Trang

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

15.08.2026: THỨ BẢY TUẦN XIX THƯỜNG NIÊN - ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI - LỄ TRỌNG

 


15/08/2026

Thứ Bảy tuần 19 thường niên

 ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI.

Lễ trọng. Lễ HỌ. Cầu cho giáo dân.

 

“Kết thúc cuộc đời dương thế, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội là Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, đã được đưa lên hưởng vinh quang thiên quốc cả hồn lẫn xác”. Với những lời đó, năm 1950 đức giáo hoàng Piô 12 đã xác định tín điều Đức Maria hồn xác lên trời.

Đặc ân này xuất phát từ ơn được làm Đức Mẹ Chúa Trời và là hy vọng chắc chắn cho toàn thể nhân loại, là lời hứa cho toàn thể nhân loại sẽ được phục sinh.

 

Bài Ðọc I: Kh 11, 19a; 12, 1-6a, 10ab

“Một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng”.

Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan.

Ðền thờ Thiên Chúa trên trời đã mở ra. Và một điềm lạ vĩ đại xuất hiện trên trời: một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao: Bà đang mang thai, kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con.

Lại một điềm lạ khác xuất hiện trên trời: một con rồng đỏ khổng lồ, có bảy đầu, mười sừng, và trên bảy đầu, đội bảy triều thiên. Ðuôi nó kéo đi một phần ba tinh tú trên trời mà ném xuống đất. Con rồng đứng trước mặt người nữ sắp sinh con, để khi Bà sinh con ra, thì nuốt lấy đứa trẻ.

Bà sinh được một con trai, Ðấng sẽ dùng roi sắt mà cai trị muôn dân: Con Bà được mang về cùng Thiên Chúa, đến tận ngai của Người. Còn Bà thì trốn lên rừng vắng, ở đó Bà được Thiên Chúa dọn sẵn cho một nơi.

Và tôi nghe có tiếng lớn trên trời phán rằng: “Nay sự cứu độ, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa chúng ta, và uy quyền của Ðức Kitô của Người đã được thực hiện”.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 44, 10bc. 11. 12ab. 16

Ðáp: Hoàng Hậu đứng bên hữu Ðức Vua, mặc đồ trang điểm vàng ròng

Xướng: Hoàng Hậu đứng bên hữu Ðức Vua, mặc đồ trang điểm vàng ròng lộng lẫy. 

Xướng: Xin hãy nghe, thưa Nương Tử, hãy coi và hãy lắng tai, hãy quên dân tộc và nhà thân phụ. 

Xướng: Ðể Ðức Vua Người sủng ái dong nhan: chính Người là Chúa của Cô Nương, hãy phục vụ Người. 

Xướng: Họ bước đi trong niềm hân hoan vui vẻ, tiến vào trong cung điện Ðức Vua. 

 

Bài Ðọc II: 1 Cr 15, 20-26

“Hoa quả đầu mùa là Ðức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Chúa”.

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, Ðức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc. Vậy sự chết bởi một người, thì sự kẻ chết sống lại cũng bởi một người. Cũng như mọi người đều phải chết nơi Ađam thế nào, thì mọi người cũng sẽ được tác sinh trong Ðức Kitô như vậy. Nhưng ai nấy đều theo thứ tự của mình, hoa quả đầu mùa là Ðức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Ðức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế: rồi đến tận cùng, khi Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, và đã tiêu diệt mọi đầu mục, quyền năng và thế lực. Nhưng Người còn phải cai trị cho đến khi Người đặt mọi quân thù dưới chân Người. Kẻ thù cuối cùng sẽ bị tiêu diệt là sự chết, bởi Người đã bắt mọi sự quy phục dưới chân Người.

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia

Alleluia, alleluia! – Ðức Maria được mời gọi lên trời; đạo binh các thiên thần mừng rỡ hân hoan. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Lc 1, 39-56

Ðấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại: Người nâng cao những người phận nhỏ”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Trong những ngày ấy, Maria chỗi dậy, vội vã ra đi lên miền núi, đến một thành xứ Giuđêa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Elisabeth, và khi bà Elisabeth nghe lời chào của Maria, thì hài nhi nhảy mừng trong lòng bà, và bà Elisabeth được đầy Chúa Thánh Thần, bà kêu lớn tiếng rằng:

“Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ, và Con lòng Bà được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa tôi đến viếng thăm? Vì này tai tôi vừa nghe lời Bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi. Phúc cho Bà là kẻ đã tin rằng lời Chúa phán cùng Bà sẽ được thực hiện”.

Và Maria nói: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ trong Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ tôi, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn tớ nữ của Chúa. Này từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phước, vì Ðấng toàn năng đã làm cho tôi những sự trọng đại, và Danh Ngài là thánh. Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa. Chúa đã vung cánh tay ra oai thần lực, dẹp tan những ai thần trí kiêu căng. Chúa lật đổ người quyền thế xuống khỏi ngai vàng và nâng cao những người phận nhỏ. Chúa đã cho người đói khát no đầy ơn phước, và để người giàu có trở về tay không. Chúa săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng thương xót của Ngài. Như Chúa đã phán cùng các tổ phụ chúng tôi, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời”.

Maria ở lại với bà Elisabeth độ ba tháng, đoạn Người trở về nhà mình.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về Khải Huyền 11,19; 12,1-6. 10; 1 Cô-rin-tô 15,20-26; Lu-ca 1,39-56

Lễ hôm nay tôn vinh vị thế đặc biệt của Đức Maria trong đời sống Giáo hội. Vị thế này trước hết được xác định bởi việc Người được chọn làm Mẹ của Chúa Giê-su, đấng sinh thành duy nhất về mặt nhân tính của Ngài. Chỉ riêng điều này đã mang lại cho Người một sự độc đáo mà không ai khác từng sống trên đời có được.

Cũng như trường hợp sự phục sinh của Chúa Giê-su, chúng ta cần nhìn vào ý nghĩa của ngày lễ thay vì quá chú trọng vào nghĩa đen khi hiểu về cách mô tả sự kiện này. Sẽ chẳng ích gì khi cố hình dung rằng, ngay khi thi hài Đức Maria được đặt vào mộ, thân xác ấy lập tức thoát khỏi chốn tối tăm trần thế và bay lên "cả hồn lẫn xác" về "trời".

Khi dùng hình ảnh "được đưa cả hồn lẫn xác về trời", điều thực sự muốn nói là: nhờ phẩm giá làm Mẹ và sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong mọi giai đoạn cuộc đời, Đức Maria được ưu tiên hơn tất cả mọi người khác trong việc chia sẻ vinh quang Thiên Chúa—vốn là đích đến của tất cả chúng ta, những người qua đời trong sự hiệp nhất với Đức Ki-tô, Con của Người.

Tất nhiên, Người vẫn hoàn toàn là một con người; do đó, phẩm giá của Người thấp hơn Con của Người và Người gần gũi với chúng ta hơn nhiều. Cùng với chúng ta nhưng cũng là người dẫn đầu, Người đứng tôn thờ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ngay cả trong vinh quang, Người cũng không thể nào được tôn thờ theo cách dành riêng cho các Ngôi Vị trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Điều Người có thể làm là chuyển cầu cho những nhu cầu của chúng ta, dâng những lời cầu nguyện của một con người thay cho chúng ta. Đây là điều mà các anh chị em Ki-tô hữu không thuộc Công giáo không phải lúc nào cũng hiểu được; và có lẽ chính chúng ta, những người Công giáo, qua lời nói và hành động, đã vô tình tạo ra cái nhìn sai lệch về vị thế của Đức Maria trong đời sống Ki-tô giáo. Vai trò của Đức Maria được mô tả rõ nét trong Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo:

“Nhờ sự gắn bó trọn vẹn với thánh ý Chúa Cha, với công trình cứu chuộc của Con Ngài và với mọi sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ Maria là mẫu gương đức tin và đức ái của Hội Thánh. Do đó, Người là ‘thành phần trổi vượt và… hoàn toàn độc đáo của Hội Thánh’; quả thực, Người là ‘hình ảnh mẫu mực’ (tiếng Latinh: *typus*) của Hội Thánh.” (Số 967)

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc Đức Maria đi thăm người chị họ là bà Êlisabét khi cả hai đều đang mang thai đứa con đầu lòng. Câu chuyện chứa đựng hầu hết các yếu tố tạo nên vị thế mà chúng ta dành cho Đức Maria trong Hội Thánh.

Trước hết, chúng ta thấy Đức Maria vội vã lên đường từ Nadarét đến một thị trấn nhỏ ở vùng đồi núi Giuđê, không xa Giêrusalem (nơi ông Dacaria phục vụ với tư cách là tư tế trong Đền Thờ). Người đi thăm người chị họ Êlisabét, lúc đó đang mang thai người con mà chúng ta biết đến là Gioan Tẩy Giả. Bản thân Đức Maria, tất nhiên, cũng đang cưu mang Con của mình là Chúa Giêsu. Một chi tiết vô cùng ý nghĩa là chính Đức Maria và Chúa Giêsu đã đến thăm bà Êlisabét và Gioan. Ngay từ khi còn trong lòng mẹ, Chúa Giêsu đã thể hiện tinh thần muốn phục vụ thay vì được phục vụ. Đức Maria cũng chia sẻ tinh thần ấy. Và khi Chúa Giêsu cùng Mẹ Người hiện diện, hài nhi trong lòng bà Êlisabét đã nhảy mừng vì vui sướng.

Được tràn đầy Chúa Thánh Thần, bà Êlisabét hân hoan cất tiếng ngợi khen. Bà nhận ra vị thế đặc biệt của Đức Maria và Con của Người:

Em có phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng có phúc.

Quả thực, Đức Maria thật độc đáo và đầy ân phúc khi được chọn làm Mẹ của Vị Vua và là Chúa Cứu Thế của chúng ta. Bà Êlisabét vô cùng xúc động khi chính Chúa Giêsu và Mẹ Người đến thăm bà và Gioan:

Bởi đâu tôi được diễm phúc này là Mẹ Chúa tôi đến thăm tôi?

Thế nhưng, điều đó vẫn luôn diễn ra đối với mỗi người chúng ta, đặc biệt là trong mỗi cử hành Thánh Thể, khi Chúa đến với chúng ta qua việc chia sẻ Lời Ngài, qua việc bẻ bánh và khi chúng ta cùng chia sẻ chén thánh.

Và cũng có một lời khen ngợi đặc biệt dành cho Đức Maria:

Có phúc cho người đã tin rằng những gì Chúa phán với mình sẽ được thực hiện.

Điều này đưa chúng ta đến đặc điểm thứ hai của Đức Maria—đó là đức tin và sự tín thác trọn vẹn vào Thiên Chúa. Điều đó được thể hiện qua lời "xin vâng" của Người ("Xin hãy thực hiện cho tôi..."), khi mà dù chưa hiểu thấu đáo những gì được yêu cầu, Người vẫn vô điều kiện chấp nhận tuân theo kế hoạch của Thiên Chúa.

Giờ đây đến lượt Đức Maria cất lời ca tụng Thiên Chúa qua bài thánh ca tuyệt đẹp mà chúng ta gọi là *Magnificat* (Bài ca Ngợi khen), được Giáo hội hát trong giờ Kinh Chiều mỗi ngày. Bài ca này chứa đựng những suy niệm sâu sắc về điều làm nên sự cao cả của Đức Maria trong mắt Thiên Chúa:

Người đã đoái thương nhìn đến phận hèn mọn của nữ tỳ Người.

Đức Maria chỉ là một thiếu nữ bình dị, chưa lập gia đình và sống cuộc đời lặng lẽ tại một thị trấn nhỏ thuộc một tỉnh xa xôi của đế quốc La Mã. Nói về thị trấn này, Nathanael đã hỏi với vẻ hoài nghi khi nghe biết nơi Chúa Giêsu xuất thân:

"Từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được?" (Gioan 1,46)

Nhưng trong Giao Ước Mới, phản ánh chính sự ưu ái của Thiên Chúa, thì những người thấp hèn và vô danh lại là những người được đặc biệt ưu ái. Sự cao cả của Đức Maria không đến từ địa vị xã hội; điều đó hoàn toàn không quan trọng trong mắt Thiên Chúa, ngoại trừ việc những người ở tầng lớp thấp nhất trong xã hội thường bị tước đi phần công bằng về của cải trần gian.

Từ nay, mọi thế hệ sẽ khen tôi có phúc.

Đây không phải là lời tuyên bố đầy kiêu ngạo, mà là lời tạ ơn khiêm nhường, và tất nhiên, điều đó đã trở thành sự thật kể từ ngày Người thốt lên lời ấy. Quả thực, được chọn làm Mẹ của Đấng Cứu Thế là một ân sủng phi thường. Chúng ta có thể tự hỏi: "Tại sao lại là Maria?" và chính Đức Maria cũng sẽ là người đầu tiên đồng tình với câu hỏi đó. Tuy nhiên, Người vẫn hân hoan và vô cùng biết ơn vì đã được chọn lãnh nhận đặc ân này.

Việc Người được chọn đơn giản là một dấu chỉ nữa cho thấy mong muốn của Thiên Chúa: những người nghèo khổ, yếu đuối, bị gạt ra bên lề xã hội, bị bóc lột và kỳ thị trên thế giới này phải là những người đặc biệt đón nhận tình yêu và sự quan tâm của Người. Đức Maria đã diễn tả điều này trong phần cuối bài ca của mình:

Người đã biểu dương sức mạnh cánh tay Người;

Người đã phân tán những kẻ kiêu ngạo trong tư tưởng lòng trí chúng. Ngài hạ bệ những kẻ quyền thế khỏi ngai vàng,

và nâng cao những người phận nhỏ;

Ngài ban của ngon vật lạ cho kẻ đói nghèo,

và để người giàu có ra về tay trắng.

Những kẻ quyền thế và giàu sang thời Đức Maria giờ đâu rồi? Họ là ai? Phần lớn họ đã chìm vào quên lãng và biến mất khỏi dòng lịch sử, trong khi cô gái nhỏ thành Nazareth vẫn được muôn nơi tôn vinh.

Nhưng sự cao cả của Đức Maria không chỉ dừng lại ở những ân sủng và đặc quyền mà Người được ban tặng. Suy cho cùng, những điều đó mang tính thụ động, bởi chúng là những món quà Người được nhận lãnh. Trong một cảnh tượng đầy ý nghĩa ở Tin Mừng, một người phụ nữ đang lắng nghe Chúa Giêsu bỗng cất tiếng reo lên:

Phúc cho dạ đã cưu mang Ngài và vú đã cho Ngài bú! (Luca 11,27)

Ngày nay, chúng ta có thể diễn đạt ý này bằng ngôn ngữ của mình rằng: “Xin Thiên Chúa chúc phúc cho người mẹ đã sinh ra một người con tuyệt vời như Ngài!” Và ẩn chứa trong đó là một sự thật sâu sắc: ảnh hưởng thực sự của Đức Maria (và cả Thánh Giuse) trong việc hình thành nên Con của Người. Thế nhưng, Chúa Giêsu lập tức tiếp lời người phụ nữ ấy và nói:

Không, đúng hơn là phúc cho những ai nghe lời Thiên Chúa và tuân giữ lời ấy. (Luca 11,28)

Nói cách khác, không phải những ân sủng Thiên Chúa ban làm nên sự cao cả của chúng ta, mà chính là cách thức chúng ta đón nhận và đáp lại những ân sủng ấy.

Sự cao cả của Đức Maria không chỉ nằm ở việc Người được chọn làm Mẹ Chúa Giêsu, mà còn ở sự đón nhận trọn vẹn trách nhiệm ấy với đức tin và lòng tín thác—sẵn sàng chấp nhận tất cả những gì có thể xảy đến, dù chưa biết trước điều gì. Quả thực, Người không hề hay biết cái giá mình sẽ phải trả khi trở thành Mẹ của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, cũng như Con của mình, Người đã trút bỏ chính mình để hoàn toàn phục vụ Chúa Cha; và hôm nay, chúng ta tôn vinh phần thưởng dành cho Người: được tôn vinh lên địa vị cao trọng nhất trong nhân loại.

Điều này được thể hiện gián tiếp qua Bài Đọc Hai, trích từ Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, nơi Thánh Phaolô nói về sự phục sinh của Đức Kitô như yếu tố then chốt cho tính xác thực của đức tin Kitô giáo. Đức Kitô—Con Thiên Chúa nhập thể và đã chịu chết trên thập giá—chính là Đấng tiên khởi trong số những người sống lại, hiện đang ngự bên hữu Chúa Cha. Theo lời Thánh Phaolô, Ngài là:

…hoa quả đầu mùa của những kẻ đã an giấc…

Nhưng sau đó, Thánh Phaolô nói tiếp:

…vì như mọi người đều phải chết nơi Ađam, thì mọi người cũng sẽ được sống lại nơi Đức Kitô. Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình.

Chúa Giêsu là Đấng tiên khởi, nhưng chắc chắn người kế tiếp trong thứ tự ấy chính là Mẹ của Ngài.

Bài Đọc Một, trích từ Sách Khải Huyền, rõ ràng đã được chọn để mô tả một cách biểu tượng về Đức Maria trong vinh quang. Trước hết là thị kiến ​​ngắn gọn về Đền Thờ Thiên Chúa tại Giêrusalem Mới đang mở ra, để lộ Hòm Bia Giao Ước bên trong. Hòm Bia nguyên thủy—một chiếc hòm bằng gỗ keo—chứa các bia đá ghi Lề Luật và được đặt trong Nơi Cực Thánh như dấu chứng cho lời hứa của Thiên Chúa (giao ước của Ngài) về việc ở cùng dân Người. Nhưng đây là Hòm Bia của Giao Ước Mới, nơi cư ngụ vĩnh viễn của Thiên Chúa giữa dân Người, chính là Chúa Giêsu Phục Sinh trong Thân Thể Ngài—tức là Giáo Hội. Trong ngày lễ hôm nay, hình ảnh này được áp dụng cho Đức Maria, Đấng đã cưu mang Đấng thiết lập Giao Ước Mới trong cung lòng mình. Và vì thế, trong Kinh Cầu Đức Bà, Người được xưng tụng là "Hòm Bia Giao Ước".

Tiếp theo là phần mô tả chi tiết hơn về thị kiến ​​một người phụ nữ xuất hiện từ trời. Người phụ nữ ấy chính là Israel—dân tộc đã sinh ra Đấng Messiah và cộng đồng những người tin vào Ngài. Hình ảnh người phụ nữ này thường được quy cho Đức Maria trong các tượng ảnh và tranh vẽ:

Khoác áo mặt trời, chân đạp mặt trăng... đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao.

Người phụ nữ được mô tả là đang mang thai, kêu la vì đau đớn và quằn quại trong cơn chuyển dạ sinh con. Chi tiết này gợi nhớ lại lời Thiên Chúa phán với tổ tông loài người sau khi sa ngã, nói về nỗi đau đớn đi kèm với việc sinh nở. Tuy nhiên, người con sắp chào đời chính là Đấng Messiah, vừa là một cá nhân cụ thể, vừa là vị lãnh đạo của dân Israel mới. Người mẹ sinh ra Ngài đang phải chịu cảnh bách hại và áp bức.

Tiếp đó là một mô tả mang tính khải huyền về con rồng chực chờ nuốt chửng đứa trẻ ngay khi vừa chào đời. Trong truyền thống Do Thái, con rồng (cùng với con rắn) được xem là biểu tượng cho quyền lực của sự dữ, kẻ thù của cả Thiên Chúa lẫn dân Người. Hình ảnh cái đuôi rồng quét một phần ba số ngôi sao trên trời rơi xuống là sự ám chỉ về việc các thiên thần theo phe Lucifer bị sa ngã. Dẫu vậy, đứa trẻ vẫn chào đời. Đó là một người con trai, Đấng sẽ cai trị muôn dân bằng cây gậy sắt. Ngài chính là Đấng Messiah đã được hứa ban. Tuy nhiên, Ngài được mô tả là bị cướp lấy ngay lập tức và được đưa về cùng Thiên Chúa. Điều này ám chỉ sự lên trời và chiến thắng của Đấng Messiah sau khi con rồng bị đánh bại.

Trong khi đó, người phụ nữ—tức người mẹ—trốn vào sa mạc, nơi trú ẩn truyền thống dành cho những người bị bách hại. Thiên Chúa đã dọn sẵn một nơi ở đó cho bà, nơi bà được nuôi dưỡng trong suốt 1.260 ngày, tương ứng với khoảng thời gian diễn ra cuộc bách hại.

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng tác giả không trực tiếp nghĩ đến Đức Maria trong đoạn văn này, và rõ ràng là không phải mọi chi tiết trong đoạn văn đều có thể áp dụng trực tiếp cho Người. Tuy nhiên, Đức Maria là thân mẫu của Chúa Giêsu—Đấng mà qua Thân Mình Ngài, sự hiện diện của Thiên Chúa giữa chúng ta được tiếp nối. Giờ đây, Đức Maria đang hiện diện đầy vinh quang và rạng rỡ bên cạnh Con của Người, cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Hôm nay, chúng ta cùng chia sẻ niềm hạnh phúc của Người. Chúng ta mong chờ ngày mình cũng được cùng Người hưởng niềm hạnh phúc ấy. Trong thời gian này, chúng ta xin Người nhớ đến chúng ta khi chúng ta tiếp tục hành trình nơi trần thế, và xin Người chuyển cầu cùng Con của Người cho chúng ta, để chúng ta luôn trung thành với ơn gọi làm môn đệ trung kiên. Ước mong chúng ta luôn nhận biết thánh ý Chúa dành cho mình và, như Đức Maria, thưa lời "Xin vâng" vô điều kiện trước những gì Ngài mong muốn nơi chúng ta.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/f0815r/

 

 


Lễ Mẹ Lên Trời   

Quí ông bà, cô bác, anh chị em thân mến!

Nhân ngày Lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau nhắc lại bài giảng của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Lễ Kính Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Ðức Thánh Cha đã giải thích và câu: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa" như sau:

"Giáo Hội lữ hành trong lịch sử ngày hôm nay hiệp ý với bài ca vui mừng của Mẹ Maria Ðồng Trinh, Giáo Hội nói lên niềm vui và chúc tụng Thiên Chúa, vì Mẹ của Chúa khải hoàn bước vào vinh quang trên Trời. Trong mầu nhiệm Hồn Xác Lên Trời xuất hiện cho chúng ta thấy ý nghĩa trọn vẹn và quyết định của những lời mà Mẹ Maria đã thốt lên tại Ain Kerem, khi Mẹ đáp lại lời chào của bà Elizabeth: Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả.

Nhờ vào việc chiến thắng của Chúa Kitô vượt qua sự chết, Ðức Nữ Ðồng Trinh Nazareth được kết hợp cách đặc biệt vào hiệu quả của ơn cứu rỗi. Với lời Xin Vâng, Mẹ đã đáp lại trọn vẹn thánh ý Chúa. Mẹ đã tham dự cách sâu xa vào mầu nhiệm Chúa Kitô và đã bước vào vinh quang trước tiên sau Chúa Kitô với trọn cả hồn xác. Lời thưa Xin Vâng của Mẹ là niềm vui của biết bao người sống trong bóng tối và trong sự chết. Thật vậy, nhờ Mẹ mà Chúa của sự sống bước vào thế gian. Các tín hữu vui mừng và tôn vinh Mẹ như là Mẹ của nhiều người con đã được Chúa Kitô cứu chuộc, một cách đặc biệt trong ngày hôm nay, các tín hữu tôn kính Mẹ như là dấu chỉ của sự an ủi, của niềm vui cho mọi người, mọi dân tộc trên đường lữ hành tiến về Quê Trời.

Chúng ta hãy đưa mắt nhìn lên Mẹ Ðồng Trinh mà Phụng Vụ khẩn cầu Mẹ như là: "Ðấng bẻ gẫy xiêng xích trói buộc cho những kẻ bị áp bức, trả lại ánh sáng cho kẻ bị mù, xua đuổi ra khỏi chúng ta mọi sự dữ và cầu xin cho chúng ta được mọi sự lành".

"Linh hồn tôi chúc tụng Chúa", cộng đoàn Giáo Hội trong ngày lễ trọng thể Kính Mẹ Maria hôm nay lập lại bài ca tạ ơn của Mẹ, và Giáo Hội làm công việc này với tư cách là dân Chúa và xin mọi tín hữu hãy hiệp chung với nhau hát bài ca Magnificat dâng lên Chúa. Ngay từ thế kỷ đầu, thánh Ambrôsiô đã khuyến khích: "Ước chi tâm hồn Mẹ Maria hiện diện nơi từng người để chúc tụng Thiên Chúa, và ước chi thần khí của Mẹ Maria hiện diện nơi mỗi người để hoan hỷ trong Chúa". Những lời của bài ca Magnificat là như chúc thư thiêng liêng của Mẹ Maria Ðồng Trinh. Tuy nhiên, những lời này cũng là phần gia tài cho tất cả những ai nhìn nhận mình là con của Mẹ Maria, quyết định tiếp rước Mẹ Maria về nhà mình, như thánh Tông Ðồ Gioan đã làm khi xưa, tiếp nhận Mẹ là Mẹ của mình trực tiếp từ Chúa Giêsu dưới chân thập giá."

Ðó là những lời khuyến khích của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II cho tất cả mọi người trong ngày Lễ Kính Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời hôm nay 15 tháng 8. Ðức Thánh Cha còn đề ra cho mọi người mẫu gương của Mẹ như sau:

"Khi đặt mình vào trường học của Mẹ một cách đặc biệt, trong đó các tín hữu được mời gọi thực hiện cuộc ăn năn trở lại cách sâu xa hơn, củng cố đức tin của họ, sống chăm chú hơn, lắng nghe Lời Chúa và trở nên sẵn sàng hơn để phục vụ những anh chị em của mình. Ðối với tất cả những đồ đệ của Chúa Kitô, Mẹ là mẫu gương tốt nhất cho đời sống Kitô, Mẹ chuẩn bị tâm hồn chúng ta đón nhận và trao Chúa Kitô cho chúng ta, giống như xưa kia Mẹ đã trao cho những người giúp việc tại tiệc cưới Cana một mệnh lệnh: "Hãy làm tất cả những gì Chúa truyền dạy". Mẹ mời gọi chúng ta hãy ra đi đến với những ai đang cần nâng đỡ và trợ giúp của chúng ta như chính Mẹ đã làm cho người chị họ Elizabeth, như thế chúng ta lãnh nhận từ Mẹ rất thân yêu này sự thích thú của cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa và của sứ mạng sống đức ái phục vụ tha nhân".

Ðó là tâm tình của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II mong muốn cho mọi thành phần trong Giáo Hội, cho tất cả những ai đang tôn kính Mẹ Maria, trong tâm tình này, mọi tín người hãy kết hiệp với nhau, và như Ðức Thánh Cha nói là mời Mẹ đến ở nhà chúng ta. Mời Mẹ đến với chúng ta để xin Mẹ giúp thực thi lời Chúa truyền dạy: "Hãy làm những gì Chúa truyền dạy".

Trẻ em Tây Phương thường được người lớn kể cho câu truyện thần tiên như sau:

Ngày xửa ngày xưa, có một gia đình nghèo sống bên cạnh rừng, người chồng lo việc tiều phu, người vợ lo nội trợ. Họ chỉ có ba người con gái, sáng sớm người chồng đi vào rừng kiếm củi, người vợ đi vào làng để mua thức ăn và các cô gái nhỏ trông chừng nhà cửa.

Một buổi sáng nọ, đang nô đùa trước cửa nhà, ba cô bé nhỏ thấy một bà lão đang tiến lại gần, người đàn bà mặc áo đen, từ xa ba cô bé nhỏ cũng có thể nhận ra gương mặt xấu xí của bà. Vừa thấy bà lão đến gần, người chị hét lên:

- Mụ phù thủy, mụ phù thủy.

Nghe tiếng báo động của người chị, hai cô bé nhỏ chạy vội vào nhà đóng cửa lại, còn cô lớn chạy ra phía sau nhà để thả chó ra. Lão bà dừng lại trước những tiếng gầm gừ của con chó. Bên trong hai đứa nhỏ vẫn còn run cầm cập. Một lát sau người đàn bà xấu xí đành bỏ về phía rừng.

Hôm sau, người tiều phu vào rừng đốn củi và đem theo con chó, người mẹ lại đem đứa con gái lớn theo phụ giúp mình mua sắm ngoài làng, ở nhà chỉ còn lại hai đứa bé gái nhỏ. Vào giữa buổi trưa, khi hai đứa nhỏ đang chơi trước nhà thì lão bà lại xuất hiện, vẫn bộ quần áo đen của phù thủy, dáng điệu cúi gập người trên cây gậy. Ðứa chị có bổn phận trông coi em, nó lại hét lên:

- Mụ phù thủy, mụ phù thủy.

Và cả hai chạy ù vào nhà đóng cửa kín lại, đứa chị còn kịp nhặt mấy viên đá phòng thân.

Khi bà lão tiến đến gần sân, bà nhìn vào trong chuồng chó thấy chuồng trống không, lại không có tiếng chó sủa, vậy là chú chó đã đi vắng. Người đàn bà tiến đến cửa chính của túp lều và tìm then cửa. Khi bà chưa kịp đụng vào then cửa thì đứa chị đã ném viên đá vào người bà. Một tay chống gậy, một tay đỡ lấy mặt, bà lão xấu xí lầm lũi trở về phía rừng.

Hôm sau nữa, sinh hoạt của gia đình tiều phu vẫn diễn ra bình thường, người cha vẫn đưa con chó vào rừng, người mẹ đem đứa con gái lớn và cả đứa kế đi theo ra chợ, chỉ còn lại đứa bé nhỏ nhất mới lên năm tuổi trông nhà. Vào giữa buổi trưa, khi đứa nhỏ đang chơi trước sân thì bà lão xấu xí lại xuất hiện một lần nữa. Vừa trông thấy, nó thét lên như hai đứa chị:

- Mụ phù thủy, mụ phù thủy.

Và chạy nhanh vào nhà cài then cửa lại, đứng nhìn người đàn bà. Qua lỗ nhỏ của khe cửa, bỗng nó nhìn thấy và nhận ra một điều mà nó chưa hề thấy trước đó, người đàn bà không có vẻ gì là một mụ phù thủy cả, nó chỉ thấy một người đàn bà vẻ đau yếu và mệt lả. Ðứa bé năm tuổi tự nhiên cảm thấy thương mến bà vô cùng, nó liền mở cửa và tiến đến bên bà thưa:

- Thưa bà, cháu có thể giúp bà cái gì được không ạ?

Quả thật, gương mặt bà lão xấu xí kinh khủng. Khi trông thấy đứa bé kháu khỉnh bà nói:

- Lão còn phải đi đường xa, lão mệt lắm, cháu có thể cho bà ly nước được không?

Nó liền chạy ra sau nhà, lấy gáo múc nước đem ra cho bà cụ uống. Bà cụ cầm lấy chiếc gáo, cảm ơn đứa bé rồi uống cạn. Bà rùng mình đứng thẳng, đứng thẳng rồi biến thành một cô công chúa xinh đẹp.

Thì ra lão bà là một cô công chúa đã bị một mụ phù thủy nào đó ghen tức làm cho công chúa biến thành xấu xí. Cô công chúa ấy trở lại nguyên hình nguyên trạng khi có ai đó làm một nghĩa cử đẹp cho cô, nhưng bao nhiêu năm trời không có ai đối xử tử tế với lão bà vì quá xấu xí, cho đến ngày hôm đó cô bé năm tuổi đã làm một nghĩa cử đẹp và hành động ấy đã biến đổi bà, trả lại hình dáng yêu kiều cho cô công chúa.

Anh chị em thân mến,

Trên đây là câu truyện nhân gian kể cho trẻ em nghe, nhưng cũng là câu chuyện xảy ra hằng ngày cho người lớn. Mỗi ngày qua đi trong cuộc sống, không biết bao nhiêu khuôn mặt mà chúng ta gán cho bao nhiêu là nhãn hiệu để cố tình xa lánh, nhưng chỉ cần một cử chỉ tử tế rất nhỏ cũng đủ làm cho khuôn mặt ấy trở thành dễ thương. Ðó là sức mạnh biến đổi của tình yêu, là cốt lõi của Tin Mừng. Ðây là điều mà Chúa Giêsu đến trần gian để dạy cho loài người: "Ngài giấu những sự đó với những người thông thái và kẻ quyền thế, mà chỉ tỏ bày cho trẻ em và những kẻ bé mọn" (Mt 11,25). Thật ra chỉ có trẻ thơ mới nhận ra sức mạnh biến đổi ấy của tình yêu.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho chúng con được một tâm hồn luôn tươi trẻ để có đủ sức mạnh biến đổi tình yêu chúng con, xin Mẹ giúp chúng con ý thức rằng, chỉ có tình yêu thương mới biến đổi tâm hồn con người và giúp chúng con biến đổi thế giới, xin Mẹ luôn hiện diện bên Chúa, gìn giữ chúng con trên con đường theo Chúa Kitô và làm cho chúng con được trưởng thành trong đức tin mà chúng con tuyên xưng qua Kinh Tin Kính.

‘Sống Tin Mừng’--Radio Veritas Asia

 

 


Ngày 15/8: Lễ Đức Mẹ Lên Trời

 

Lễ trọng

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Việc kính trọng thể Đức Maria Théotokos (Mẹ Thiên Chúa) cử hành ngày 15 tháng 8, đã được chỉ định rõ rệt trong một sách bài đọc miền Géorgien thế kỷ thứ VIII, cho thấy cùng ngày hôm đó ở Jérusalem cũng có một lễ kính Đức Mẹ tại một nhà thờ do nữ hoàng Eudoxie cho xây tại Gethsémani. Lễ Đức Mẹ An giấc (Dormitio) mà hoàng đế Maurice (+ 602) cho thực hành trong thế kỷ thứ VI khắp Đế quốc Roma, đã được cử hành ở Roma trong thế kỷ thứ VII dưới tước hiệu Đức Mẹ An nghỉ (Pausatio), cùng với một số lễ Đức Mẹ khác như Lễ Dâng con vào Đền thánh, Lễ Truyền tin, Lễ sinh nhật Đức Mẹ, còn lễ Mẹ Thiên Chúa thì cử hành ngày 1 tháng giêng. Chỉ từ thế kỷ thứ XIII, mới có tên là lễ Đức Mẹ lên trời trong sách phụng vụ Bí tích Grégorien. Sách ghi: “Người đã chịu cảnh chết tạm thời nhưng không bị khuất phục bởi xiềng xích sự chết”. Thánh lễ đã thực sự trọng thể nhờ một cuộc kiệu đêm từ nhà thờ Saint-Adrien-au-Forum đến Đền Đức Bà Cả, một đêm canh thức, một ngày chay, đến thế kỷ thứ VIII có thêm tuần bát nhật.

Một số câu chuyện ngụy thư trong thế kỷ V và VI về bước Chuyển dịch (Transitus) của Đức Maria tìm cách giải thích cái chết của Đức Mẹ trong đó đã nói tới tư tưởng việc thân xác Người được triệu về trời. Truyền thống liên tục trong Giáo hội -mà thánh Grégoire thành Tours (+594) là người làm chứng đầu tiên, tiếp theo là các giáo phụ khác như Pseudo-Modeste ở Jérusalem (+khoảng 700)- minh nhiên khẳng định có việc đưa lên trời của Đức Mẹ. Trong khi một tác giả tên là Timothée linh mục ở Jérusalem (thế kỷ VI-VII) cho rằng “cho đến bây giờ Đức trinh nữ vẫn là bất tử (nghĩa là không chết)”, ý kiến của hầu hết các Giáo phụ, cũng như phụng vụ và truyền giáo điều công nhận cái chết của Người.

Việc khắp nơi tin tưởng Đức Maria được gọi về trời càng được khẳng định do việc hàng giám mục công giáo trả lời Đức Piô VII năm 1946. Quả thế, Đức giáo hoàng, sau khi gữi một bức thư hỏi ý kiến tất cả các Giám Mục trên thế giới xem có thể công bố thành tín điều việc thân xác Đức Maria được đưa về trời, và nhận được câu trả lời khẳng định của hầu như tất cả các vị, ngày 1 tháng 11 năm 1950, qua Hiến chế Munificentissimus Deus Đức Giáo hoàng đã công bố chân lý đức tin sau đây: “Đức Maria vô nhiễm trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa, sau cuộc sống trần gian, đã được cất nhấc cả hồn và xác về vinh quang trên trời”.

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện lễ vọng, lấy từ Sách các phép Giáo hoàng thế kỷ VIII (của Đức Grégoire) nhấn mạnh dây liên đới giữa việc Đức Mẹ được triệu về trời với tính cách Mẹ Thiên Chúa của Người:

“Chúa đã ban cho Người ân phúc và vinh dự được làm mẹ con Một Chúa và đã ban triều thiêng vinh hiển không ai sánh bằng Người trong ngày hôm nay …”. Trong ngày đại lễ, chúng ta thấy ba tư tưởng chính xoay quanh hai chiều kích vừa cá nhân vừa giáo hội của biến cố này.

Lời nguyện trong ngày đặt tương quan giữa việc Đức Maria được triệu về trời với ơn vô nhiễm nguyên tội và ơn làm mẹ Thiên Chúa. Một trong các nền tảng của tín điều là lời tiên báo cuộc chiến thắng của Người phụ nữ trên con rắn (St 3,15), và ba điều chúc dữ, trong đó có cái chết (xem 1Co 15,55). Hơn thế nữa: trong phúc âm Luca, Đấng Đầy ân phúc (1,28) được bà Elisabeth chào là Người được phúc lành duy nhất (1,42) chứng tỏ Đức Maria đã không bị ảnh hưởng của lời chúc dữ bởi sách Sáng Thế 3,19, nhưng gắn liền với phúc lành Con của Người. Kinh tiền tụng, lấy tinh thần từ Hiến chế Lumen Gentium của Công đồng Vatican II (số 68) gọi Đức Maria là “hình ảnh trọn vẹn của Giáo hội mai sau” và tung hô “(Lạy Chúa), Chúa đã giữ gìn khỏi hư nát thân xác của Đấng từng cưu mang Con Một Chúa và sinh ra Đấng tạo nên cuộc sống …” Trong ngày này khi mừng việc Đức Maria được triệu về trời, chúng ta cũng mừng mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô. Sợi dây liên kết bất khả phân ly nối kết Mẹ với Con mang lại một ý nghĩa đặc biệt cho biến cố này, như các bài đọc sách thánh trong thánh lễ (1 Co 15,20-26) và trong phụng vụ giờ kinh (Ep 1,16-2,10) hôm nay nhấn mạnh. Đấng được cứu chuộc trước (Pré-rachetée) cũng là Đấng được phục sinh trước (Pré-ressuscitée): “Đức Kitô lên trời đã chuẩn bị cho mẹ mình một chỗ ở vĩnh hằng- Alleluia” (điệp ca thứ nhất kinh chiều ngày vọng). Tôn vinh Đức Maria chính là tôn vinh cuộc hành trình đức tin và ân sủng đã đưa Người đến chân thập tự giá (Ga 19,25). Bài đọc thứ nhất trong thánh lễ (Kh 11-12) có vẻ muốn đặt một sự song hành giữa Người phụ nữ, Con gái Sion và Giáo hội của thời Tân Ước. Vậy nên Đức Maria được đưa lên trời, trở thành hình ảnh thời thế mạt của Giáo hội và nhờ lời khẩn cầu của mình, Người giúp nhân loại “đạt tới vinh quang phục sinh” (lời nguyện tạ lễ)

Enzo Lodi

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét