11/08/2026
Thứ Ba tuần 19 thường
niên.
Thánh Cơlara, trinh nữ.
Lễ nhớ
* Thánh nữ sinh năm 1193 tại Átxidi. Năm 18 tuổi, chị
xin thánh Phanxicô cho được theo nếp sống khó nghèo. Thánh Phanxicô đã cho chị ở
trong một căn nhà tồi tàn, gần nhà thờ thánh Đamianô ở cửa ngõ thành Átxidi. Em
của thánh nữ tên là Anê và một số thiếu nữ khác gia nhập nếp sống của chị: sống
thanh bần triệt để. Đó là những nữ tu Phanxicô tiên khởi. Chị
qua đời năm 1253.
Bài Ðọc I: (Năm
II) Ed 2, 8 – 3, 4
“Người ban cho tôi cuốn sách ấy làm lương thực: nó trở
nên ngọt ngào như mật trong miệng tôi”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Chúa phán như thế này: “Phần ngươi, hỡi con người, hãy nghe
các lời Ta sẽ phán cùng ngươi; ngươi chớ phản nghịch như loài phản nghịch kia.
Hãy mở miệng mà ăn những sự Ta sẽ ban cho ngươi”. Tôi nhìn, thì có một bàn tay
đưa về phía tôi, trong tay có cuốn sách cuộn lại. Người mở cuốn sách ra trước mặt
tôi: sách viết cả mặt trong, mặt ngoài. Trong sách viết những lời than van, rên
rỉ và kêu trách.
Người phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, ngươi hãy ăn sự
ngươi tìm được. Hãy ăn cuốn sách này và đi nói với con cái Israel”. Tôi mở miệng
và Người cho tôi ăn cuốn sách ấy và bảo tôi rằng: “Hỡi con người, hãy lấy cuốn
sách Ta ban cho ngươi làm lương thực mà ăn cho no”. Tôi ăn và nó trở nên ngọt
ngào như mật trong miệng tôi. Và Người phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, hãy
đi đến nhà Israel và nói cho chúng nghe những lời của Ta”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 118, 14. 24. 72. 103. 111. 131
Ðáp: Các lời sấm
của Chúa ngọt ngào trong cổ họng con là dường nào (c. 103a).
Xướng: Con vui vì
đường lối lời Ngài nghiêm huấn, dường bằng được mọi thứ giàu sang.
Xướng: Vì lời
nghiêm huấn của Ngài là điều con ưa thích, các thánh chỉ của Ngài là những bậc
cố vấn của con.
Xướng: Ðối với
con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn.
Xướng: Các lời sấm
của Ngài ngon ngọt thay cho cổ họng con, ngọt hơn cả mật ong đổ miệng con.
Xướng: Lời Ngài
nghiêm huấn là sản nghiệp của con muôn đời: vì những điều đó khiến cho lòng con
hoan hỉ.
Xướng: Con há miệng
để hút nguồn sinh khí, vì con ham muốn những chỉ thị của Ngài. –
Alleluia: 1 Sm 3, 9
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa
đang lắng tai nghe: Chúa có lời ban sự sống đời đời. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 18, 1-5. 10. 12-14
“Các con hãy coi chừng, đừng khinh rẻ một ai trong những
kẻ bé mọn này”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy các môn đệ đến bên Chúa Giêsu mà hỏi: “Chớ thì ai là
kẻ lớn nhất trong Nước Trời?” Chúa Giêsu gọi một trẻ nhỏ lại, đặt nó giữa các
ông mà phán rằng: “Thật, Thầy bảo thật các con: nếu các con không hoá nên như
trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời. Vậy ai hạ mình xuống như trẻ nhỏ
này, người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời.
“Và kẻ nào đón nhận một trẻ nhỏ như thế này vì danh Thầy, tức
là đón nhận Thầy. Các con hãy coi chừng, đừng khinh rẻ một ai trong những kẻ bé
mọn này, vì Thầy bảo các con, thiên thần của chúng trên trời hằng chiêm ngưỡng
thánh nhan Cha Ta, Ðấng ngự trên trời.
“Các con nghĩ sao? Nếu ai có một trăm con chiên mà lạc mất một
con, thì người đó lại không bỏ chín mươi chín con trên núi, để đi tìm con chiên
lạc sao? Nếu người đó tìm được, Thầy bảo thật các con, người đó sẽ vui mừng vì
con chiên đó, hơn chín mươi chín con chiên không thất lạc. Cũng vậy, Cha các con
trên trời không muốn để một trong những kẻ bé mọn này phải hư mất”.
Ðó là lời Chúa.
Chú giải về Ê-dê-ki-en 2,8—3,4
Thoạt nhìn, đoạn văn này mô tả một thị kiến khải huyền kỳ
lạ, nhưng ý nghĩa của nó lại rất rõ ràng. Thị kiến về cỗ xe của Đức Chúa Trời
(Yahweh) bị gián đoạn bởi thị kiến về cuộn sách—phần mà hôm nay chúng ta đọc
chỉ là một đoạn trích. Đây có lẽ là thị kiến đầu tiên của Ê-dê-ki-en, trong đó ông được kêu gọi trở thành
người phát ngôn của Thiên Chúa, giống như Giê-rê-mi-a và I-sai-a.
Thiên Chúa phán với Ê-dê-ki-en và gọi ông là "con người" (hay "con loài người").*
Đây là cụm từ đặc trưng cho sách Ê-dê-ki-en trong Cựu Ước (ngoại trừ hai trường hợp xuất hiện trong sách
tiên tri Đa-ni-en). Cụm từ này được sử dụng tổng cộng 93 lần trong sách Ê-dê-ki-en nhằm nhấn mạnh khoảng cách lớn
lao giữa một Thiên Chúa siêu việt và con người phàm trần. Tuy nhiên, trong sách
Đa-ni-en, nó lại mang ý nghĩa về Đấng Mê-si-a—ý nghĩa sau này được Chúa Giê-su tiếp nhận khi Ngài nhiều lần tự
xưng là "Con Người" (với mạo từ xác định "the", chứ không
phải "a").
Trước hết, Ê-dê-ki-en
được kêu gọi lắng nghe kỹ lưỡng những gì Thiên Chúa phán dạy. Trong việc này,
ông không được giống như những kẻ nổi loạn và bất tuân:
Còn ngươi, hỡi con người,
hãy nghe điều Ta phán với ngươi; chớ nổi loạn như nhà phản nghịch kia...
Sau đó, vị tiên tri được yêu cầu mở miệng và ăn những gì được
ban cho. Một bàn tay chìa ra cuộn sách để vị tiên tri ăn. Khác với hầu hết các
cuộn sách thời xưa, cuộn sách này có chữ viết ở cả hai mặt. Điều này hàm ý rằng
nó chứa đầy Lời Chúa và sự phán xét của Ngài đối với dân Ngài.
Cuộn sách chứa đầy "những lời than vãn, sầu thảm và tai
ương". Giống như Giê-rê-mi-a,
sứ mệnh ban đầu của Ê-dê-ki-en
là truyền đạt sự không hài lòng của Thiên Chúa đối với dân Ngài và cảnh báo họ
về những đau khổ mà họ sẽ phải gánh chịu do sự bất trung của mình. Về sau, cũng
giống như Giê-rê-mi-a, ông sẽ
rao giảng một thông điệp đầy hy vọng.
Tuân theo chỉ dẫn của Chúa, Ê-dê-ki-en ăn cuộn sách mà nội dung của nó ông
phải chia sẻ với dân Ít-ra-en.
Khi được Đức Chúa Trời kêu gọi, miệng của Isaia đã được một thiên sứ Sê-ra-phim chạm vào. Còn với Giê-rê-mi-a, chính Đức Chúa Trời đã đặt lời
Ngài vào miệng vị tiên tri. Ở đây, Ê-dê-ki-en sử dụng một hình ảnh còn sống động hơn nữa để diễn tả cách Lời
Chúa trở thành một phần của chính con người ông. Bất chấp nội dung của nó, Ê-dê-ki-en cảm thấy cuộn sách:
…trong miệng tôi… ngọt
ngào như mật ong.
Dù nội dung có đắng cay đến đâu, Lời Chúa vẫn luôn ngọt ngào
nơi đầu lưỡi. Đó là vì Lời Chúa luôn được phán ra với tình yêu thương và sự
quan tâm đến lợi ích của người đón nhận.
Sau đó, Ê-dê-ki-en
được chỉ dẫn đến với dân chúng và công bố những lời của Đức Chúa Trời cho họ—những
lời đã ghi trên cuộn sách và đã được vị ngôn sứ hoàn toàn tiếp nhận, thấm nhuần.
Khung cảnh này tượng trưng cho ơn gọi làm ngôn sứ của Ê-dê-ki-en và sứ mạng nói nhân danh
Thiên Chúa. Việc ăn cuộn sách là biểu tượng cho sự Ê-dê-ki-en hoàn toàn tiếp nhận và để Lời Chúa thấm
sâu vào chính con người mình. Lời ấy thực sự trở thành một phần của ông.
Chúng ta sẽ bắt gặp hình ảnh tương tự sau này trong Tin Mừng,
cụ thể là chương 6 nổi tiếng của sách Gio-an, nơi Chúa Giê-su tự xưng là Bánh Hằng
Sống:
Ai ăn bánh này, sẽ được
sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi, để cho thế gian được
sống. (Gio-an 6,51)
Ăn Bánh ấy nghĩa là đón nhận chính Thần Khí của Đức Kitô vào
trong mình và hiệp nhất trọn vẹn với Ngài trong Thân Thể Phục Sinh của Ngài, tức
là Hội Thánh. Hình ảnh ăn cuộn sách cũng sẽ xuất hiện trong sách Khải Huyền (Khải
Huyền 10,1-11).
Lời Chúa đến với chúng ta qua Đức Giê-su Kitô không chỉ là tập
hợp những tư tưởng để ta hiểu biết hay thậm chí để bảo vệ. Đó là một nhãn quan
về sự sống mà ta cần thấm nhuần vào tận sâu thẳm con người mình, để nó tô điểm
và trở thành nền tảng cho mọi lời nói và hành động của ta. Kết quả là ta có thể
thốt lên như Thánh Phao-lô:
…không còn phải là tôi
sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi. (Ga-lát 2,20)
Và chúng ta cũng cần ghi nhớ khía cạnh Thánh Thể trong Phụng
vụ Lời Chúa. Lời Chúa được công bố cho chúng ta là để được "ăn" và
hoàn toàn thấm nhuần. Ở đó có sự hiện diện đích thực của Đức Kitô. Ngài phán dạy
chúng ta qua Lời ấy, nhưng liệu chúng ta có đang lắng nghe? Phần này trong phụng
vụ thường bị xem là kém quan trọng hơn… nhưng thực tế không phải vậy.
_______________________________________
*Cụm từ “Son of Man”
(Con Người) được dịch là “Mortal”
(Người phàm) trong bản dịch Kinh Thánh NRSVue, nhưng cách diễn giải thì vẫn như
nhau.
Chú giải về Tin Mừng Mát-thêu 18,1-5. 10. 12-14
Hôm nay, chúng ta bước vào bài diễn từ thứ tư trong số năm
bài diễn từ vốn là nét đặc trưng của Tin Mừng Mát-thêu. Bài diễn từ này tập
trung vào Giáo hội (và được gọi là "Diễn từ về Giáo hội") hay cộng đồng
Kitô hữu, và đặc biệt là các mối tương quan giữa các thành viên trong cộng đồng
ấy.
Đoạn Tin Mừng mở đầu bằng câu hỏi của Chúa Giê-su:
Ai là người lớn nhất
trong Nước Trời?
Ngầm ý của câu hỏi này là tìm kiếm ai là người lớn nhất
trong cộng đồng Kitô hữu—một hình ảnh phản chiếu của Nước Trời.
Chúa Giê-su trả lời câu hỏi này một cách rất đơn giản bằng
cách đặt một em nhỏ trước mặt các môn đệ. Trở nên người lớn nhất nghĩa là trở
nên như một đứa trẻ.
Tại sao vậy? Trẻ em có nhiều phẩm chất quý giá. Các em sinh
ra không mang định kiến và hoàn toàn cởi mở để học hỏi. Chính những phẩm chất
này—điều mà chúng ta thường đánh mất khi trưởng thành—lại là những gì cần thiết
để chúng ta bước vào Vương quốc của Thiên Chúa. Chúng ta cần hoàn toàn cởi mở
và không có định kiến khi lắng nghe Thiên Chúa, đồng thời sẵn sàng để Ngài dạy
dỗ, uốn nắn và biến đổi. Khi đó, chúng ta sẽ sẵn sàng đón nhận mọi điều Thiên
Chúa muốn ban tặng và trở thành con người mà Ngài mong muốn. Hơn nữa, việc đón
tiếp một người có những phẩm chất này nhân danh Chúa Giê-su cũng chính là đón
tiếp Đức Kitô.
Từ đó, Tin Mừng chuyển sang một khía cạnh liên quan khác. Đoạn
văn bỏ qua phần nói về những kẻ gây cớ cho người khác sa ngã vào tội lỗi và
hình phạt thích đáng dành cho họ. Thay vào đó, Tin Mừng chuyển từ hình ảnh trẻ
em sang hình ảnh "những người bé mọn". "Những người bé mọn"
ở đây không chỉ là trẻ em, mà còn là những người yếu thế trong cộng đồng, kể cả
người trưởng thành. Họ là những người rất dễ bị lầm đường lạc lối bởi những
gương xấu của người khác. Và hành động gây cớ cho họ sa ngã sẽ phải chịu những
hình phạt nghiêm khắc (như đã được đề cập trong phần bị lược bỏ).
Điều này được nhấn mạnh qua dụ ngôn về con chiên lạc. Thiên
Chúa được ví như người mục tử bị mất một con chiên trong đàn một trăm con. Khi
tìm lại được nó, ông vui mừng hơn cả khi so với chín mươi chín con không bị lạc.
Vì thế, Tin Mừng kết luận:
Như vậy, Cha của anh
em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những người bé mọn này phải
hư mất.
Thật khủng khiếp biết
bao nếu một trong số chúng ta là nguyên nhân khiến ai đó phải lìa xa Thiên Chúa
mãi mãi! Đáng buồn thay, đôi khi dường như điều đó lại xảy ra khá thường xuyên
trong xã hội và trong Giáo hội của chúng ta.
https://livingspace.sacredspace.ie/o2193g/
Suy Niệm: Tinh Thần Trẻ Thơ
Tin Mừng Mátthêu được cấu trúc xoay quanh năm diễn từ dài của
Chúa Giêsu, và diễn từ thứ tư bắt đầu với chương 18 nói về nếp sống của người
môn đệ trong cộng đoàn. Tin Mừng hôm nay nhắc đến hai đặc điểm của nếp sống người
môn đệ trong cộng đoàn.
Trước hết là thái độ sống trẻ thơ.
Một tiểu thuyết gia nọ đã đưa ra nhận định: "Khi người
lớn chúng ta không còn giữ liên hệ nào với các trẻ nhỏ, thì chúng ta không còn
giữ được tính người nữa, mà đã trở thành như những chiếc máy chỉ biết ăn uống
và kiếm tiền".
Lòng tin tưởng của trẻ thơ gợi lên cho chúng ta về sự tin tưởng
mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải có đối với Thiên Chúa Cha, Ðấng ngự trên trời.
Thái độ trẻ thơ khâm phục trước vũ trụ và thiên nhiên nhắc nhớ sự khâm phục mà
chúng ta cần có đối với vũ trụ do Thiên Chúa Cha chúng ta dựng nên. Thái độ đáp
trả của trẻ nhỏ trước tình yêu thương nhắc chúng ta phải đáp trả đối với tình
yêu thương của Thiên Chúa.
Nhận định trên đây giúp chúng ta hiểu tại sao Chúa Giêsu muốn
các môn đệ trong cộng đoàn mà Ngài thiết lập phải trở nên như những trẻ nhỏ:
đơn sơ, tin tưởng phó thác, không có thái độ kẻ cả.
Những đức tính tốt của tuổi thơ sẽ giúp cho các thành phần
trong cộng đoàn chấp nhận và phục vụ nhau, không kỳ thị phân biệt. Cộng đoàn những
con người cụ thể dĩ nhiên có những khuyết điểm, những bất toàn, tội lỗi. Chúa
Giêsu biết rõ điều đó, nhưng Ngài không muốn môn đệ Ngài có thái độ sống kỳ thị
tách biệt khỏi những người khác, nhất là những người tội lỗi. Trái lại, Chúa
Giêsu đã mở ra một viễn tượng mới, Ngài mạc khải thái độ nhân từ thương xót của
Thiên Chúa đối với những người tội lỗi, đến nỗi đã bỏ 99 con chiên để đi tìm một
con chiên lạc, và vui mừng khi tìm được nó. Chúa Giêsu mời gọi con người ăn năn
sám hối trở về với sự thật, với tình thương và với người anh em.
Xin Chúa cho chúng ta sống tinh thần trẻ thơ trước mặt Chúa
và trong tương quan với người khác. Xin cho chúng ta sống tin tưởng, yêu thương
phục vụ mọi người vì tình yêu Chúa.
(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)
Ngày 11/8: Thánh Cla-ra –
Trinh nữ (1193-1253)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Thánh nữ Clara qua đời ngày 11 tháng 8 năm 1253 tại
Saint-Damien và được Đức giáo hoàng Alexandre IV phong thánh hai năm sau. Ngày
lễ thánh nữ đưa ta lên tới cội nguồn dòng Phan sinh và giúp ta hiểu được lý tưởng
của Poverello (Anh Nghèo, thánh Phanxicô) mà thánh nữ đã thể hiện một cách tuyệt
diệu. Chính thánh nữ thường cũng đã tự gọi mình là “cây bé nhỏ do Phanxicô trồng”
.
Clara sinh tại Assise khoảng năm 1193, con gái hiệp sĩ
Favarone và phu nhân Ortolana. Hồi còn là thiếu nữ, Clara đã gặp gỡ cha linh hồn
nhiều lần. Năm 1208 Phanxicô trở lại và trở thành “người điên có lời nói rực
lửa và những việc làm siêu nhân”. Đêm lễ lá năm 1212, sau khi tham dự thánh
lễ tại nhà thờ chánh tòa và nhận cành lá từ tay Đức giám mục, cùng với người em
họ là Philippa, Clara trốn khỏi nhà, đến với thánh Phanxicô tại Sainte
Marie-des-Anges, ngôi nhà thờ bé nhỏ thánh nhân vừa sửa chữa lại. Chính tại đây
Poverello cắt tóc cho Clara, đội cho một chiếc lúp và mặc một cái áo vải thô để
đánh dấu việc trút bỏ trần gian và tận hiến cho Đức Kitô. Thánh Phanxicô tìm
cho Clara một chỗ tạm lánh thân, trước hết là ở nhà dòng các bà Biển Đức. Tại
đây em gái của Clara là Agnes cũng đến theo chị. Sau nhà dòng các bà Biển Đức
là một căn nhà cũ gần nhà thờ Saint-Damien cạnh cổng thành Assise. Đây là nơi
khai sinh Dòng các nữ tu nghèo hay nữ tu Clara, cũng còn gọi là Dòng Hai Phan
sinh. Trong bốn mươi ba năm tu dòng ở Saint-Damien, trong đó hai mươi chín năm
bệnh tật đau đớn, Clara đã thực hiện trọn vẹn ơn gọi theo lý tưởng thánh
Phanxicô qui định thành một “công thức sống” do Poverello thành
Assise và được Đức Giáo Hoàng Innocent IV phê chuẩn. Ngày 5 tháng 10 năm 1226,
tại Saint-Damien, Clara chào từ biệt lần cuối thi hài thánh Phanxicô. Trước đó
Poverello lúc ấy đã rất đau yếu đã được đón về và săn sóc ở một căn lều dành
riêng trong khu vườn nhà dòng suốt mùa thu năm trước.
2. Thông điệp và tính thời sự
Lời nguyện trong ngày nhấn mạnh đến “tình
yêu khó nghèo” của thánh nữ Clara. Không một đệ tử nào của thánh Phanxicô
đã sống sự khó nghèo phúc âm một cách triệt để và nhiệt thành như thánh nữ.
Trong khoảng thời gian 1247 đến 1252, thánh nữ đã vạch ra một bản luật rất nhặt
nhiệm cho dòng mình được Đức Giáo Hoàng Innocent III chấp thuận cho “đặc ân
không có đặc ân”, nghĩa là khó nghèo tuyệt đối. Đức Giáo Hoàng Innocent IV
khẳng định “đặc ân” ấy bằng một sắc chỉ, được trao cho thánh nữ hai ngày
trước hôm thánh nữ qua đời.
Phụng vụ bài đọc trích một phần bức thư
thánh nữ gửi chân phước Agnès ở Pragué trong đó thánh nữ đề cao “sự khó
nghèo phước hạnh và đức khiêm hạ thánh thiện”. Mỗi ngày hãy nhìm ngắm bức
gương đó (hình ảnh Đức Kitô), nơi “rực rỡ sự khó nghèo phước hạnh, đức
khiêm tốn thánh thiện, lòng bác ái không thể diễn tả nổi …”. Nơi thánh
Clara, lòng bác ái đó cũng trở thành tình thắm thiết như thấy trong lời chúc của
thánh nữ: “chị Clara, môn đệ của Chúa Kitô, là cây nhỏ do thánh Phanxicô trồng,
người chị, cùng là mẹ của em cũng như của các chị em nữ tu nghèo khác mặc dầu
chị bất xứng … chị chúc lành cho em khi còn sống cũng như sau khi chị qua đời hết
sức có thể và cả hơn sức có thể”. Tương tự như thế, những lời Bà nói với
linh hồn mình lúc gần chết chứng tỏ sự thắm thiết đó: “Hãy yên tâm tiến bước,
vì em đã đi đúng đường tin tưởng mà bước tới, bởi vì Chúa tạo hóa đã thánh hiến
em, gìn giữ em không ngơi, đã yêu thương em với tất cả sự dịu dàng của một bà mẹ
đối với con mình. Ôi lạy Chúa, con ca ngợi Chúa vì Ngài đã dựng nên con!”
Người phụ nữ nghiêm nhặt, mạnh mẽ nhưng dịu dàng đó cũng là
gương mẫu can đảm. Người ta kể lại rằng thánh nữ đã hai lần đứng ra xua đuổi
người Sarrasins lúc họ đang tìm cách đột nhập nhà dòng ở Saint-Damien.
Enzo Lodi






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét