Trang

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

21.08.2026: THỨ SÁU TUẦN XX THƯỜNG NIÊN - THÁNH PIÔ X, GIÁO HOÀNG - Lễ Nhớ

 


21/08/2026

Thứ Sáu tuần 20 thường niên.

Thánh Piô 10, giáo hoàng.

Lễ nhớ

 


Thánh nhân sinh năm 1835 tại Ri-ê-sê, nước Ý. Sau khi làm linh mục, người dấn thân thi hành việc mục vụ. Người làm giám mục Man-tô-va, rồi làm thượng phụ giáo chủ Vê-nê-xi-a và cuối cùng, năm 1903, được chọn làm giáo hoàng. Người chu toàn bổn phận của mình theo khẩu hiệu người đã chọn: “Canh tân mọi sự trong Chúa Kitô” với lòng đơn sơ, đời sống thanh bần và can đảm. Cùng với những đức tính ấy, người đã giúp các tín hữu sống đạo nhiệt thành và đối phó với những sai lầm đang lan tràn trong Hội Thánh. Người qua đời ngày 20 tháng 08 năm 1914.

 

Bài Ðọc I: (Năm II) Ed 37, 1-14

“Hỡi các bộ xương khô, hãy nghe lời Chúa. Ta sẽ dẫn các ngươi ra khỏi mồ, và dẫn dắt các ngươi vào nhà Israel”.

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Trong những ngày ấy, tay Chúa đặt trên tôi, và dẫn tôi đi trong thần trí của Chúa: Người để tôi giữa cánh đồng đầy hài cốt; Người đem tôi đi vòng quanh những hài cốt ấy, có rất nhiều bộ xương khô nằm la liệt trên cánh đồng. Và Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, ngươi nghĩ các xương này sẽ có thể được sống chăng?” Tôi thưa: “Lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa đã biết”. Người liền phán cùng tôi: “Ngươi hãy nói tiên tri về các bộ xương này, và bảo chúng rằng: ‘Hỡi các bộ xương khô, hãy nghe lời Chúa. Chúa là Thiên Chúa phán cùng các bộ xương như thế này: Ðây Ta sẽ khiến hồn nhập vào các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ đặt gân trên các ngươi, sẽ khiến thịt mọc ra trên các ngươi, và cho da bọc các ngươi: Ta sẽ ban hồn cho các ngươi, các ngươi sẽ được sống và biết rằng Ta là Chúa’ “. Tôi đã nói tiên tri như Chúa đã truyền cho tôi.

Ðang lúc tôi nói tiên tri, thì có tiếng ồn ào, và tôi thấy chuyển động: các bộ xương họp lại với nhau, xương ăn khớp với nhau. Tôi quan sát, và này đây, gân và thịt mọc trên các bộ xương: có da bọc lại, nhưng chưa có hồn. Và Chúa phán cùng tôi rằng: “Ngươi hãy nói tiên tri về hồn, hỡi con người, hãy nói tiên tri và bảo hồn rằng: ‘Chúa là Thiên Chúa phán như thế này: Hỡi hồn, hãy từ bốn phương tiến đến’, và thổi hơi trên những kẻ bị giết này, để chúng sống lại”. Tôi đã nói tiên tri như Chúa đã truyền cho tôi. Hồn liền nhập vào chúng và chúng được sống. Chúng đứng thẳng lên làm thành một đạo quân cực kỳ đông đảo.

Và Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, các bộ xương này là toàn thể nhà Israel. Chúng nói rằng: ‘Xương chúng tôi đã khô đét, chúng tôi mất hết hy vọng, chúng tôi đã bị tiêu diệt’. Bởi đó, ngươi hãy nói tiên tri cho chúng rằng: ‘Chúa là Thiên Chúa phán như thế này: Hỡi dân Ta, này Ta sẽ mở các cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ, và dẫn dắt các ngươi vào đất Israel. Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa, lúc Ta mở cửa mồ các ngươi, và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ cho các ngươi an cư trên đất các ngươi, các ngươi biết rằng: Ta là Chúa, chính Ta đã phán và sẽ thi hành’ “.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 106, 2-3. 4-5. 6-7. 8-9

Ðáp: Hãy chúc tụng Chúa, vì đức từ bi Người còn muôn thuở (c. 1).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: Hãy xướng lên, hỡi những người được Chúa thục mạng cho, những người Chúa đã thục mạng khỏi tay quân thù: những người Chúa đã họp lại từ muôn đất nước; từ đông sang tây và từ bắc chí nam. – Ðáp.

Xướng: Xưa họ lạc lõng trong chốn cô liêu hoang địa, không biết đường đi tới thành trì có thể định cư. Lúc bấy giờ họ đói khát, và sinh lực trong người họ hao mòn.

Xướng: Họ kêu cầu cùng Chúa trong lúc khốn cùng, Người đã cứu họ thoát cảnh gian truân. Người dẫn họ đi trên con đường thẳng, để họ tới được thành trì có thể định cư.

Xướng: Những người đó hãy cảm ơn Chúa vì lòng nhân hậu, và những điều kỳ diệu của Người đối với con người ta. Bởi Người đã cho người đói khát được no đủ, người cơ hàn được tràn trề thiện hảo.

 

Alleluia: Mt 11, 25

Alleluia, alleluia! – Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã mạc khải những mầu nhiệm nước trời cho những kẻ bé mọn. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 22, 34-40

“Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi, và yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, những người biệt phái nghe tiếng Chúa Giêsu đã làm cho những người Sađốc câm miệng, thì họp nhau lại. Ðoạn một người thông luật trong nhóm họ hỏi thử Người rằng: “Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất?” Chúa Giêsu phán cùng người ấy rằng: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy, là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi. Toàn thể lề luật và sách các tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó”.

Ðó là lời Chúa.

 


Chú giải về Ê-dê-ki-en 37,1-14

Bài Đọc Một hôm nay là một dạng dụ ngôn về sự phục hưng của dân Israel—một chủ đề tương tự như bài đọc ngày hôm qua. Ngôn sứ không cho biết thời điểm viết đoạn này, nhưng chắc chắn nó phải được viết sau năm 586 TCN, năm Jerusalem bị vua Na-bu-cô-đô-nô-xo tàn phá. Dân Chúa đang sống cảnh lưu đày tại Babylon xa xôi và không nhìn thấy chút hy vọng nào cho tương lai.

Trong thị kiến, Thiên Chúa đặt ngôn sứ vào giữa một thung lũng đầy xương. Những cảnh tượng như vậy hẳn không còn xa lạ, bởi đó là hậu quả của các trận chiến khi quân đội tháo chạy bỏ lại người tử trận nằm đó cho đến khi thi thể phân hủy. Như chúng ta sẽ thấy, những bộ xương này tượng trưng cho tình cảnh dường như vô vọng của Israel trong thời gian lưu đày. Chúng "rất khô", cho thấy chúng đã chết từ lâu và không còn hy vọng hồi sinh. Tuy nhiên, giờ đây Ê-dê-ki-en sắp nhận được một thông điệp hy vọng cho tương lai.

Có lẽ để thử thách đức tin của ông, Thiên Chúa hỏi Ê-dê-ki-en liệu chúng có thể sống lại được không. "Lạy Đức Chúa, Ngài biết rõ điều đó," ngôn sứ đáp lời. Sau đó, ông được lệnh phải nói lời sấm truyền cho chúng:

Hỡi những bộ xương khô, hãy nghe lời Đức Chúa.

Ngoài việc ngỏ lời với con người, Ê-dê-ki-en cũng từng nói với những vật vô tri như núi non và rừng cây, và giờ đây là những bộ xương không còn sự sống. Qua lời ông, Đức Chúa phán với những bộ xương rằng Ngài sẽ ban thần khí vào chúng để chúng được hồi sinh. Từ *ruah* trong tiếng Do Thái được sử dụng ở đây có thể mang nghĩa là thần khí, hơi thở hoặc gió. Chúng sẽ lại có gân, thịt, da và hơi thở. Việc liệt kê bốn yếu tố này biểu thị sự trọn vẹn và hoàn hảo.

Khi Ê-dê-ki-en công bố lời sấm, một tiếng lạch cạch lớn vang lên; các bộ xương kết nối lại thành bộ khung hoàn chỉnh, rồi gân và thịt mọc ra, bao phủ bởi lớp da. Âm thanh đó có thể ám chỉ cảnh các bộ xương ghép lại với nhau hoặc sự hiện diện đầy quyền năng của Thiên Chúa trên chúng.

Tuy nhiên, vẫn chưa có hơi thở hay sự sống. Điều này gợi nhớ lại hai giai đoạn tạo dựng con người trong sách Sáng Thế Ký: trước tiên con người được nặn ra từ bụi đất, sau đó mới nhận lãnh hơi thở sự sống. Sau đó, Ê-dê-ki-ên làm theo lời Chúa dạy:

Hãy tuyên sấm cho hơi thở, hỡi con người, hãy tuyên sấm và nói với hơi thở rằng: Đức Chúa Trời phán thế này: Hỡi hơi thở, hãy đến từ bốn phương trời và thổi vào những người đã chết này...

Rồi tất cả họ đứng dậy và trở thành một đạo quân hùng mạnh.

Kinh Thánh Jerusalem bình giải:

Thiên Chúa loan báo sự phục hưng dân Israel theo tinh thần Đấng Messiah sau những đau khổ của thời lưu đày. Tuy nhiên, qua những hình ảnh được chọn, Ngài cũng đang chuẩn bị tâm trí con người cho ý niệm về sự phục sinh thân xác của mỗi cá nhân—một ý niệm mới chỉ được cảm nhận mơ hồ nơi sách Gióp nhưng lại được khẳng định rõ ràng trong sách Đa-ni-en.

Rõ ràng, những bộ xương sống lại tượng trưng cho Nhà Israel được phục hồi. Trong thời gian lưu đày tại Babylon, họ đã mất hết hy vọng và chìm sâu trong tuyệt vọng:

Xương cốt chúng tôi đã khô cạn, hy vọng đã tiêu tan; chúng tôi hoàn toàn bị cắt đứt.

Đó là cảm giác của họ khi bị chia cắt khỏi quê hương.

Giờ đây, Ê-dê-ki-ên phải loan báo cho họ biết rằng mồ mả của họ sẽ được mở ra và họ sẽ trở về quê hương. Phần cuối của bài đọc này đã chuyển từ hình ảnh chiến trường đầy xương khô sang hình ảnh một nghĩa trang với nhiều ngôi mộ.

Cũng như trong bài đọc hôm qua, Đức Chúa Trời hứa ban Thần Khí của Ngài cho họ, một Thần Khí mang lại sự sống:

Ta sẽ đặt Thần Khí Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ đặt các ngươi trên chính đất đai của mình; bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta, Đức Chúa Trời, đã phán và sẽ thực hiện... (Ê-dê-ki-ên 37,14)

Xét theo ngữ cảnh, rõ ràng Đức Chúa Trời không nói về sự sống lại từ cõi chết ở đây, mà nói về sự phục hồi dân tộc Israel.

Khi đọc đoạn văn đầy kịch tính này, chúng ta có thể liên hệ những hình ảnh đó với hoàn cảnh của người Kitô hữu. Thiên Chúa, qua Đức Giêsu, cũng là nguồn sự sống mới cho chúng ta. Tuy nhiên, do sự bất trung của mình, sự sống ấy có thể trở nên chết đi trong chúng ta. Về mặt tâm linh, chúng ta trở nên khô héo như những bộ xương chết.

Đức Giêsu đã nói rằng Ngài đến chính là để ban cho chúng ta sự sống mới, một sự sống dồi dào hơn. Ngài đã nhiều lần đưa ra lời hứa này trong các sách Tin Mừng và chứng minh điều đó qua sự sống mới mà Ngài ban cho biết bao người: làm cho họ sống lại từ cõi chết, chữa lành những bệnh tật hay khuyết tật nan y, và giải thoát họ khỏi quyền lực của những ảnh hưởng xấu xa. Chúng ta cũng đã được ban sự sống mới qua Bí tích Rửa Tội, nhưng chúng ta cần được không ngừng đổi mới trong tâm hồn và tinh thần. Nguyện xin Chúa không ngừng tuôn đổ Thánh Thần của Ngài vào lòng chúng ta.

 


Chú giải về Tin Mừng Mát-thêu 22,34-40

Tin Mừng Mát-thêu đang dần đi đến cao trào. Những cuộc đối đầu liên tiếp giữa Chúa Giê-su và các nhà lãnh đạo tôn giáo đang dẫn tới cuộc đụng độ quyết định cuối cùng. Điều này đã được mô tả một cách biểu tượng qua dụ ngôn mà chúng ta đã nghe hôm qua.

Tiếp theo dụ ngôn đó trong Tin Mừng Mát-thêu là ba cuộc chạm trán, trong đó các đối thủ của Chúa Giê-su cố gắng gài bẫy Ngài bằng cách cho thấy Ngài đi ngược lại với Luật pháp. Có thể kể đến cảnh nổi tiếng khi Ngài được hỏi liệu có nên nộp thuế cho Xê-da hay không. Câu hỏi được đặt ra theo cách mà dù Ngài trả lời thế nào đi nữa, Ngài cũng sẽ bị coi là nói sai. Sau đó là nhóm Sa-đốc – những người không tin vào đời sau – đã đưa ra vấn đề mà họ cho là nan giải đối với những ai tin vào sự sống lại của kẻ chết.

Trong cả hai trường hợp, Chúa Giê-su đều giải quyết nhanh chóng và dứt khoát với những người chất vấn, khiến họ không còn lời nào để phản bác.

Hôm nay, chúng ta đọc về cuộc chạm trán thứ ba. Nhóm Pha-ri-sêu, vốn rất hả hê khi thấy nhóm Sa-đốc bị Chúa Giê-su làm cho câm nín, nay lại đưa ra thử thách của riêng họ dành cho Ngài. Họ hỏi Ngài:

Thưa Thầy, điều răn nào trong Luật pháp là điều răn trọng nhất?

Đây là vấn đề được các chuyên gia luật pháp bàn luận rất nhiều. Có hơn 600 điều luật, và việc đặt câu hỏi xem điều luật nào quan trọng hơn những điều khác là chuyện thường thấy.

Chúa Giê-su đáp lại rất nhanh chóng; Ngài không dùng lời lẽ của riêng mình mà trích dẫn trực tiếp từ chính Sách Luật. Và câu trả lời của Ngài bao gồm không chỉ một mà là hai điều luật:

Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. (Đệ Nhị Luật 6,5)

Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. (Lê-vi 19,18)

Cả hai điều luật này đều có chung từ "yêu". Cần lưu ý rằng từ được dịch là "yêu" ở đây là động từ *agapeo* (gốc của từ *agape*), chứ không phải *phileo*. *Agape* có thể được mô tả là khao khát mãnh liệt về điều tốt lành hoặc sự an vui cho người khác. Trong khi đó, *philia* lại hàm ý tình bạn và tình cảm thân thiết. Chúng ta không được đòi hỏi phải có tình cảm yêu mến đối với nhau, mà chỉ cần hành động vì lợi ích của người khác, bất kể người đó là ai hay có tính cách thế nào.

Và, qua Tin Mừng (xem Mt 25), chúng ta biết rằng hai điều răn này không chỉ tương đồng mà còn bổ sung cho nhau và không thể tách rời. Nói cách khác, không thể có chuyện yêu mến Thiên Chúa mà lại không yêu thương người lân cận, và ngược lại.

Như vậy, xét cho cùng, Chúa Giêsu đang trả lời câu hỏi của họ về "điều răn trọng nhất" (số ít). Điều răn trọng nhất chính là đồng thời yêu mến Thiên Chúa và yêu thương người lân cận. Và trong Tin Mừng Luca, danh tính của "người lân cận" sẽ được làm sáng tỏ, mặc dù thực tế điều này cũng đã được chỉ rõ sau đó trong Tin Mừng Matthêu:

Ta đói... Ta khát... mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh chị em bé mọn nhất này... là các ngươi đã làm cho chính Ta. (Mt 25,35-40)

Chúa Giêsu phán:

Tất cả Lề Luật và các Ngôn Sứ đều quy về hai điều răn này.

Nói cách khác, toàn bộ giáo huấn của Cựu Ước đều gắn liền với hai điều luật này. Lề Luật nằm trong Ngũ Thư (năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh); các Ngôn Sứ bao gồm cả các ngôn sứ lớn (Isaia, Giêremia, Êzêkiel) và mười hai ngôn sứ nhỏ, cũng như những vị được gọi là ngôn sứ "tiền kỳ" — Giôsuê, Các Thủ Lãnh, Samuel và Các Vua. Ngoài ra còn có các sách Khôn Ngoan.

Chúa Giêsu muốn nói rằng, miễn là một người thực sự yêu mến Thiên Chúa và người lân cận, thì những phần còn lại của Lề Luật sẽ tự nhiên được chu toàn. Thậm chí có những lúc tình yêu ấy sẽ vượt lên trên và chế ngự các yêu cầu của một số luật lệ. Không một hành động nào xuất phát từ tình yêu đích thực lại có thể là tội lỗi.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/

 


Suy Niệm: Ý Nghĩa Ðích Thực Trong Cuộc Sống

Những người theo phái Pharisiêu và phái Sađốc là hai nhóm người luôn đối nghịch với Chúa Giêsu vì Ngài đã nhiều lần mạnh mẽ lên tiếng khiển trách thái độ kiêu căng tự mãn và đạo đức giả của họ. Trước đó, Chúa Giêsu đã tranh luận với nhóm người Sađốc về sự sống lại của những người chết; theo đó thì người Sađốc không tin có sự sống lại ở đời sau, họ cũng không tin vào sự bất diệt của linh hồn cũng như vào sự vĩnh cửu của Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu, qua sự khôn ngoan và tài hùng biện xuất chúng đã chứng minh về sự sống lại ở đời sau và sự bất tử của linh hồn khi Ngài bảo với họ: "Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của những kẻ chết, mà là của kẻ sống" khiến họ phải im miệng. Thấy vậy, những người Pharisiêu thừa cơ hội này mà trách móc Chúa Giêsu với chủ ý tìm ra kẽ hở để buộc tội Ngài bằng cách hỏi Ngài các lề luật của Thiên Chúa, để xem Ngài có hiểu tường tận về lề luật hay không hay cũng chỉ lập lại với những giới răn của Thiên Chúa, bởi vì những người Pharisiêu luôn tự mãn cho rằng họ hiểu rõ lề luật và các tập tục lễ nghi tôn giáo của dân Do Thái. Họ đã bỏ ra nhiều năm trời để học hỏi sáu trăm mười ba điều răn trong Cựu Ước và vô số điều luật khác. Trước câu hỏi của người luật sĩ về điều răn nào lớn hơn hết, Chúa Giêsu đã không trích dẫn một điều răn nào trong Mười Ðiều Răn mà Thiên Chúa đã mạc khải với ngôn sứ Môsê trên núi Sinai, mà chỉ tóm lược tất cả trong một điều răn lớn nhất là điều răn yêu thương: "Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi, và ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình".

Qua câu trả lời này, Chúa Giêsu thay vì trích dẫn Mười Ðiều Răn trên núi Sinai, là một loạt những điều cấm đoán làm những việc tội lỗi với mục đích giữ dân Do Thái sống trong hồng ân của Ngài, thì Chúa Giêsu lại đưa ra một điều răn mới tích cực và có sức tác động hơn đó là yêu thương bằng với tất cả tâm hồn khiêm tốn. Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy biết yêu mến Thiên Chúa với tất cả tâm hồn vì Thiên Chúa là Ðấng tạo dựng vũ trụ. Ngài là sự toàn thiện và cội nguồn của tình yêu. Thiên Chúa đã yêu thương nhân loại trước hết và tình yêu mến của chúng ta đối với Ngài là tất cả lời tích cực nhất về những hồng ân cao cả và lòng quảng đại bao la của Ngài. Tình yêu thương đối với những người thân cận vì thế cũng bắt rễ từ tình yêu Thiên Chúa.

Tất cả các giới răn của Chúa Giêsu trong toàn bộ Tân Ước cũng chỉ xoay quanh theo chiều hướng lòng yêu mến những người thân cận không thể nào tách rời khỏi tình yêu mến đối với Thiên Chúa, vì khi yêu mến người anh em là những người mà Thiên Chúa yêu thương có nghĩa là chúng ta thực sự yêu mến Thiên Chúa; ngược lại, thù ghét người anh em là chúng ta thù ghét và đối nghịch lại với Thiên Chúa. Khi chúng ta thực sự yêu mến người anh em của mình, tức là chúng ta sống trong tình yêu mến của Thiên Chúa và như thế tình yêu của Thiên Chúa trở nên toàn thiện trong chúng ta.

Lời răn yêu thương trong Phúc Âm hôm nay giúp chúng ta tìm thấy ý nghĩa đích thực trong cuộc sống, đó là trở nên toàn thiện trong tình yêu thương và trong sự hiệp nhất của Thiên Chúa. Ðây chính là lý tưởng sống cao cả của người tín hữu Kitô. Thêm vào đó, đức tin và lòng hy vọng vào tình yêu và lời hứa cứu rỗi của Chúa Giêsu là những động lực làm tăng trưởng tình yêu mến trong tâm hồn chúng ta, giúp chúng ta luôn sống hiệp nhất với người anh em và với Thiên Chúa. Khi chúng ta càng hiểu biết về Thiên Chúa, thì chúng ta càng yêu mến Ngài nhiều hơn. Thiên Chúa thông qua hồng ân của Chúa Thánh Linh ban cho chúng ta sự tự do đích thực để yêu thương như Ngài yêu thương, như thánh Phaolô tông đồ nói trong thư gửi tín hữu thành Rôma: "Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta".

Lạy Chúa,

Vì tình yêu của Chúa vượt lên trên hết mọi sự trên thế gian này, xin hãy đổ tràn tình yêu của Chúa vào trong con tim chúng con cũng như Chúa cho đức tin và lòng hy vọng trong chúng con thêm lớn mạnh. Xin dạy cho chúng con biết quảng đại hiến mình trong các công việc từ thiện và cho những người anh em khác như Chúa đã hy sinh vì chúng con.

 

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

 


Ngày 21/8: Thánh Pi-ô X – Giáo hoàng (1830-1914)

Lễ nhớ buộc

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Đức thánh giáo hoàng Piô X, qua đời tại Roma ngày 21 tháng tám năm 1914, phong thánh năm 1954, nhắc ta nhớ tới một giai đoạn rối rắm và đau thương trong lịch sử Giáo hội. Các lý thuyết duy lý, duy tân và Jansenis đe dọa đức tin nguyên truyền trong lúc lửa chiến tranh thế giới thứ nhất trên đà bộc phát.

Giuseppe Sarto sinh năm 1835 tại Riese, một làng nhỏ miền Vénétie, là con một gia đình nông dân tầm thường. Sau những năm học chủng viện ở Padoua, thầy Giuseppe Sarto thụ phong linh mục, rồi lần lượt làm phó xứ, cha sở, giám mục Manton, giáo chủ Venise và hồng y năm 1893. Tại hội nghị hồng y năm 1903, Ngài được bầu kế vị Đức Lêô XIII. Triều giáo hoàng của Ngài nổi bật với những cải tổ phụng vụ liên quan đến sách nhật tụng, Phép Thánh thể, bình ca và việc rước lễ thường xuyên. Ngài cũng cho ấn hành một cuốn giáo lý mới mà đích thân Ngài giải thích nó mỗi ngày Chúa nhật. Ngài bắt đầu công việc sửa đổi bộ Giáo luật. Việc quản trị Giáo hội đặc biệt Giáo triều Roma, cũng được sửa đổi. Thế nhưng vị giáo hoàng hiền lành đạo đức này lại gặp nhiều khó khăn, trái ý; Ngài cũng bị vướng vào nhũng rối rắm chính trị và giáo lý của một thời đại nhiều xáo trộn. Hơn nữa, Ngài linh cảm sự đe dọa của chiến tranh thế giới thứ nhất sắp bùng nổ năm 1914. Ngài qua đời hai mươi ngày sau chiến tranh bùng nổ. Ngài nói: “Các con yêu dấu, cha hiến dâng mạng sống của cha. Hằng triệu người chết … Cha muốn giúp tránh nó, nhưng lực bất tòng tâm”. Trong chúc thư để lại, Ngài viết: “Tôi sinh ra trong cảnh nghèo và tôi muốn chết nghèo”. Thân xác Ngài vẫn còn nguyên vẹn, được tôn kính nơi Đền thờ thánh Phêrô ở Vatican

2. Thông điệp và tính thời sự

Chúa đã ban cho thánh Piô X được tràn đầy sự khôn ngoan thần linh và đức can đảm tông đồ (lời nguyện trong ngày). Ngài biểu lộ rõ rệt các đức tính đó trong suốt triều đại giáo hoàng của mình. Trước hết Ngài bãi bỏ luật Veto (phủ quyết) mà một số quốc gia vẫn còn giữ về vấn đề bầu chọn giáo hoàng, tiếp theo Ngài giải tán Opera dei Congressi, đồng thời các phong trào mà sau này, dưới đời Đức Piô XI sẽ lấy tên là công giáo tiến hành. Tại Pháp, Ngài lên án chính sách bài giáo sỹ của Combes và phản đối luật tách biệt Giáo hội khỏi Quốc gia. Cuối cùng là vụ kết án thuyết duy tân, ban đầu bằng sắc lệnh Lamentabili, sau là thông điệp Pascendi (1907).

Lời nguyện trên lễ vật thúc đẩy chúng ta học “theo các bài học của thánh Piô X hầu hết các mầu nhiệm thần linh với lòng kính cẩn, thông hiệp với chúng bằng đức tin”. Trong công cuộc của vị thánh giáo hoàng này, cải tổ phụng vụ là trọng tâm. Chính Ngài tuyên bố: “Từ nguồn suối duy nhất không thể thiếu đó tức là việc tham dự các mầu nhiệm thần linh, chúng ta có thể múc được tinh thần Kitô hữu đích thực” (Motu propio ngày 22-11-1903). Một cách nào đó, Ngài đã mở đường cho việc canh tân phụng vụ của Vatican II khi nhấn mạnh việc tham gia tích cực của giáo dân vào thánh lễ, việc canh tân âm nhạc thánh và cổ võ việc hát bình ca truyền thống. Ngài cũng thực hiện việc sửa đổi sách thần vụ bằng cách đặt ưu tiên cho việc đọc toàn bộ thánh vịnh (Hiến chế Divino Afflatu 1911) như trong phụng vụ bài đọc có nhắc lại. Trên lãnh vực thánh kinh, Đức Piô X đã có một số biện pháp như thành lập Ủy ban giáo hoàng nghiên cứu Thánh kinh (1907), lập viện kinh thánh (1909), rà soát lại bản phổ thông.

Lời nguyện tạ lễ khẩn cầu Chúa, nhân ngày lễ thánh Piô X, cho chúng ta “kiên vững trong đức tin”. Vào một giai đoạn nhiễu nhương khi các Kitô hữu cần được bảo vệ trong đức tin, thánh Piô X đã chứng tỏ sự vững chắc trong lãnh vực giáo lý công giáo, ý thức trách nhiệm chủ chăn tối cao của mình. Nhưng vị bảo vệ chính thống nồng nhiệt đó trước hết là một con người “nghèo khó, hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Phản ứng chống lại các luồng do phái Jansenius, quá khắc khổ và duy lý của thời đại, Ngài dần nổ lực để minh chứng Chúa là yêu thương. Chính vì thế Ngài đã cho tái lập việc thường xuyên đến với các bí tích, việc cử hành thánh lễ có sự tham gia tích cực của giáo dân và việc rước lễ thường xuyên. Đặc biệt, qua sắc lệnh Quam singulari (1910). Người cho phép trẻ đến tuổi có lý trí được rước lễ.

Đức Piô X khi chấp nhận làm giáo hoàng, đã thốt lên: “In crucem = đến với thánh giá”. Quả thế, các khó khăn đã chỉ gia tăng trên bước đường của Ngài, nhưng lại trở thành nguồn gốc cho tính khiêm nhu, thậm chí hiền lành trong công việc mục vụ của Ngài. Mộ chí Đức Piô X tóm tắt sâu sắc sự thánh thiện cao cả của vị thánh giáo hoàng này: “nghèo nhưng phong phú, hiền lành và khiêm nhường trong lòng, bảo vệ nhiệt thành chân lý công giáo, Người đã hiến trọn nổ lực để cải tạo lại tất cả trong Chúa Kitô”.

Enzo Lodi

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét