14/08/2026
Thứ Sáu tuần 19 thường niên.
Thánh Mácximilianô Maria Kônbê, linh mục, tử đạo.
Lễ nhớ
* Thánh nhân sinh ngày 8 tháng 1 năm 1894 tại Ba
Lan. Người gia nhập Dòng Anh Em Hèn Mọn và năm 1918 thụ
phong linh mục tại Rôma. Đầy lòng yêu mến nồng nàn đối với Đức Trinh Nữ Maria
Thánh Mẫu Thiên Chúa, người lập một hội đạo đức lấy tên là “Đạo binh Đức Maria
Vô Nhiễm”. Hội này đã được truyền bá rộng rãi cả ở quê hương của người lẫn ở
nhiều miền khác. Người đã đến Nhật Bản để truyền giáo, hăng
say loan báo đức tin Kitô giáo dưới sự chăm sóc và bảo trợ của Đức Trinh Nữ Vô
Nhiễm Nguyên Tội. Khi đã trở về Ba Lan, người phải chịu biết bao cơ cực, nhọc
nhằn một thời gian dài trong trại tập trung Ốt-suýt vì chính sách kỳ thị chủng
tộc. Người đã hiến dâng mạng sống mình làm lễ toàn thiêu vì lòng
bác ái ngày 14 tháng 8 năm 1941.
Bài Ðọc I: (Năm
II) Ed 16, 1-15. 60. 63
“Ngươi tuyệt hảo nhờ sự huy hoàng Ta đã mặc cho ngươi, thế
mà ngươi đã mãi dâm truỵ lạc”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Có lời Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, hãy cho
Giêrusalem biết tội ác ghê tởm của nó. Hãy nói: Chúa là Thiên Chúa phán cùng
Giêrusalem rằng: Nguồn gốc và sinh quán của ngươi là xứ Canaan. Cha ngươi là
người Amorê: mẹ ngươi là người Xêthêa. Khi ngươi sinh ra, ngày ngươi chào đời,
người ta không cắt rốn, không rửa ngươi trong nước cho sạch sẽ, không xát muối
và bọc khăn cho ngươi. Không ai đem lòng thương xót nhìn ngươi để làm cho ngươi
một công việc nào như thế. Ngày ngươi sinh ra, vì ghê tởm ngươi, người ta đã bỏ
ngươi ngoài đồng.
Ta đi qua gần ngươi và thấy ngươi dẫy dụa trong máu. Ta đã
nói cùng ngươi rằng: ‘Hãy sống trong máu và lớn lên như cỏ ngoài đồng’. Ngươi
đã nảy nở, lớn lên và đến tuổi dậy thì. Ngực ngươi nở nang, tóc ngươi rậm dài,
nhưng ngươi vẫn khoả thân. Bấy giờ Ta đi qua gần ngươi và thấy ngươi. Lúc đó
ngươi đã đến tuổi yêu đương. Ta lấy vạt áo trải trên mình ngươi mà che sự khoả
thân của ngươi. Ta thề và kết ước với ngươi – lời Chúa phán – và ngươi đã thuộc
về Ta. Ta đã tắm ngươi trong nước, rửa máu trên mình ngươi và xức dầu cho
ngươi. Ta đã mặc cho ngươi áo màu sặc sỡ và xỏ giày da tốt cho ngươi, thắt lưng
ngươi bằng dây gai mịn và choàng cho ngươi áo tơ lụa. Ta đã lấy đồ quý mà trang
điểm cho ngươi. Ta đã đeo xuyến vào tay ngươi, đeo kiềng vào cổ ngươi. Ta đã xỏ
khoen vào mũi ngươi, đeo hoa tai vào tai ngươi và đặt triều thiên rực rỡ trên đầu
ngươi. Ngươi đã được trang điểm bằng vàng bạc, mặc áo bằng vải mịn, tơ lụa và
hàng thêu. Ngươi ăn bột miến lọc, mật ong và dầu ôliu. Càng ngày ngươi càng
xinh đẹp và tiến lên ngôi nữ hoàng. Ngươi đã lừng danh giữa các dân tộc nhờ sắc
đẹp của ngươi vì ngươi thật là tuyệt hảo nhờ sự huy hoàng Ta đã mặc cho ngươi.
Chúa là Thiên Chúa phán, nhưng ngươi đã cậy sắc đẹp và lợi dụng danh tiếng của
ngươi, để mãi dâm trụy lạc. Ngươi hiến thân cho bất cứ ai qua đường. Nhưng phần
Ta, Ta sẽ nhớ lại giao ước Ta đã lập với ngươi khi ngươi còn xuân xanh. Ta sẽ lập
với ngươi một giao ước vĩnh cửu. Như thế, để ngươi phải nhớ lại mà xấu hổ, và
vì xấu hổ, ngươi sẽ không còn mở miệng ra nữa, khi Ta tha thứ hết mọi việc
ngươi đã làm. Chúa là Thiên Chúa phán”.
Ðó là lời Chúa.
Hoặc bài vắn này:
Ed 16, 59-63
“Ngươi tuyệt hảo nhờ sự huy hoàng Ta đã mặc cho ngươi, thế
mà ngươi đã mãi dâm truỵ lạc”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Chúa là Thiên Chúa đã phán thế này: “Ta sẽ đối xử với ngươi
như ngươi đã đối xử với Ta, ngươi đã khinh rẻ lời thề mà huỷ bỏ giao ước. Nhưng
phần Ta, Ta sẽ nhớ lại giao ước Ta đã lập với ngươi khi ngươi còn xuân xanh. Ta
sẽ lập với ngươi một giao ước vĩnh cửu. Và ngươi sẽ ghi nhớ các đường lối của
ngươi mà cảm thấy nhục khi Ta lấy các chị các em gái ngươi mà ban cho ngươi làm
con, mặc dầu chúng không có chân trong giao ước của ngươi. Ta sẽ giữ vững giao
ước của Ta với ngươi, và ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa, và như thế, để ngươi phải
nhớ lại mà xấu hổ, và vì xấu hổ, ngươi sẽ không còn mở miệng ra nữa, khi Ta tha
thứ hết mọi việc ngươi đã làm. Chúa là Thiên Chúa phán”.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6
Ðáp: Chúa đã bỏ
cơn giận của Chúa và đã an ủi tôi (c. 1c).
Xướng: Ðây Thiên
Chúa là Ðấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì
Chúa là sức mạnh, là Ðấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi. –
Ðáp.
Xướng: Hãy ca tụng
Chúa và kêu cầu danh Người; hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa; hãy
nhớ lại danh Chúa rất cao sang. – Ðáp.
Xướng: Hãy ca tụng,
vì Người làm nên những việc kỳ diệu; hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi
người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Ðấng cao cả là Ðấng Thánh
Israel ở giữa ngươi. – Ðáp.
Alleluia: 1 Ga 2, 5
Alleluia, alleluia! – Ai giữ lời Chúa Kitô, thì quả thật,
tình yêu của Thiên Chúa đã tuyệt hảo nơi người ấy. – Alleluia.
Phúc Âm: Mt 19, 3-12
“Vì lòng chai đá của các ngươi mà Môsê đã cho phép các
ngươi rẫy vợ; nhưng từ ban đầu thì không có như vậy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, có những người biệt phái đến cùng Chúa Giêsu và hỏi
thử Người rằng: “Có được phép rẫy vợ vì bất cứ lẽ gì không?” Người đáp: “Nào
các ông đã chẳng đọc thấy rằng: Từ thuở ban đầu, Tạo Hoá đã dựng loài người có
nam có nữ, và Người đã phán: Bởi thế nên người nam sẽ bỏ cha mẹ mà kết hợp với
vợ mình, và cả hai sẽ nên một thân xác? Cho nên họ không còn là hai, nhưng là một
thân xác. Vậy điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài người không được phân
ly”. Họ hỏi lại: “Vậy tại sao Môsê đã truyền cấp tờ ly hôn mà cho rẫy vợ?” Người
đáp: “Vì lòng chai đá của các ông mà Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ; nhưng từ
ban đầu thì không có như vậy. Tôi bảo các ông rằng: Ai rẫy vợ, trừ nố gian dâm,
và đi cưới vợ khác, thì phạm tội ngoại tình. Và ai cưới người đã bị rẫy, cũng
phạm tội ngoại tình”.
Các môn đệ thưa Người rằng: “Nếu sự thể việc vợ chồng là như
thế, thì tốt hơn đừng cưới vợ”. Người đáp: “Không phải mọi người hiểu được điều
ấy, nhưng chỉ những ai được ban cho hiểu mà thôi. Vì có những hoạn nhân từ lòng
mẹ sinh ra, có những hoạn nhân do người ta làm nên, và có những người vì Nước
Trời, tự trở thành hoạn nhân. Ai có thể hiểu được thì hiểu”.
Ðó là lời Chúa.
Chú giải về Ê-dê-ki-en 16,1-15. 60. 63 hoặc Ê-dê-ki-en 16,59-63
(Lưu ý: Bài Đọc Một
hôm nay sử dụng ngôn từ khá trần trụi khi nói về việc sinh nở và nạn mãi dâm.
Dưới đây có phần suy niệm thay thế cho Bài Đọc Một, dành cho những ai cảm thấy
bài đọc dài hơn có phần gây sốc hoặc "thiếu tế nhị".)
Ê-dê-ki-en 16:1-15.
60. 63
Hôm nay, chúng ta bắt gặp một câu chuyện ngụ ngôn đầy ấn tượng
về lịch sử dân Israel. Tóm lại, Israel được ví như người bạn đời bất trung của
Đức Chúa (Yahweh), một kẻ "đi hoang" theo các thần ngoại bang. Đây là
hình ảnh quen thuộc trong các sách ngôn sứ, bắt đầu từ thời ngôn sứ Hô-sê. Ngôn
sứ Ê-dê-ki-en đã phát triển hình ảnh này thành một câu chuyện ngụ ngôn dài (được
kể lại dưới hình thức khác ở chương 23) nhằm điểm lại toàn bộ lịch sử dân
Israel. Cũng như trong sách Hô-sê, câu chuyện ngụ ngôn này kết thúc bằng sự tha
thứ nhưng không của người chồng—đấng thiết lập một giao ước mới—qua đó báo trước
cuộc hôn phối giữa Thiên Chúa và dân Người trong thời đại Đấng Mê-si-a; một chủ
đề cũng được nhắc đến trong Tân Ước.
Qua chuỗi hình ảnh đầy xúc động và diễn tiến theo thời gian,
ngôn sứ mô tả cách Thiên Chúa chọn dân Người, chăm sóc họ, ban cho họ mọi điều
cần thiết và hơn thế nữa; đồng thời cũng cho thấy cảnh họ đã vô ơn và lạm dụng
tất cả những gì mình được nhận. Dẫu vậy, Người vẫn không bỏ rơi họ.
Thiên Chúa tự ví mình là người phối ngẫu của Israel—một người
bạn đời hoàn toàn bất trung, kẻ đã "đi hoang" (thường là theo nghĩa
đen) để thờ phụng các tà thần. Mục đích của câu chuyện ngụ ngôn này là để
Ê-dê-ki-en vạch trần trước mặt Giê-ru-sa-lem những hành vi tồi tệ mà thành này
đã phạm phải.
Trước hết, thành này được nhắc nhở về nguồn gốc ngoại giáo
và việc thờ ngẫu tượng của mình:
Nguồn gốc và nơi chào
đời của ngươi là đất Ca-na-an; cha ngươi là người A-mô-ri và mẹ ngươi là người
Khết.
"Đất Ca-na-an" tương ứng với khu vực Li-băng và
Israel ngày nay. Người A-mô-ri là cư dân thuộc chủng tộc Sê-mít sống tại
Palestine trước thời Israel; người Khết là cư dân không thuộc chủng tộc Sê-mít
tại Ca-na-an, từng phát triển rực rỡ ở Tiểu Á trước năm 1000 TCN. Trong truyền
thống Kinh Thánh, người A-mô-ri và người Khết thường được dùng để chỉ chung các
dân tộc sống tại vùng đất này trước khi dân Israel xuất hiện. Họ được xem là
khác biệt với dân Israel—những người có nguồn gốc bắt đầu từ Áp-ra-ham ngược
dòng về phía Na-kho. Do đó, Jerusalem có lịch sử lâu đời từ trước thời kỳ
Israel, và thành phố này đã chống lại sự chinh phục của người Israel trong một
thời gian dài. Phải đến thời vua David, thành phố mới hoàn toàn nằm dưới quyền
cai trị của người Israel. (Có lẽ đây là điều đáng suy ngẫm về quyền lợi của cả
người Israel và người Palestine trong bối cảnh hiện nay.)
Trở lại với câu chuyện ngụ ngôn này: khi thành bang
Jerusalem phát triển, người dân dần tiếp nhận—và thường ưa chuộng—việc vay mượn
các nghi thức cũng như tập tục của các dân tộc lân cận hơn là giữ vững đức tin
Do Thái giáo vào Thiên Chúa Yahweh. Sách Ê-dê-ki-en phản ánh nhiều sự xung đột và căng thẳng. Chẳng hạn, là một
tác phẩm thánh kinh ra đời sau thời kỳ lưu đày (tức giai đoạn lịch sử Do Thái
sau khi bị Babylon bắt làm tù binh), cuốn sách làm nổi bật sự chia rẽ giữa
"dân ở lại trong nước" và "dân lưu đày trở về"—hai nhóm đối
nghịch đại diện cho những người ở lại Jerusalem và những người trở về sau nhiều
thập kỷ sống dưới ách đô hộ của ngoại bang tại Babylon.
Khác với sách của tiên tri Isaia chẳng hạn, sách của tiên
tri Ê-dê-ki-en không ngần ngại
sử dụng những ngôn từ bài xích người nước ngoài. Israel đã lầm đường lạc lối dưới
ảnh hưởng từ các tập tục tôn giáo ngoại lai của những dân tộc lân cận. Những lời
lẽ đanh thép trong chương này mang tính chất than trách, thể hiện thái độ khinh
miệt đối với các hình thức thờ phượng Chúa không đúng theo truyền thống Do
Thái.
Cần nhớ rằng Kinh Thánh luôn có sự đối thoại nội tại giữa
các phần với nhau. Nếu ngôn sứ Ê-dê-ki-en tỏ thái độ bài ngoại, thì ta có thể
tìm thấy vô số quan điểm trái ngược ở những chỗ khác trong Kinh Thánh. Chẳng hạn,
sách I-sai-a nhấn mạnh rằng "mọi dân tộc" sẽ quy tụ về núi của Đức
Chúa tại Giê-ru-sa-lem để dự một tiệc cưới linh đình:
Trên núi này, Đức Chúa
các đạo binh sẽ dọn cho muôn dân
một bữa tiệc đầy những
món ngon béo ngậy, những loại rượu vang hảo hạng,
những món ăn tủy béo
và rượu vang đã được lọc trong. (Is 25,6)
Ngoài ra còn có trường hợp của bà Ra-kháp, một kỹ nữ và là
người ngoại quốc trong sách Giô-suê. Bà được khắc họa như một nữ anh hùng của
dân Ít-ra-en và của đức tin vào Thiên Chúa duy nhất, khi bà cứu các thám báo Do
Thái khỏi tay kẻ thù (xem Gs 2,1-7).
Câu chuyện ngụ ngôn về Ê-dê-ki-en hôm nay, xét trên nhiều
phương diện, có thể áp dụng cho chính Giáo hội của chúng ta và quá trình phát
triển của Giáo hội từ những khởi đầu nơi dân ngoại và các nền văn hóa đa thần ở
khắp nơi trên thế giới. Qua nhiều thế kỷ, chúng ta cũng đã được ban tặng một
kho tàng phong phú lạ thường về đời sống tâm linh và văn hóa. Tuy nhiên, cũng
có lúc chúng ta để cho nền văn hóa thế tục thống trị "loan báo Tin Mừng"
cho mình, thay vì để Tin Mừng làm thay đổi và thách thức thế giới xung quanh.
Câu chuyện ngụ ngôn này mang lại cho chúng ta nhiều bài học
quý giá. Đừng chỉ xem đây là lời kết án thành Giê-ru-sa-lem thời chưa biết đến
độc thần giáo, mà hãy coi đó là lời nhắc nhở hữu ích về mối tương quan của
chính chúng ta với Thiên Chúa đầy yêu thương.
Ê-dê-ki-en 16,59-63
Bài Đọc Một thay thế được trích từ phần cuối của cùng một đoạn
văn trong bài đọc dài, nhưng tập trung vào phần kết luận. Vì vậy, để hiểu rõ
hơn ý nghĩa của bài này, ta nên đọc cả đoạn văn dài hơn.
Một mặt, Giê-ru-sa-lem sẽ bị đối xử xứng đáng với hành động
bội ước với Thiên Chúa. Thành sẽ bị tàn phá và dân chúng sẽ bị bắt đi lưu đày
trong cảnh đắng cay tại Ba-by-lon.
Nhưng Thiên Chúa sẽ không quên dân Người. Người sẽ nhớ lại
giao ước đã lập vào "thời ngươi còn trẻ", tức là khi giao ước mới được
thiết lập tại núi Si-nai, và giờ đây Thiên Chúa sẽ lập một giao ước tồn tại mãi
mãi.
Khi ấy, Giê-ru-sa-lem sẽ rơi vào cảnh lặng câm vì hối hận
trước sự bội tín của mình. Ngài phán:
Khi ấy, ngươi sẽ nhớ lại
đường lối mình và cảm thấy hổ thẹn khi tiếp nhận các chị em mình—những người mà
Ta sẽ ban cho ngươi làm con gái—dù việc này không nằm trong giao ước Ta đã lập
với ngươi.
“Các chị em” ở đây ám chỉ Sa-ma-ri và Sô-đôm, những nơi từng
chịu sự cai trị của Giê-ru-sa-lem.
Bất chấp mọi sự, dân của Đức Chúa sẽ được tha thứ và giao ước sẽ được tái lập. Về phần mình,
Giê-ru-sa-lem sẽ nhớ lại những việc tồi tệ mình đã làm với lòng hổ thẹn và sự
ăn năn.
Chúng ta cũng vậy, miễn là có lòng ăn năn chân thành và khao
khát được hòa giải với Chúa trong tình yêu thương, chúng ta có thể tin chắc rằng
tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời sẽ tuôn đổ trên mình.
Chú giải về Tin Mừng Mát-thêu 19,3-12
Sau bài giảng về Giáo hội, chúng ta trở lại với phần tường
thuật về sứ vụ của Chúa Giê-su tại vùng Giu-đê và Giê-ru-sa-lem. Ngài không còn
ở miền Bắc, tức vùng Ga-li-lê, mà đang ở miền Nam. Chúng ta đang bước vào phần
thứ sáu của Tin Mừng Mát-thêu; phần này sẽ kết thúc bằng các dụ ngôn về thời
cánh chung.
Đoạn Tin Mừng hôm nay mở đầu bằng cuộc tranh luận về một vấn
đề gây nhiều tranh cãi giữa Chúa Giê-su và những người Pha-ri-sêu—một vấn đề vẫn
còn gây tranh cãi cho đến tận thời đại chúng ta. Bản thân câu hỏi thì rất đơn
giản, nhưng như thường lệ, nó được đặt ra nhằm thử thách xem liệu Chúa Giê-su
có tuân giữ đúng Luật pháp hay không. Những người Pha-ri-sêu hỏi:
"Người ta có được
phép ly dị vợ mình vì bất cứ lý do gì không?"
Trong cộng đồng Do Thái giáo thời bấy giờ, có hai quan điểm
khác nhau về vấn đề ly dị. Trường phái Shammai chỉ chấp nhận lý do ngoại tình
là căn cứ hợp lệ để ly dị. Ngược lại, trường phái Hillel cho phép người chồng
ly dị vợ nếu bà làm bất cứ điều gì khiến ông không hài lòng, chẳng hạn như làm
cháy thức ăn! Chúa Giê-su rõ ràng đứng về phía quan điểm thứ nhất.
Dựa vào hai đoạn trích từ trình thuật sáng tạo trong sách
Sáng Thế, Chúa Giê-su đưa ra một câu trả lời dứt khoát, khiến các đối thủ của
Ngài khó lòng phản bác:
"Các ông không đọc
thấy rằng thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và phán
rằng: 'Vì lý do đó, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả
hai sẽ trở nên một xương một thịt' sao?"
Chúa Giê-su nói tiếp:
"Như vậy, họ
không còn là hai nữa, mà là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp,
loài người không được phân ly."
Trong một cuộc hôn nhân tốt đẹp, việc hai người trở nên
"một xương một thịt" là một thực tế sống động. Điều này trở nên đặc
biệt rõ ràng khi một trong hai người qua đời.
Do đó, hôn nhân—sự gắn kết mật thiết giữa người nam và người
nữ—là một phần trong kế hoạch của Thiên Chúa dành cho nhân loại; đó không phải
là điều con người có quyền hủy bỏ. Tuy nhiên, những người Pha-ri-sêu vẫn chưa
hài lòng với câu trả lời này. Họ tiếp tục chất vấn:
"Vậy tại sao ông
Mô-sê lại truyền dạy phải cấp giấy ly dị và cho phép rẫy vợ?"
Chúa Giê-su trả lời rằng điều đó chỉ đơn thuần là sự nhượng
bộ trước sự "khó dạy bảo" của dân chúng thời bấy giờ, chứ không phải
là tình trạng vốn có ngay từ thuở ban đầu:
Chính vì lòng các
ngươi chai đá nên Môi-se mới cho phép các ngươi ly dị vợ, nhưng thuở ban đầu
thì không như vậy.
Mục đích của tờ giấy ly hôn rõ ràng là để chính thức hóa việc
ly thân và cho phép người chồng kết hôn với người khác.
Mặt khác, ví dụ duy nhất về việc yêu cầu phải có giấy tờ đối
với người phụ nữ đã ly hôn trong Đệ
Nhị Luật (24,1-4) cho thấy văn bản này đóng vai trò bảo vệ chính người
phụ nữ trong một xã hội mà những người dễ bị tổn thương nhất bao gồm trẻ mồ
côi, người lạ (tức người nước ngoài) và góa phụ. Một người phụ nữ không có chồng
cần có vị thế trong cộng đồng và cần được bảo vệ dưới nhiều hình thức để tránh
bị chế giễu hoặc bị ruồng bỏ.
Chúa Giê-su phán:
…ai ly dị vợ mình… và
cưới người khác thì phạm tội ngoại tình…
Không hề có đề cập gì đến trường hợp người vợ chủ động ly dị;
trong một thế giới trọng nam khinh nữ và do nam giới thống trị, điều này hiếm
khi xảy ra, nếu không muốn nói là bất khả thi. Người phụ nữ hầu như không có tiếng
nói trong những vấn đề như vậy. (Tuy nhiên, trong phiên bản của Mác-cô [10,2-12] về phân đoạn này, cả
chồng và vợ đều được đề cập đến. Ông viết cho độc giả là người ngoại bang, nơi
các quy tắc có phần khác biệt.)
Tuy nhiên, có một ngoại lệ chỉ được Mát-thêu đề cập đến, đã gây ra vấn đề cho
những người giải thích bản văn Kinh thánh và các nhà thần học luân lý. Anh ta
yêu cầu Chúa Giê-su đưa ra “sự vô luân về tình dục” (trong bản dịch NRSVue của Kinh thánh) như một lý do có
thể biện minh cho việc ly hôn. Vấn đề là từ mà Mát-thêu sử dụng—porneia
(tiếng Hy Lạp)—không có ý nghĩa rõ ràng. Nó được dịch theo nhiều cách khác nhau
là ‘tà dâm’, ‘hành vi dâm ô’, ‘không trong trắng’ ‘không chung thủy’ hoặc
‘không chung thủy trong hôn nhân’—và dường như nó chỉ áp dụng cho người vợ. Bất
chấp điều đó, mặc dù có một ngoại lệ xuất hiện, nhưng nó không làm thay đổi lời
dạy về ly hôn bị cấm nói chung bởi vì các môn đệ tiếp tục tập trung vào việc
không thể kết hôn nếu không có lựa chọn thoát khỏi mối ràng buộc giao ước này.
Việc không có ‘ra’ hay lối thoát khỏi sự kết hợp giữa vợ và
chồng này là một cách hay để hiểu thông điệp thần học của đoạn văn về ly hôn
này. Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến giao ước giữa Thiên Chúa và dân Người qua
hình ảnh chàng rể và cô dâu. Với tư cách là một dân tộc, có thể có một cuộc ‘ly
hôn’ hoặc quay lưng lại với lời dạy của Thiên Chúa và đi theo Chúa Giêsu. Tuy
nhiên, rõ ràng là ‘chú rể’, tức Chúa Giêsu, sẽ không bao giờ quay lưng lại với
các môn đệ của mình.
Trong xã hội thế tục của chúng ta, sự không chung thủy cũng
như nhiều lý do nhẹ nhàng hơn được đưa ra để biện minh cho việc ly hôn hợp
pháp. Nếu hợp đồng ban đầu được biết là có hiệu lực, Giáo hội Công giáo không
công nhận bất kỳ lý do nào cho việc chấm dứt hợp đồng đó. Tuy nhiên, trong thời
đại này, việc ly hôn không phải lúc nào cũng là kết quả của quyết định của một
bên. Nó thường là kết quả của sự đổ vỡ lẫn nhau trong mối quan hệ hôn nhân, trong
đó các bên không còn có thể sống cùng nhau với tình yêu và sự tôn trọng lẫn
nhau, mà là nơi có những cảm giác thù địch và bất hạnh không thể hòa giải được.
Dù thế nào đi nữa, lập trường của Chúa Giêsu được các môn đệ
của Ngài coi là khá nghiêm khắc. Nếu mọi chuyện diễn ra như cách anh nhìn nhận
thì họ nghĩ thà không kết hôn còn hơn! Chúa Giêsu đưa ra một lời tuyên bố mà có
lẽ chúng ta nên lắng nghe cẩn thận hơn những gì chúng ta thường làm. Một mặt, Ngài đưa ra một nguyên tắc rõ ràng
nhưng cũng chỉ ra rằng không phải ai cũng có đủ sức mạnh để tuân thủ nguyên tắc
đó:
Không phải ai cũng có
thể chấp nhận lời dạy này, mà chỉ những người được ban cho nó mà thôi.
Do đó, dường như có lời kêu gọi về lòng trắc ẩn và sự linh
hoạt trong việc thực hiện.
Chúa Giêsu tiếp tục mô tả những điều đó:
…những người đã tự
mình làm hoạn quan vì Nước Trời.
Nhóm này có thể bao gồm những người, giống như Thánh Phaolô,
chọn sống cuộc sống độc thân để làm việc cho Vương quốc và phúc âm, hoặc những
người có cuộc hôn nhân tan vỡ vì lý do này hay lý do khác và chọn sống độc thân
suốt đời, cũng vì phúc âm. Điều cuối cùng này dường như không phải là một yêu cầu
phổ quát:
Hãy để bất cứ ai chấp
nhận điều này có thể.
Ở đây người ta thấy hôn nhân gắn liền rất nhiều với lời kêu
gọi làm việc cho Nước Trời. Nếu là chướng ngại thì nên tránh; nếu không thì một
người có thể và nên làm việc cho Vương quốc thông qua hôn nhân của mình. Hoặc,
theo suy nghĩ của Pauline, nếu sự kết hợp này thúc đẩy sự tận tâm của bạn trong
việc theo Chúa Kitô như một môn đệ, thì hãy kết hôn, nhưng nếu nó cản trở sự tận
tâm đó thì bạn có thể phải xem xét lại. Một lần nữa, “hãy để bất cứ ai có thể
chấp nhận điều này.”
https://livingspace.sacredspace.ie/
Suy Niệm: Vấn Ðề Ly Dị
Vào thời Chúa Giêsu, dựa trên luật Môsê được ghi lại
trong sách Tl 14, 1-4, thì mọi trường phái giải thích luật đều phải nhìn nhận
việc ly dị, nhưng có điểm khác nhau về lý do ly dị. Trường phái Hillel cho phép
ly dị vì bất cứ lý do gì, còn trường phái Shammai gắt gao hơn, chỉ cho phép ly
dị trong trường hợp ngoại tình mà thôi.
Những người Biệt phái đến chất vấn Chúa Giêsu như được ghi lại
trong Tin Mừng hôm nay, không phải về việc có được phép ly dị hay không, nhưng
về lý do của việc ly dị: họ muốn Chúa Giêsu phải chọn một trong hai lập trường:
hoặc cho phép ly dị vì bất cứ lý do gì, hoặc chỉ cho phép ly dị trong trường hợp
ngoại tình.
Trong câu trả lời, Chúa Giêsu không theo lập trường của con
người, không đứng về nhóm nào, nhưng Ngài kêu gọi trở về với chương trình
nguyên thủy của Thiên Chúa khi tạo dựng con người: "Sự gì Thiên Chúa đã phối
hợp, loài người không được phân ly". Ðời sống hôn nhân và gia đình giữa
người nam và người nữ là một định chế do chương trình của Thiên Chúa khi tạo dựng
con người, chứ không do con người thiết định. Môsê cho phép ly dị vì chiều theo
lòng dạ chai đá của dân chúng, chứ ngay từ đầu không có như vậy.
Chứng kiến cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và những người Biệt
phái, các môn đệ phản ứng: "Nếu sự thể việc vợ chồng là như thế, thì thà đừng
lấy vợ còn hơn". Trong câu trả lời, Chúa Giêsu cho các ông biết là cần phải
có ơn Chúa, con người mới có thể hiểu rõ ơn gọi cao cả của đời sống hôn nhân
cũng như của đời sống độc thân trinh khiết vì Nước Trời. Bậc sống độc thân hoặc
lập gia đình, không phải thuần túy tùy thuộc ý định con người, nhưng là một ơn
ban đến từ Thiên Chúa. Nếu không tin có Thiên Chúa và bị ảnh hưởng của tinh thần
thế tục, con người sẽ không hiểu giá trị cũng như không thể sống trọn vẹn ơn gọi
độc thân hoặc lập gia đình. "Ai có thể hiểu được thì hiểu", ơn ban của
Thiên Chúa tùy thuộc tự do của con người. Con người thời nay đã lạm dụng tự do
để quyết định những điều nghịch lại chương trình của Thiên Chúa. Con người đã
trần tục hóa cả bậc độc thân lẫn bậc hôn nhân và gia đình. Tất cả đều được
phép, kể cả việc hai người cùng phái tính được luật pháp cho phép sống với nhau
như vợ chồng, để rồi tình thương của cha mẹ đối với con cái trong trường hợp
nào cũng bị hạ thấp.
Người Kitô hữu chúng ta đừng để mình bị cám dỗ chạy theo tâm
thức trần tục. Giải pháp cho vấn đề không phải là luật lệ do con người đặt ra,
nhưng là tình thương, là trở về với Thiên Chúa và chương trình nguyên thủy của
Ngài khi tạo dựng con người. Ðiều này đòi hỏi nhiều cố gắng hy sinh, nhưng đó
là bí quyết để con người sống trọn ơn gọi của mình và đạt hạnh phúc vĩnh cửu.
Chúng ta đừng sợ cố gắng hy sinh, bởi vì Thiên Chúa sẽ trợ giúp chúng ta, nếu
chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận Ngài và để Ngài hướng dẫn cuộc đời chúng ta.
Xin Chúa canh tân tình yêu chúng ta, cho tình yêu chúng ta
hòa nhập vào tình yêu thần thiêng của Chúa, để chúng ta sống trọn vẹn ơn gọi của
chúng ta theo đúng chương trình của Chúa.
(‘Mỗi Ngày Một Tin
Vui’)
Ngày 14/8: Thánh Ma-xi-mi-li-en
Kol-be – Linh mục, Tử đạo (1894-1941)
Lễ nhớ
1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ
Lễ kỷ niệm thánh Maximilien qua đời ngày 14 tháng 8 năm 1941
tại Auschwitz, được phong thánh và công bố tử đạo năm 1982 do Đức giáo hoàng
Gioan Phaolô II, nhắc ta nhớ lại những trang hào hùng nhất trong cuộc thế giới
chiến tranh thứ hai và tính cách man rợ của những người quốc xã nơi các trại tập
trung.
Maximilien sinh ngày 7 tháng giêng năm 1894 tại
Zundska-Wola, Balan, bố mẹ đặt tên là Raymond. Năm 1907, Ngài nhập dòng Phan
sinh tu viện (Conventuel), nhận tên là tu huynh Maximilien. Ngài được gửi sang
học triết lý và thần học tại Roma và thụ phong linh mục năm 1918. Trở về Balan,
Cha Maximilien thành lập đội Đạo binh Đức Mẹ vô nhiễm. Năm 1927 Cha thành lập hội
“thành đô Đức Mẹ vô nhiễm” (Nipokalanow). Hội “Thành Đô” nhanh chóng lan rộng ở
Balan và nhiều nước khác, chỉ mười năm sau đã có tới một trăm sáu mươi hai tu sỹ
thừa sai sang Nhật, cha lập vườn Đức Mẹ vô nhiễm ở ngoại ô Nagasaki. Trở về
Balan năm 1936, cha phải chịu đựng cuộc bách hại của Gestapo (Mật thám Đức quốc
xã), họ đã biến thành đô Đức Mẹ vô nhiễm của cha thành trại tập trung. Bị bắt lần
thứ hai ngày 17 tháng 2 năm 1941, cha bị nhốt vào trại Auschwitz với số tù
16.670. Tháng 7 năm đó, sau vụ một tù nhân trốn thoát, mười người bị lên án để
đói đến chết. Cha Kolbe xung phong chết thay cho một người cha gia đình, nên bị
giam chung với những người bị kết án giam đói, trong một cái hầm boong ke. Người
ta đã kết thúc mạng sống cha bằng một mũi chích ngày 14 tháng 8 năm 1941 lúc
cha mới bốn mươi bảy tuổi. Nét mặt cha sau khi chết vẫn bình tĩnh và đẹp đẽ.
Xác cha bị thiêu cháy tại lò thiêu ngay ngày hôm sau, ngày lễ Đức Mẹ Mông Triệu.
2. Thông điệp và tính thời sự
Kinh nguyện trong thánh lễ nhấn mạnh đến những nét tiêu biểu
của cuộc đời vị thánh chết vì bác ái này.
Lời nguyện trong ngày nhắc tới việc tông đồ về lòng sùng
kính Đức Mẹ Maria nơi thánh Maximilien, đấng sáng lập các “thành đô Đức Mẹ
vô nhiễm” với mục đích “động viên mọi nỗ lực thành một phong trào bảo
vệ Đức Kitô, chinh phục các linh hồn, đặt các trạm tiền tiêu, cắm cờ của Người
trên nhà xuất bản các báo thường kỳ, định kỳ, trên các cơ sở in ấn, trên các
ăngten truyền thanh, trên các viện nghệ thuật và văn chương, các rạp hát, rạp
xi nê … tắt một lời, trên khắp địa cầu”. Trong niềm phấn khởi phấn khích vì lý
tưởng, cha toàn tâm toàn ý nhắm mục đích chinh phục cả thế giới cho Đức Kitô.
Chính trong mục đích đó, cha đã sang truyền giáo ở Nhật Bản, đã triển khai nhiều
nhà xuất bản, nhiều nhà dòng hầu trải công cuộc của mình ra khắp thế giới.
Lời nguyện trên lễ vật và lời nguyện tạ lễ nêu bật “ngọn
lửa bác ái thiêu đốt thánh Maximilien và đã thúc đẩy Ngài hiến mạng sống vì anh
em”. Các tù nhân thường gọi Ngài là “ông linh mục thân mến của
chúng tôi”. Còn Ngài thì thường nói: “Ghét ghen không phải là luật
sáng tạo, chỉ tình yêu mới sáng tạo”. Do tình bác ái thúc đẩy, cha đã không
ngần ngại yêu cầu viên chỉ huy trại: “Tôi muốn chết thế cho người này (Francois
Gajowniczed, bị chỉ định cho chết đói) vì anh ta còn có vợ con”.
Vị chứng nhân bác ái đó lúc còn ít tuổi, năm 1920, đã viết: “Tôi
phải trở nên một vị thánh, thánh lớn hết sức có thể”, đã “mang lại chiến
thắng bằng tình yêu và Đức tin trong một nơi được xây dựng để chối bỏ niềm tin
vào Thiên Chúa và con người” (Đức Gioan Phaolô II).
Enzo Lodi

.jpg)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét