31/08/2026
Thứ Hai tuần 22 thường niên
Bài Ðọc I: (Năm
II) 1 Cr 2, 1-5
“Tôi đã công bố cho anh em bằng chứng của Chúa Kitô chịu
đóng đinh”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu
Côrintô.
Anh em thân mến, phần tôi, khi tôi đến với anh em, tôi không
đến với uy thế của tài hùng biện hoặc của sự khôn ngoan, tôi đến công bố bằng
chứng của Thiên Chúa. Thật vậy, tôi không cho là tôi biết điều gì khác giữa anh
em, ngoài Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Phần tôi, chính trong sự yếu hèn, sợ
hãi và run rẩy mà tôi đã đến với anh em; lời tôi nói và việc tôi rao giảng
không dựa vào những lời quyến rũ của sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào sự
giãi bày của thần trí và quyền năng, để đức tin của anh em không dựa vào sự
khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào quyền năng của Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 118, 97. 99. 100. 101. 102
Ðáp: Lạy Chúa,
con yêu chuộng luật pháp Chúa biết bao (c. 97a).
Xướng: Lạy Chúa,
con yêu chuộng luật pháp Chúa biết bao, suốt ngày con mải suy gẫm về luật đó.
Xướng: Chỉ thị
Chúa khiến con thành khôn ngoan hơn quân thù, vì muôn đời chỉ thị đó vẫn theo
con.
Xướng: Con khôn
ngoan hơn những bậc tôn sư, nhờ suy gẫm về những lời nghiêm huấn của Ngài.
Xướng: Con am hiểu
hơn những bậc lão thành, vì huấn lệnh của Ngài con tuân giữ.
Xướng: Con kìm
hãm chân con xa mọi đường gian ác, để con giữ trọn lời dạy của Ngài.
Xướng: Con không
bước trật đường thánh dụ của Ngài, bởi vì chính Ngài đã dạy bảo con.
Alleluia: Tv 110, 8ab
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, mọi giới răn Chúa được lập
ra cho tới muôn đời. – Alleluia.
(Hoặc đọc: Alleluia,
alleluia! Thần Khí Chúa ngự trên tôi, sai tôi đi loan Tin Mừng cho kẻ nghèo
hèn. – Alleluia.)
Phúc Âm: Lc 4, 16-30
“Người sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó…
Không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu trở về Nadarét, nơi Người sinh trưởng, và
theo thói quen của Người, thì ngày Sabbat, Người vào hội đường. Người đứng dậy
để đọc sách. Người ta trao cho Người sách tiên tri Isaia. Mở sách ra, Người gặp
ngay đoạn chép rằng: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Ngài xức dầu cho tôi,
sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn
sám hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được trông
thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng”.
Người gấp sách lại, trao cho thừa tác viên, và ngồi xuống. Mọi
người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ: “Hôm
nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe”. Mọi người đều làm chứng
cho Người và thán phục Người về những lời từ miệng Người thốt ra, và họ nói:
“Người này không phải là con ông Giuse sao?”
Và Người nói với họ: “Hẳn các ngươi sắp nói cho Ta nghe câu
ngạn ngữ này: “Hỡi thầy thuốc, hãy chữa lấy chính mình”; “điều chúng tôi nghe xảy
ra ở Capharnaum, ông hãy làm như vậy tại quê hương ông”. Người nói tiếp: “Ta bảo
thật các ngươi, không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình. Ta bảo
thật các ngươi, đã có nhiều bà goá trong Israel thời Êlia, khi trời bị đóng lại
trong ba năm sáu tháng, khi nạn đói lớn xảy ra khắp trong xứ; dầu vậy, Êlia
không được sai đến cùng một người nào trong các bà đó, nhưng được sai đến bà
goá tại Sarepta thuộc xứ Siđon. Cũng có nhiều người phong cùi trong Israel thời
tiên tri Êlisêô, thế mà không người nào trong họ được lành sạch cả, ngoại trừ
Naaman, người Syria”.
Khi nghe đến đó, mọi người trong hội đường đều đầy căm phẫn,
họ chỗi dậy và trục xuất Người ra khỏi thành. Họ dẫn Người lên triền núi, nơi
xây cất thành trì của họ, để xô Người xuống vực thẳm. Nhưng Người rẽ qua giữa họ
mà đi.
Ðó là lời Chúa.
Chú giải về 1 Cô-rin-tô 2,1-5
Phao-lô tiếp tục giải thích cơ sở mà dựa vào đó ông rao giảng
Đấng Ki-tô cho
dân thành Cô-rin-tô. Khi mới đến với họ từ A-thên vào khoảng năm 51 SCN, ông
không xuất hiện như một nhà hùng biện bóng bẩy với những lập luận đầy sức thuyết
phục. Có lẽ A-pô-lô—một người Do Thái rời bỏ xã hội La Mã đầy tinh tế để trở
thành một trong những nhà lãnh đạo cộng đồng—đã khiến người Cô-rin-tô chú trọng
nhiều hơn đến tài hùng biện và các lập luận trí tuệ. Phao-lô đã không ít lần thừa
nhận sự yếu kém của mình trong phương diện này. Liệu đây có phải là "cái dằm
xóc vào thịt" từng khiến ông vô cùng khổ sở?
Thông điệp duy nhất mà Phao-lô mang đến là về Chúa Giê-su Ki-tô và sự kiện Ngài chịu đóng
đinh trên thập tự giá. Thoạt nhìn, đó không phải là một thông điệp mang tính
khích lệ hay đầy hứa hẹn. Đây không phải là thông điệp được trau chuốt để thu
hút đông đảo tín đồ, nhất là khi xét đến sự yếu kém trong khả năng thuyết phục
của Phao-lô.
Vì vậy, chẳng có gì ngạc nhiên khi ông đến với họ
"trong sự yếu đuối, sợ hãi và run rẩy" (một cách diễn đạt quen thuộc
trong Kinh Thánh), bởi ông không hề có tài hùng biện mà họ mong đợi hay đã quen
thuộc từ các trí thức thời bấy giờ.
Tất cả những gì Phao-lô có thể mang lại là sức thuyết phục đến
từ:
…sự bày tỏ của Đức
Thánh Linh và quyền năng…
Ông đến để rao giảng cho họ về "mầu nhiệm của Đức Chúa
Trời". Từ "mầu nhiệm" ở đây không hẳn ám chỉ điều gì đó khó hiểu,
mà là một chân lý vốn bị che giấu nhưng nay được tỏ lộ cho những ai sẵn lòng lắng
nghe. Vào thời đó, Hy Lạp có các "tôn giáo huyền bí" (mystery
religions), nơi các tín lý chỉ được tiết lộ cho những người đã qua nghi thức nhập
môn—tương tự như các hội kín ngày nay. "Mầu nhiệm" ở đây chính là sự
mặc khải về những gì Đức Chúa Trời đã thực hiện cho chúng ta qua cuộc đời, sự
chết và sự sống lại của Con Ngài—Đấng đã trở nên người thật—một điều mà ngay cả
những triết gia uyên bác nhất cũng không thể tự mình khám phá ra.
Như Phao-lô dần nhận ra, sự yếu kém của ông thực chất lại
chính là sức mạnh của ông. Tất cả những gì ông có thể chia sẻ là sự hiểu biết
và kinh nghiệm cá nhân về Chúa Giê-su—Đấng chịu đóng đinh làm Chúa của ông—và
đó là tất cả những gì cần thiết. Phao-lô chỉ là một "bình đất" mỏng
manh mà qua đó Đức Chúa Trời thực hiện công việc của Ngài. Nếu là một nhà hùng
biện tài ba, sự chú ý có lẽ đã dồn vào chính ông và những lập luận của ông thay
vì vào Chúa. Thông điệp của ngài khẳng định rằng:
…đức tin của anh em
không dựa vào sự khôn ngoan của loài người, mà dựa vào quyền năng của Thiên
Chúa.
“Quyền năng của Thiên Chúa” được thể hiện rõ nét ngay cả
trong những yếu đuối của ngài.
Những gì Phaolô nói ở đây có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với chúng ta khi chia sẻ đức tin cho người khác. Có những người cố gắng thuyết
phục những ai chưa tin hoặc những người đã rời bỏ đức tin bằng cách đưa ra hàng
loạt lập luận biện giáo cùng các bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa hay
tính xác thực trong giáo huấn của Giáo hội. Tuy nhiên, xét cho cùng, cách duy
nhất thực sự hiệu quả để dẫn đưa mọi người đến với Đức Kitô chính là chia sẻ
kinh nghiệm cá nhân khi biết Ngài và làm chứng bằng một cuộc sống chịu ảnh hưởng
rõ rệt từ tinh thần Tin Mừng.
Chúng ta cũng được an ủi khi nhận ra rằng sự thành công
trong công cuộc loan báo Tin Mừng không phụ thuộc vào năng lực của chính chúng
ta. Như Phaolô đã nói ở một chỗ khác:
…khi tôi yếu đuối,
chính là lúc tôi mạnh mẽ. (2 Cr 12,10)
Vấn đề không nằm ở trí tuệ hay tài hùng biện, mà ở sự chính
trực của chúng ta—điều cho phép chân lý và tình yêu của Thiên Chúa tỏa sáng qua
con người chúng ta.
Đồng thời, như một nhà chú giải đã nhắc nhở, điều này không
cho phép người rao giảng lơ là việc học hỏi và chuẩn bị. Các thư của Phaolô cho
thấy ngài có kiến thức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực, và tài hùng biện của
ngài được thể hiện rõ qua bài diễn thuyết tại đồi Areopagus ở Athens (xem Cv
17,22-31). Ý của Phaolô là nếu Chúa Thánh Thần không tác động vào lòng người
nghe, thì sự khôn ngoan và tài hùng biện của người rao giảng cũng trở nên vô
ích. Sự tự tin của Phaolô trong vai trò người rao giảng không dựa vào năng lực
trí tuệ hay tài hùng biện như các nhà diễn thuyết Hy Lạp. Việc chúng ta chia sẻ
về Đức Kitô và tầm nhìn của Ngài cho người khác cũng sẽ phụ thuộc nhiều vào sự
chân thực nội tại của thông điệp hơn là vào khả năng thuyết phục của chúng ta.
Chú giải về đoạn Tin Mừng Luca 4,16-30
Hôm nay, chúng ta bắt đầu đọc Tin Mừng theo thánh Luca; việc
đọc này sẽ kéo dài cho đến cuối năm phụng vụ. Chúng ta đã hoàn tất việc đọc Tin
Mừng theo thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô, trong khi Tin Mừng theo thánh Gioan
đã được phân bổ vào các giai đoạn khác nhau trong năm, đặc biệt là trong Mùa Vọng,
Mùa Giáng Sinh, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh.
Tin Mừng Luca là tác phẩm song hành với sách Công vụ Tông đồ;
ngôn ngữ và cấu trúc của hai cuốn sách này cho thấy cả hai đều do cùng một tác
giả viết. Cả hai đều được gửi cho cùng một người là ông Thê-ô-phi-lô, và sách
Công vụ Tông đồ có nhắc đến Tin Mừng Luca. Có thể coi Tin Mừng Luca và sách
Công vụ Tông đồ là tập một và tập hai của cùng một tác phẩm.
Thánh Luca trình bày những việc làm và lời giảng dạy của
Chúa Giê-su, những điều đặc biệt quan trọng để hiểu về con đường cứu độ. Phạm
vi của tác phẩm bao quát toàn bộ hành trình từ khi Chúa Kitô giáng sinh cho đến
khi Người lên trời, và nội dung sách hướng đến cả người Do Thái lẫn dân ngoại.
Hôm nay, chúng ta bắt đầu đọc Tin Mừng Luca tại thời điểm khởi
đầu sứ vụ công khai của Chúa Giê-su (chương 4). Sau khi chịu phép rửa bởi Gioan
Tẩy Giả:
Được quyền năng Thần
Khí thúc đẩy, Chúa Giê-su trở về miền Ga-li-lê... (Luca 4,14)
Như chúng ta đã biết, Ga-li-lê là tỉnh nằm ở phía bắc
Pa-lét-tin và cũng là quê hương của Người. Lúc bấy giờ, danh tiếng của Người đã
được người ta bàn tán ở khắp mọi nơi.
Mở đầu bài đọc hôm nay, chúng ta thấy Người đang ở
Na-da-rét, thị trấn nhỏ thuộc vùng Ga-li-lê nơi Người đã lớn lên. Dựa vào các
câu ngay trước đó, dường như Chúa Giê-su không thực sự bắt đầu sứ vụ của mình tại
Na-da-rét. Sự kiện được mô tả ở đây có thể đã diễn ra muộn hơn, khoảng một năm
sau đó. Một giả thuyết (theo Kinh Thánh bản NIV) cho rằng tất cả những gì được
mô tả trong Tin Mừng Gioan từ chương 1, câu 19 đến chương 4, câu 42 đã diễn ra
trong khoảng thời gian giữa sự kiện Người chịu cám dỗ trong hoang địa và việc
Người di chuyển về phía bắc đến Ga-li-lê (xem Luca 4,13-14).
Tuy nhiên, thánh Luca đã sắp xếp cấu trúc Tin Mừng của mình
theo cách để Chúa Giê-su bắt đầu sứ vụ công khai tại Na-da-rét, rồi dần dần tiến
về phía nam hướng tới đích đến là Giê-ru-sa-lem mà không quay trở lại. Trong
các sách Tin Mừng Nhất Lãm khác, Người di chuyển khắp vùng Ga-li-lê theo nhiều
hướng, còn Tin Mừng Gioan lại cho thấy Người đã thực hiện một số chuyến đi đến
Giê-ru-sa-lem trong suốt thời gian thi hành sứ vụ công khai. Bản dịch Kinh
Thánh Jerusalem cho rằng đoạn văn hôm nay thực chất kết hợp ba phần riêng biệt:
1. Các câu
16-22: Chúa Giê-su được tôn vinh – sự kiện diễn ra vào thời điểm được nhắc đến
trong Mát-thêu 4,13;
2. Các câu
23-24: Chúa Giê-su khiến thính giả kinh ngạc – chuyến thăm mà Mát-thêu và Mác-cô đã đề cập;
3. Các câu
25-30: Mạng sống Chúa Giê-su bị đe dọa – chi tiết không được Mát-thêu hay Mác-cô nhắc tới và được xếp vào giai đoạn cuối
của sứ vụ tại Ga-li-lê.
Theo cách này, Lu-ca trình bày một bức tranh mở đầu mang
tính tóm tắt và tượng trưng cho lời mời gọi trọng đại của Đấng Ki-tô, cũng như sự khước từ đầy khinh miệt
của chính dân tộc Ngài.
Khi đoạn văn bắt đầu, chúng ta thấy Chúa Giê-su đang ở trong
hội đường của thị trấn. Đó là ngày Sa-bát. Ngài đứng lên đọc Kinh Thánh và giảng
giải về đoạn văn đó. Người quản lý hội đường có quyền cho phép bất kỳ người Do
Thái trưởng thành nào đọc bài đọc Kinh Thánh. Đoạn văn Ngài đọc mang ý nghĩa vô
cùng sâu sắc. Nó được trích từ sách tiên tri Isaia, và việc Chúa Giê-su đọc đoạn này tựa như một bản tuyên ngôn,
hay điều mà ngày nay chúng ta gọi là "tuyên bố sứ mệnh". Vào thời đó,
"sách" có dạng cuộn giấy; các bản Kinh Thánh được cất giữ tại một nơi
đặc biệt trong hội đường và được người phục vụ trao cho người đọc. Có thể chính
Chúa Giê-su đã chọn đoạn văn này, hoặc nó đã được chỉ định sẵn cho ngày hôm đó.
Nhưng đó không chỉ đơn thuần là một bản tuyên bố sứ mệnh.
Khi Ngài đọc, mọi người nhận thấy rõ ràng rằng toàn bộ nội dung ấy đều nói về
chính Chúa Giê-su:
Thánh Thần của Chúa ngự trên Ta…
Điều này đã được xác nhận khi Ngài chịu phép Rửa tại sông Giô-đan, lúc "Đức Thánh
Linh ngự trên Ngài dưới hình dáng một chim bồ câu" và có tiếng phán rằng:
Con là Con yêu dấu của
Ta; đẹp lòng Ta mọi đường. (Lu-ca 3,22)
Tiếp đó, Chúa Giêsu – vẫn đang đọc sách ngôn sứ Isaia – nói:
…bởi Người đã xức dầu
cho tôi…
Khi nói những lời này, Ngài khẳng định một cách dứt khoát rằng
mình chính là Đấng Messia (hay Đấng Kitô) – Vị Vua giải phóng mà dân Israel hằng
mong đợi. Từ ‘Messia’ (được dịch sang
tiếng Hy Lạp là *Christos*) có nghĩa
là người được xức dầu (chúng ta gọi loại dầu dùng trong bí tích Rửa tội và Thêm
sức là dầu thánh hay *chrism*). Theo
tục lệ xưa, một người được phong vương bằng nghi thức đổ dầu lên đầu (hãy nhớ lại
cảnh Đavít được xức dầu phong vương). Tất nhiên, Chúa Giêsu không được xức dầu
theo nghĩa đen, nhưng Ngài đã được ‘xức dầu’ theo nghĩa bóng khi Chúa Thánh Thần
ngự xuống trên Ngài lúc chịu phép rửa. ‘Xức dầu’ tương đương với nghi thức
‘đăng quang’ – vốn được tượng trưng bằng việc đặt vương miện lên đầu vị vua mới.
Tiếp đến là sứ mạng của Vị Vua này:
-rao giảng Tin Mừng
cho người nghèo khó,
-công bố sự giải thoát
cho những người bị giam cầm
-và trả lại thị giác
cho người mù lòa,
-giải phóng những ai bị
áp bức,
-công bố năm hồng ân của
Chúa.
Ở đây không hề có chuyện khôi phục vinh quang cho Israel,
cũng chẳng có chuyện chinh phạt kẻ thù hay tàn phá đất đai của chúng. Không, sứ
mạng ấy là để người nghèo trên thế giới này được nghe Tin Mừng về tình yêu
Thiên Chúa dành cho họ. Đó là sứ mạng chữa lành và hòa giải; là giải phóng những
ai đang bị trói buộc bởi bất kỳ hình thức nô lệ nào; là giúp con người nhìn thấy
rõ ý nghĩa đích thực của cuộc sống; là khôi phục sự trọn vẹn cho đời sống cá
nhân và xã hội; và là sự khởi đầu Vương Quốc dưới sự trị vì của chính Vị Vua ấy.
Tóm lại, đó là bức tranh toàn cảnh về Chúa Giêsu sẽ được khắc
họa qua các trang Tin Mừng Luca – một Tin Mừng hướng về người nghèo và những
người yếu thế, một Tin Mừng của sự dịu dàng và lòng trắc ẩn, của Chúa Thánh Thần
và niềm vui, của sự cầu nguyện và chữa lành.
Đó là việc công bố “năm hồng ân của Chúa”. Cụm từ này ám chỉ
thời đại của Đấng Messia, thời điểm mà ơn cứu độ được loan báo. Trong nguyên
văn, ngôn sứ Isaia đang ám chỉ đến Năm Thánh (Năm Hồng Ân) – dịp cứ mỗi 50 năm
một lần, nô lệ được trả tự do, nợ nần được xóa bỏ và đất đai tổ tiên được hoàn
trả cho gia đình chủ sở hữu ban đầu. Isaia chủ yếu nghĩ đến sự giải thoát khỏi
cảnh lưu đày tại Babylon, nhưng Chúa Giêsu lại nói về sự giải phóng toàn diện
trong mọi khía cạnh của đời sống con người. Khi đọc xong, Chúa Giê-su cuộn sách
lại và nói:
Hôm nay, lời Kinh
Thánh này đã được ứng nghiệm ngay khi các ngươi đang lắng nghe.
Dân làng – những người tưởng chừng hiểu rất rõ về Ngài – đã
vô cùng kinh ngạc trước sự khôn ngoan trong lời nói của Ngài. Phản ứng tích cực
này đối với Chúa Giê-su là một chủ đề thường thấy trong Tin Mừng Lu-ca.
Họ đặt câu hỏi đầy vẻ ngạc nhiên:
Chẳng phải đây là con
trai ông Giu-se sao?
Nhưng họ đã lầm. Ngài không phải là con trai ông Giu-se. Ngài là Con của bà Ma-ri-a và của Chúa Cha, là Ngôi Lời thần
linh mang lấy "xác thịt" con người chúng ta (như đã đề cập ở trên, sự
kiện này có thể đã diễn ra trong một chuyến thăm lần thứ hai).
Điều này dẫn chúng ta đến phần thứ ba của bài đọc; phần này
mang đến một diễn biến bất ngờ và phù hợp hơn với giai đoạn sau trong cuộc đời
công khai của Chúa Giê-su. Những người nghe Chúa Giê-su đã ngạc nhiên trước
cách Ngài nói, nhưng họ lại không hề thay đổi tâm tính. Suy cho cùng, Ngài
"chỉ" là con trai ông Giu-se,
và một người mà họ biết quá rõ thì làm sao có thể dạy bảo được họ điều gì. Đồng
thời, Chúa Giê-su nói rằng chính họ – những người đồng hương của Ngài – hẳn
đang thắc mắc tại sao Ngài không thực hiện tại Na-da-rét những việc mà Ngài đã
làm ở những nơi như Ca-phác-na-um.
Ca-phác-na-um,
vốn là một thị trấn khá lớn, là nơi cư trú của Phêrô và cũng là nơi Chúa Giêsu
chọn làm "tổng hành dinh" để thực hiện sứ vụ loan báo Tin Mừng tại
vùng Galilê. Ngày nay, một ngôi nhà thờ hiện đại được xây dựng ngay trên tàn
tích của một vương cung thánh đường có từ thế kỷ thứ 5 – nơi được cho là vị trí
ngôi nhà của Phêrô – và gần đó còn có một hội đường Do Thái giáo có từ thế kỷ
thứ 4.
Lý do khiến người dân thị trấn không chấp nhận Chúa Giêsu là
vì họ không thực sự nhìn nhận đúng con người Ngài. Ngài nhắc nhở họ rằng các
ngôn sứ hiếm khi được đón nhận ngay tại quê hương mình; sự quen thuộc thường
khiến người ta không còn nhận ra thông điệp mà các vị ấy mang đến. Thái độ của
họ là: "Tôi biết rõ ông ta là ai và ông ta chẳng có gì để nói với tôi cả."
Sau đó, Chúa Giêsu đưa ra hai ví dụ khá gây sốc:
• Trong nạn
đói khủng khiếp vào thời ngôn sứ Êlia, ông được sai đến để giúp đỡ một góa phụ
nghèo ở Sarepta (gần Sidon, thuộc vùng đất của dân ngoại), chứ không phải giúp
đỡ đồng bào Israel của mình. Sidon là một trong những thành phố cổ xưa nhất của
người Phoenicia nằm ven bờ Địa Trung Hải, cách Tyre khoảng 33 km về phía bắc.
(Sau này, chính tại đây, Chúa Giêsu đã chữa lành cho con gái của một người phụ
nữ ngoại giáo.)
• Vào thời
ngôn sứ Êlisa, dù có nhiều người mắc bệnh phong tại Israel, nhưng ông lại được
sai đi chữa lành cho Naaman – một vị tướng ngoại giáo đến từ Syria.
Việc Thiên Chúa mở rộng vòng tay đến với dân ngoại thông qua
các ngôn sứ đã dọn đường cho họ đón nhận sứ điệp của Ngôn sứ Giêsu – một chủ đề
xuyên suốt trong các tác phẩm của thánh Luca. Những lời này khiến người dân
Nazareth vô cùng phẫn nộ; họ lôi Chúa Giêsu lên đỉnh đồi với ý định xô Ngài xuống
vực, nhưng:
…Ngài băng qua giữa
đám đông và tiếp tục hành trình của mình.
Không rõ Ngài làm điều đó nhờ phép lạ hay nhờ uy lực từ
chính nhân cách của mình. Dù thế nào đi nữa, thì thời khắc của Ngài vẫn chưa đến.
Việc những tiếng nói ngôn sứ bị chính người nhà chối bỏ là một
hiện tượng quá đỗi phổ biến trong thời đại ngày nay. Đó cũng là điều Chúa Giêsu
đã tiên báo sẽ xảy đến với các môn đệ của Ngài, chỉ vì họ là môn đệ và rao giảng
tầm nhìn của Ngài về cuộc sống. Trong khi chờ đợi, chúng ta hãy biến sứ mệnh của
Chúa Giêsu thành sứ mệnh của chính mình. Đó chính là ý nghĩa đích thực của việc
trở thành Kitô hữu.
https://sacredspace.com/commentary
Suy niệm: Bụt Nhà Không
Thiêng
Không thể làm tiên tri mà không trải qua bách hại, khổ đau
thử thách. Ðó là số phận chung của các tiên tri từ Cựu Ước qua Tân Ước. Những kẻ
không được sai đi, tự lấy danh mình mà nói, đó là những tiên tri giả; còn các
tiên tri thật ý thức mình được Chúa sai đi và chỉ nói những gì Ngài muốn, một sứ
mệnh như thế thường tạo ra nơi vị tiên tri một cuộc chiến nội tâm mãnh liệt.
Môsê và Êlia trải qua khủng hoảng và ngay cả thất vọng khi phải trung thành với
Lời Chúa; Yêrêmia đã nhiều lần ca thán và có lúc chỉ muốn đào thoát. Ðau khổ nhất
cho các tiên tri là thấy lời nói của mình không được lắng nghe.
Chúa Giêsu không chỉ đến để làm cho lời các tiên tri được ứng
nghiệm, Ngài cũng là vị tiên tri đúng nghĩa nhất. Nơi Ngài cũng có những đặc điểm
của các tiên tri: đối đầu với những giá trị sẵn có, Ngài tỏ thái độ như các
tiên tri: Ngài nghiêm khắc với những kẻ khóa Nước Trời không cho người khác
vào. Ngài nổi giận trước sự giả hình của những người Biệt phái. Ngài đặt lại vấn
đề tư cách là con cháu Tổ phụ Abraham mà người Do Thái vẫn tự hào. Nhất là Ngài
rao giảng không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng cả cuộc sống của Ngài; do đó, bị
chống đối, bị bách hại là số phận tất yếu của Ngài.
Tin Mừng hôm nay là lời tiên báo về sự chống đối và bách hại
mà Chúa Giêsu sẽ trải qua. Sau một thời gian rao giảng và làm nhiều phép lạ,
danh tiếng Ngài được nhiều người biết đến. Thế nhưng, khi trở về quê hương,
Ngài chỉ nhận được sự hững hờ và khinh rẻ của người đồng hương mà thôi. Quả thật,
như Ngài đã trích dẫn câu tục ngữ quen thuộc: "Không tiên tri nào được đón
tiếp nơi quê hương của mình", đó là định luật tâm lý mà chính Ngài cũng
không thoát khỏi. Nhưng quê hương đối với Chúa Giêsu không chỉ là ngôi làng
Nazaréth nhỏ bé, mà sẽ là toàn cõi Palestina. Ngài đã đến nơi nhà Ngài mà người
nhà của Ngài đã không đón tiếp Ngài. Cái chết trên Thập giá là tuyệt đỉnh sứ mệnh
tiên tri của Chúa Giêsu, là lời nói cuối cùng của Ngài như một vị tiên tri.
Là thân thể, là sự nối dài của Chúa Kitô, Giáo Hội cũng đang
tiếp tục sứ mện tiên tri của Ngài trong trần thế, do đó, Giáo Hội không thoát
khỏi số phận bị chống đối và bách hại. Một Giáo Hội không bị chống đối và bách
hại là một Giáo Hội thỏa hiệp, nghĩa là đánh mất vai trò tiên tri của mình.
Nhờ phép Rửa, người Kitô hữu cũng được tham dự vào sứ mệnh
tiên tri của Chúa Kitô: bằng lời nói, và nhất là chứng tá cuộc sống, chúng ta
thực thi vai trò tiên tri của mình trong xã hội. Cũng như Chúa Giêsu, chúng ta
được Thánh Thần xức dầu và sai vào trần thế. Ước gì chúng ta luôn kiên trì rao
giảng Tin Mừng của Chúa dù gặp thời thuận tiện hay không thuận tiện, vì biết rằng
mình đang sống ơn gọi tiên tri.
(‘Mỗi Ngày Một Tin
Vui’)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét