữa, đối với mỗi người lãnh nhận, Thần Khí sẽ là nguồn mạch cho sự đổi mới nội tâm, giúp họ có thể tuân giữ trung thành các luật lệ của Thiên Chúa; Như vậy, Thần Khí sẽ là nguồn lực khơi dậy giao ước mới; tựa như dòng nước ban sự sống, Ngài sẽ nuôi dưỡng những hoa trái của sự chính trực và thánh thiện, qua đó đảm bảo ân sủng và sự che chở của Thiên Chúa dành cho con người. Việc tuôn đổ Thần Khí này sẽ được thực hiện nhờ Đấng Messiah – Đấng đầu tiên lãnh nhận Thần Khí để hoàn tất công trình cứu độ của mình.

Sự hiện diện đầy năng động và hiệu quả của Thần Khí mới này sẽ được biểu lộ qua thái độ đáp lại của dân chúng, qua việc họ tuân giữ luật Chúa và thực thi thánh ý Ngài trong mọi sự. Khi ấy, lời hứa giao ước sẽ một lần nữa được hiện thực hóa:

…các ngươi sẽ là dân của Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi.

Đây cũng chính là mục đích tối hậu của Giáo hội với tư cách là khí cụ của Nước Trời: làm cho sự thánh thiện nơi danh Chúa được muôn dân khắp nơi nhìn nhận. Để đạt được điều đó, chúng ta – những thành viên của Giáo hội – luôn cần một trái tim mới, một trái tim bằng thịt, và một thần khí mới. Chúng ta cần điều này cả trên phương diện cộng đoàn lẫn cá nhân.

Chúng ta hãy cầu nguyện để cộng đoàn mà chúng ta là thành viên, cũng như mỗi cá nhân trong cộng đoàn ấy, được trải nghiệm sự đổi mới không ngừng nơi tâm hồn và thần khí. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể trở thành những khí cụ đắc lực để loan báo Tin Mừng cho tất cả những ai đang khao khát tìm kiếm ý nghĩa và tầm nhìn cho cuộc đời mình.

 


Chú giải về Tin Mừng Mát-thêu 22,1-14

Trong các bài đọc, chúng ta đã chuyển từ chương 20 sang chương 22 để đọc một dụ ngôn khác về Nước Trời—một dụ ngôn có liên hệ mật thiết với câu chuyện về những người làm công trong vườn nho mà chúng ta đã suy niệm hôm qua.

Hôm qua, vấn đề là sự bất bình trước lòng quảng đại của Thiên Chúa dành cho những người đến sau trong Nước Ngài. Hôm nay, trọng tâm lại là nỗi buồn phiền trước việc các nhà lãnh đạo Do Thái giáo từ chối đón nhận Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a và là Chúa. Dụ ngôn này giống như một bản tóm tắt lịch sử và mang tính chất ngụ ngôn (ẩn dụ) nhiều hơn là một dụ ngôn thông thường.

Nhà vua (Thiên Chúa) tổ chức tiệc cưới (niềm hạnh phúc của thời đại Mê-si-a) cho con trai mình (Đức Giê-su, Đấng Mê-si-a). Nhưng khi Ngài mời mọi người (dân Do Thái) đến dự, họ lại từ chối và đưa ra đủ mọi lý do thoái thác. Một số người thậm chí còn tấn công các tôi tớ và sứ giả của nhà vua (các ngôn sứ và những người loan báo Tin Mừng thời sơ khai).

Nhà vua nổi giận và:

…sai quân lính đi tiêu diệt bọn sát nhân ấy và thiêu rụi thành phố của chúng.

Đây chắc chắn là sự ám chỉ đến quân đội La Mã dưới quyền hoàng đế Titus, lực lượng đã tấn công và tàn phá Giê-ru-sa-lem vào năm 70 sau Công nguyên. Đền Thờ—trái tim của Do Thái giáo—cũng bị phá hủy, cướp bóc và chưa bao giờ được xây dựng lại kể từ đó. Ngày nay, một thánh đường Hồi giáo đang tọa lạc ngay tại địa điểm này.

Vì những khách được mời không chịu đến, các tôi tớ (những môn đệ người Do Thái của Đức Giê-su) được lệnh đi ra và mời bất cứ ai họ gặp:

Các đầy tớ ấy đi ra đường, quy tụ tất cả những ai họ gặp, bất kể tốt xấu, khiến phòng tiệc cưới chật kín khách.

Mọi người đều được mời gọi—cả người tốt lẫn kẻ tội lỗi.

Cao trào của câu chuyện thoạt nghe có vẻ hơi bất công. Người ta được mời vào từ khắp các nẻo đường, vậy mà lại có một người bị kết án chỉ vì không mặc y phục lễ cưới! Tuy nhiên, thực tế là dụ ngôn này đã chuyển hướng sang chủ đề phán xét chung cuộc. Có thể Mát-thêu đã kết hợp hai dụ ngôn riêng biệt ban đầu thành một câu chuyện duy nhất.

Y phục lễ cưới rõ ràng tượng trưng cho đức tin và bí tích Rửa Tội, kết hợp với một đời sống thực thi cam kết theo Tin Mừng; đây là điều kiện cần thiết để được đón nhận vào niềm hạnh phúc vĩnh cửu của Nước Trời.

Như lời Đức Giê-su phán ở phần kết:

Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít.

Nhiều người đã được gọi và mời đến dự tiệc, nhưng họ còn được đòi hỏi nhiều hơn thế nữa. Họ phải đáp lại lời mời gọi bằng cách nói lời “Xin vâng” dứt khoát với Chúa Giêsu. Chỉ chịu phép rửa và mang danh xưng là “Kitô hữu” hay “người Công giáo” thôi thì chưa đủ. Chúng ta còn phải thể hiện trong đời sống và các mối tương quan của mình những điều mà chúng ta tuyên xưng là mình tin tưởng.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o2205g/

 

 


Suy Niệm: Tiệc Cưới, Áo Cưới

Dụ ngôn tiệc cưới và chiếc áo cưới trong Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta mặc lấy một trong những tâm tình cơ bản nhất của Kitô giáo, đó là hân hoan, vui mừng. Kitô giáo thiết yếu là đạo của Tin Mừng.

Trong rất nhiều sinh hoạt và hình ảnh của cuộc sống, Chúa Giêsu đã chọn bữa ăn như dấu chỉ ưu việt nhất để rao giảng Tin Mừng của Ngài. Nước Trời giống như một tiệc cưới, đây là một trong những hình ảnh được Chúa Giêsu sử dụng nhiều nhất để nói lên niềm vui của Nước Trời. Chúa Giêsu cũng mặc cho bữa tiệc của Ngài một ý nghĩa tượng trưng đặc biệt. Chúng ta chỉ cần nhớ lại tiệc cưới Cana, trong đó Chúa Giêsu đã biến nước thành rượu để khách dự tiệc được tiếp tục cuộc vui. Ngài dự tiệc do Lêvi, do Zakêu và rất nhiều người thu thuế khoản đãi; Ngài đồng bàn với họ, chia sẻ một tấm bánh và uống một chén rượu với họ.

Không những đồng bàn với những người tội lỗi, Chúa Giêsu cũng không từ chối lời mời của những người Biệt phái, những người giàu có. Ngài chia sẻ bữa ăn thân thiết với gia đình Marta, Maria và Lazarô tại Bêtania. Ngài thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong bữa ăn cuối cùng của Ngài với các môn đệ. Sau khi sống lại, Ngài ngồi đồng bàn với hai môn đệ trên đường Emmau. Ngài hiện ra trên bờ hồ và chuẩn bị bữa ăn cho các môn đệ, rồi Ngài cùng ăn cùng uống với các ông.

Bữa ăn là nơi thể hiện của những giá trị cao quí nhất trong cuộc sống của con người, như gặp gỡ, hiệp thông, trao ban, chia sẻ, hân hoan. Chính vì ý nghĩa cao quí ấy, Chúa Giêsu đã mượn hình ảnh bữa tiệc để nói lên những thực tại Nước Trời. Ðến đây, chúng ta hiểu được ý nghĩa của hình ảnh chiếc áo cưới mà thực khách phải mặc vào khi dự tiệc cưới. Chiếc áo cưới ấy chính là tâm tình gặp gỡ, chia sẻ, trao ban, hân hoan mà con người phải mặc lấy để thuộc về Nước Trời.

Có người đã tưởng tượng ra Thiên đàng, hỏa ngục như hai bàn tiệc. Bàn tiệc dưới hỏa ngục cũng mâm cao cỗ đầy, thế nhưng khách dự tiệc thì ngồi ủ rũ buồn thiu, bởi vì mỗi người đều cầm trong tay một đôi đũa dài đến độ thức ăn thì gắp được, nhưng không thể đưa thức ăn vào miệng. Bàn tiệc trên Thiên đàng cũng y hệt, nhưng khác một điều, là thay vì gắp thức ăn cho vào miệng mình, người ta lại gắp thức ăn và đưa vào miệng người đối diện, thế là vui vẻ cả, vì ai cũng được ăn uống no nê.

Ước gì niềm vui bàn tiệc thánh mà chúng ta tham dự cũng được tiếp tục thể hiện trong đời thường của chúng ta. Ước gì cả cuộc sống chúng ta luôn được diễn ra trong gặp gỡ, chia sẻ, trao ban, vui tươi, nhờ đó chúng ta cảm nhận được niềm vui đích thực của Nước Trời và thắng vượt được mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

 


Ngày 20/8: Thánh Bê-na-đô – Viện phụ – Tiến sĩ Hội thánh (1090-1153)

Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh Bênađô, qua đời ngày 20 tháng 8 năm 1153 tại Claivaux, phong thánh năm 1174 và được tuyên bố là tiến sỹ Hội thánh năm 1830, đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên một phần lớn thế kỷ XII mà người ta mệnh danh cách chính đáng là “thời kỳ thánh Bernard ”. Vì thánh nhân thực sự là một trong những nhân vật chính của phương Tây Kitô giáo và mãi tới nay, vẫn thuộc số những vị thánh được yêu mến nhất.

Bênađô người Clairvaux sinh năm 1090 tại Fontaine-lès-Dijon, trong một gia đình lãnh chúa quyền quí. Thân phụ, ông Tescelin, là lãnh chúa Fontaine hiệp sỹ của quận công Bourgogne và thân mẫu, phu nhân Alets de Montbard, có nhiều con và con thánh. Bà Aleth sẽ được tôn phong là chân phước. Hai mươi ba tuổi, Bênađô quyết định trở thành tu sỹ dòng Xi-tô lúc ấy đang dưới quyền điều khiển của thánh Etienne Harding tu viện trưởng. Bề trên tu viện đang buồn bã vì thiếu thỉnh sinh tu dòng thì Bênađô tới, kéo theo ba mươi thanh niên quí tộc, trong đó một số là anh em. Ông bố và các anh em khác sẽ tiếp theo sau..

Sau ba năm tu tại Xi-tô, năm 1115, Bênađô được sai đến làm tu viện trưởng, thành lập dòng tại Clairvaux và sẽ làm bề trên tại đó cho đến lúc chết. Người chăm chú cuộc đời trong chiêm niệm nhưng đồng thời cũng chuyên tâm giảng thuyết và hoạt động, bươn chải khắp các nẻo đường nước Pháp, nước Đức và nước Ý, giảng rao về an bình, nhưng cũng tuyên truyền cho cuộc thập tự sinh thứ hai (Véjelay 1146) theo yêu cầu của Đức giáo hoàng Eugène III từng là tu sỹ Clairvaux. Suốt thời làm tu viện trưởng, thánh Bênađô chỉ chuyên trách về toàn dòng Xi-tô và đã thành lập sáu mươi tám nhà dòng mới. Cùng thời gian đó, trên hầu khắp châu Âu xuất hiện nhiều nhà dòng mới, đến nỗi năm 1153 khi thánh nhân qua đời, đã có tới ba trăm bốn mươi ba nhà. Vậy nên người ta có lý khi gọi Người là vị sáng lập thứ hai Dòng Xi-tô.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày: “Lạy Chúa, Chúa đã muốn thánh Bênađô được tràn đầy lòng yêu mến Giáo hội Chúa, trở trên ngọn đèn sưởi ấm và chiếu sáng trong nhà Chúa”. Đây là điểm đặc trưng thứ nhất của vị thánh viện phụ mà người ta, xét theo tính lịch sử, gọi là thánh giáo phụ cuối cùng căn cứ vào nền giáo lý của Ngài phù hợp với Thánh kinh phụng vụ và truyền thống Giáo hội. Bênađô đã rời bỏ lâu đài Fontaine để đến tu tại viện ở Xi-tô nơi đây các tu sỹ sống nghiêm nhặt tuân thủ qui luật thánh Biển Đức. Đức viện phụ Robert de Molesme đã xây dựng tu viện nổi tiếng này năm 1098, cùng với thánh Etienne Harding và thánh Albéric. Anh sáng của thánh tiến sỹ Bênađô rạng rỡ một cách đặc biệt trong các tác phẩm thần học và tu đức, chẳng hạn cuốn Luận về ân sủng và tự do ý chí. Cuộc thăng tiến của linh hồn tiến Chúa, các bài giảng về cuốn Diễm ca, và trong tuyệt tác của Người, cuốn Luận về tình yêu Thiên Chúa. Trong những cuộc tranh luận với thuyết duy lý của Abélard cho rằng “biết mọi sự trên trời dưới đất, chỉ trừ động từ không biết”, thánh Bênađô trình bày một nền giáo lý in đậm một nền thần bí điều độ và bình tĩnh.

Điệp khúc của thánh thi Zacharie lập lại đề tài của lời nguyện trong ngày: “Ôi lạy thánh Bênađô, sức sáng rạn rỡ của Ngôi Lời đã chiếm được hồn Ngài, nên Ngài đã trải ánh khôn ngoan và đức tin trên khắp Giáo hội”.

Lời nguyện trên lễ vật nhấn mạnh một khía cạnh khác trong nhân cách thánh Bênađô, đấng được gọi là “tiến sỹ ngọt ngào” đã “làm hết sức bằng lời nói và hành động để giúp xây dựng trật tự và bình an”. Quả thế năm 1130, khi ở Roma xảy ra việc chia rẽ giữa ngụy giáo hoàng Anaclet II với Đức giáo hoàng Innocent II, Thánh Bênađô đã chạy Đông chạy Tây khắp châu Âu hầu đem lại bình an cho Giáo hội. Cũng trong mục đích đó, ngài liên tục chống các lạc giáo đang làm tan nát giáo đoàn Kitô, đến nỗi người ta gọi Ngài là “cái búa đánh bọn lạc giáo”.

Lời nguyện tạ lễ khẩn cầu Chúa ban cho chúng ta được “tình yêu đối với Ngôi Lời nhập thể thu phục”, được cổ võ bởi gương sáng và lời khuyên của thánh Bênađô là một nhà thần bí lớn. Cuốn Luận về tình yêu Thiên Chúa đích thực là sự minh họa rõ ràng nhất: trong tác phẩm, thánh nhân đã nhiệt tình mô tả lịch sử của Ngôi Lời, cuộc đời Đức Kitô từ khởi thủy trong chốn vĩnh hằng, đồng thời cũng ca ngợi Mẹ Đức Kitô một cách tuyệt mỹ. Giáo thuyết của tình yêu cảm tính được phát triển trong một nền linh đạo lấy Đức Kitô làm trọng tâm.

Con người vốn yêu mến tình bạn và thường thúc giục: “chúng ta hãy cứ thương yêu nhau đi và sẽ được yêu thương”, con người ấy là một nhà linh hướng tâm hồn vĩ đại, bị thúc đẩy bởi tình yêu thúc bách nhất, đồng thời cũng dịu dàng nhất. Phát biểu với các ông hoàng, vua chúa, các giám mục, các giáo hoàng, Ngài thường nói: “Nếu các ngài không nghe tôi, tôi sẽ nhắc lại những lời của Gióp: Người nào không cảm thấy thương bạn mình thì đã đánh mất lòng kính sợ Thiên Chúa”. Bài ca vãng của thần vụ ca ngợi nỗi hoài cảm siêu tuyệt và dịu dàng của linh hồn đối với Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng chí ái của chúng ta: “Ngài đi đâu rồi ? Ta nào có biết / nhưng hồn ta mãi bị tổn thương, do tình yêu đối với Ngài” (Thần vụ trong ngày). Thánh Bênađô, con người bị nồng nhiệt thiêu đốt bởi tình yêu đó đã đi qua thế kỷ của Ngài như một “ngọn đèn sưởi ấm và chiếu sáng” và qua các thời gian vẫn không ngừng nhắc nhở chúng ta điều cốt lõi trong nền Giáo lý của Ngài: “Khi Chúa yêu thương, Chúa không muốn điều gì khác ngoài việc được yêu … Nhưng sao Đấng tình yêu lại không được yêu kia chứ?” (Phụng vụ bài đọc: Bài giảng thánh Bênađô về sách Diễm ca).

Enzo Lodi

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét