28/05/2026
Thứ Năm tuần 8 thường
niên
Bài Ðọc I: (Năm
II) 1 Pr 2, 2-5. 9-12
“Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là tư tế vương giả,
là dân tộc thánh thiện để rao giảng Ðấng đã gọi anh em”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phêrô Tông đồ.
Anh em thân mến, như trẻ sơ sinh, anh em hãy thèm khát sữa
thiêng liêng trong sạch, để nhờ đó, anh em được lớn lên trong ơn cứu độ, nếu
anh em nếm biết Chúa ngọt ngào dường nào.
Anh em hãy tiến đến viên đá sống động bị người ta loại bỏ,
nhưng được Chúa tuyển chọn và tôn vinh. Anh em như những viên đá sống động, hãy
để Chúa xây dựng anh em nên toà nhà thiêng liêng, nên chức vụ linh mục thánh, để
hiến dâng những của lễ thiêng liêng xứng đáng được Thiên Chúa chấp nhận nhờ Ðức
Giêsu Kitô.
Anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả,
là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để rao giảng quyền năng của Ðấng đã
gọi anh em ra khỏi tối tăm mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người. Anh em xưa kia
không phải là dân của Thiên Chúa, nhưng nay là dân của Người; xưa kia anh em
không được xót thương, nhưng nay được thương xót.
Anh em thân mến, tôi khuyên anh em: như những ngoại kiều, và
khách trọ, hãy xa lánh những đam mê xác thịt hằng chống lại linh hồn. Anh em
hãy sống lương thiện giữa dân ngoại, để dù người ta vu khống anh em như những
người gian phi, nhưng khi thấy được việc lành của anh em, họ phải ngợi khen
Thiên Chúa trong ngày Người đến viếng thăm.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 99, 2. 3. 4. 5
Ðáp: Hãy vào trước
thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá (c. 2c).
Xướng: Toàn thể địa
cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy phụng sự Thiên Chúa với niềm vui vẻ! Hãy vào
trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá.
Xướng: Hãy biết rằng
Chúa là Thiên Chúa, chính Người đã tạo tác thân ta, và ta thuộc quyền sở hữu của
Người.
Xướng: Ta là dân
tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi, hãy vào trụ quan nhà Người với lời khen ngợi,
vào hành lang với khúc ca vui, hãy tán dương, hãy chúc tụng danh Người.
Xướng: Vì
Thiên Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung
tín Người còn tới muôn muôn thế hệ.
Alleluia: Tv 144, 13cd
Alleluia, alleluia! – Chúa trung thành trong mọi lời Chúa
phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. – Alleluia.
Phúc Âm: Mc 10, 46-52
“Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô cùng với các môn đệ,
và một đám đông, thì có con ông Timê tên là Bartimê, một người mù ăn xin đang
ngồi ở vệ đường. Khi anh ta nghe biết đó là Chúa Giêsu Nagiarét, liền kêu lên rằng:
“Hỡi ông Giêsu con vua Ðavít, xin thương xót tôi”. Và nhiều người mắng anh bảo
im đi, nhưng anh càng kêu to hơn: “Hỡi con vua Ðavít , xin thương xót tôi”.
Chúa Giêsu dừng lại và truyền gọi anh đến. Người ta gọi người
mù và bảo anh: “Hãy vững tâm đứng dậy, Người gọi anh”. Anh ta liệng áo choàng,
đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo rằng: “Anh muốn Ta làm gì
cho anh”? Người mù thưa: “Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy”. Chúa Giêsu đáp: “Ðược,
đức tin của anh đã chữa anh”. Tức thì anh ta thấy được và đi theo Người.
Ðó là lời Chúa.
Chú giải về 1 Phê-rô 2,2-5. 9-12
Hôm qua Phê-rô
đã nói về món quà là lời Chúa ban cho chúng ta. Hôm nay, ông xem lời Chúa như một
hình thức nuôi dưỡng—“sữa thiêng liêng”. Chúng ta nên háo hức như trẻ sơ sinh đối
với “sữa” ấy. Tác giả đang nói theo nghĩa bóng. Sữa ở đây không được hiểu là thức
ăn cho người chưa trưởng thành, trái ngược hoàn toàn với thức ăn đặc (so sánh với
1 Cô-rin-tô 3,2 hoặc Híp-ri
5,12-14). Với “sữa” nuôi dưỡng trọn vẹn là lời Chúa, chúng ta “lớn lên trong sự
cứu rỗi”.
Đối với những người đã nếm trải một phần nhỏ những gì Chúa
ban cho chúng ta trong Đấng Ki-tô
(“Hãy nếm thử và xem Chúa tốt lành biết bao; phước cho những ai nương náu nơi
Ngài.”—Thánh Vịnh 34,8), họ
khao khát sự nuôi dưỡng đó, điều sẽ dẫn đến sự tăng trưởng và trưởng thành
trong Thánh Linh. Vì sự nếm trải này đã được chứng tỏ là thỏa mãn, các tín hữu
được khuyến khích khao khát thêm thức ăn thiêng liêng. Phê-rô chuyển sang một
hình ảnh khác khi nói về Chúa Kitô như một “hòn đá sống”, bị nhiều người chối bỏ,
nhưng quý giá trong mắt Thiên Chúa. “Hòn đá” này chính là nền tảng của Giáo Hội.
Đó là “hòn đá sống” cả theo nghĩa chỉ chính con người thật của Chúa Kitô và như
một nguồn sống cho người khác. Chúa Kitô, với tư cách là Con Thiên Chúa, có sự
sống trong chính Ngài. Ngài cũng là “nước hằng sống” (Ga 4,10-14; 7,38), “bánh
hằng sống” (Ga 6,51) và “đường hằng sống” (Híp-ri 10,20).
Đó là một hòn đá được Thiên Chúa chọn, nhưng lại thường
xuyên bị con người chối bỏ. Trong các bài diễn thuyết cho dân chúng trong sách
Công Vụ Tông Đồ, Phê-rô nhiều lần đối lập giữa sự thù địch của những người
không tin đối với Chúa Giêsu và sự tôn vinh Ngài của Thiên Chúa.
Nhưng không chỉ vậy, các Kitô hữu cũng là những hòn đá sống:
…được xây dựng thành một
ngôi nhà thiêng liêng, để trở thành một chức tư tế thánh…
Họ nhận được sự sống từ Chúa Kitô, là Hòn Đá sống nguyên thủy
mà họ đã đến, là Thần Khí ban sự sống. Những sự liên hệ đến đá này rất có thể
phản ánh lời Chúa Giê-su nói với Phê-rô
trong Phúc Âm Mát-thêu (16,18),
nơi Ngài nói với ông rằng ông là Đá tảng mà trên đó toàn bộ cấu trúc của cộng đồng
tương lai sẽ được xây dựng, được gọi ở đây trong bài đọc hôm nay là “ngôi nhà
thiêng liêng”.
Ngôi nhà mang tính thiêng liêng theo nghĩa bóng, nhưng cũng ở
chỗ nó được hình thành và được Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trị. Mỗi viên
đá trong ngôi nhà đều được Thánh Linh làm cho sống động, được sai đến bởi Viên
Đá sống động được tôn cao, Chúa Giê-su Ki-tô. Đền thờ Cựu Ước cung cấp bối cảnh
cho đoạn Kinh Thánh này. Nó nhắc nhở chúng ta về việc Phao-lô nói với các tín hữu
rằng họ là đền thờ của Thánh Linh, và nơi thư gửi tín hữu Ê-phê-sô nói về mỗi
tín hữu như một viên đá góp phần xây dựng toàn bộ công trình của Giáo Hội. Bởi
vì bây giờ chính con người chứ không phải một tòa nhà mới là Đền thờ chứa đựng
sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong thế gian. Phao-lô sẽ nói với người Cô-rin-tô:
Anh em há chẳng biết rằng
mình là đền thờ của Đức Chúa Trời và Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trong anh
em sao? (1 Cô-rin-tô 3,16 và Ê-phê-sô 2,19-22)
Mục đích của tòa nhà thánh đó là để trở thành “chức tư tế
thánh”. Đây là chức tư tế của toàn thể thân thể các tín hữu. Là những người làm
chức tư tế, các tín hữu phải:
• phản ánh sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và của vị thầy tế
lễ thượng phẩm của họ,
• dâng những của lễ thuộc linh,
• cầu thay cho người khác trước mặt Đức Chúa Trời,
• đại diện cho Đức Chúa Trời trước mặt mọi người.
Qua chức tư tế của mình, chúng ta dâng “những của lễ thuộc
linh”, trái ngược với những của lễ bằng động vật và hoa quả. Những của lễ này
có thể bao gồm: thân thể được dâng cho Đức Chúa Trời (Rô-ma 12,1), của lễ bằng
tiền bạc hoặc của cải vật chất (Phi-líp-phê 4,18; Híp-ri 13,16), của lễ ngợi khen Đức Chúa Trời (Híp-ri 13,15) và của lễ làm điều thiện (Híp-ri 13,16). Những của lễ này “được
Đức Chúa Trời chấp nhận” nhờ công việc của Đấng Trung Bảo của chúng ta, Chúa
Giê-su Ki-tô. Nói tóm lại, những
người có đức tin là những viên đá sống tạo nên một ngôi đền tâm linh, nơi họ, với
tư cách là một chức tư tế thánh, dâng lên những lễ vật thiêng liêng.
Trích dẫn sách Xuất Hành (19,5-6), Phê-rô,
trong một cụm từ thường được sử dụng trong phụng vụ của chúng ta, gọi các tín hữu
Ki-tô là “dòng dõi được chọn”
(I-sai-a 43,20-21), “chức tư
tế hoàng gia” (I-sai-a 61,6),
“dân tộc thánh” (Đệ Nhị Luật
28,9), “dân riêng của Đức Chúa Trời” (Đệ Nhị Luật 4,2; 7,6; 14,2; I-sai-a 43,21; Ma-la-khi 3,17). Đây là cụm từ ban đầu hướng đến dân Ít-ra-en, nhưng nay được mở rộng
cho dân của Đức Chúa Trời thuộc mọi chủng tộc, cả người Do Thái và người ngoại,
những người đã chọn Chúa Giê-su làm Chúa của họ.
Và bằng những lời gợi nhớ đến một đoạn trong sách tiên tri
Hô-sê (2,23), chúng ta, những người từng được gọi là “không có dân”, nay đã trở
thành “dân riêng của Đức Chúa Trời”. Trước kia chúng ta ở ngoài lòng thương xót
của Đức Chúa Trời, và nay chúng ta đã tìm thấy lòng thương xót. Trong sách Hô-sê,
chính Ít-ra-en là dân của Đức
Chúa Trời; trong sách Rô-ma, Phao-lô áp dụng lời của Hô-sê cho người ngoại; và
trong 1 Phê-rô, những lời này
được áp dụng cho cả hai.
Hai câu cuối (11-12) thuộc phần thứ ba của bức thư này, nơi
thảo luận về vị trí của người Ki tô
hữu trong một thế giới thù địch. Chúng ta được nhắc nhở rằng đặc ân và sự
lựa chọn cũng mang lại trách nhiệm. Không có chỗ cho sự tự mãn. Chúng ta phải
nhận ra rằng trong thế giới này, chúng ta là những người xa lạ và lưu lạc. Từ
“thế giới” có thể được hiểu theo cả hai nghĩa trong Kinh Thánh. Chúng ta không
thuộc về thế giới chống lại tất cả những gì mà Đức Chúa Trời, Chúa Giê-su và
Tin Mừng đại diện. Nhưng ngay cả theo nghĩa của môi trường vật chất mà chúng ta
đang sống, chúng ta cũng không được định sẵn để ở đây mãi mãi. Đó không phải là
nhà vĩnh viễn của chúng ta. Đó là một nơi chúng ta đi qua để đến một đích đến
vĩ đại hơn nhiều.
Vì vậy, chúng ta không nên chiều theo những bản năng thấp
hèn có thể làm suy yếu vận mệnh tâm linh của chúng ta. Chúng ta không nên bị
làm phiền bởi những lời công kích từ bên ngoài, những người có thể gọi chúng ta
là “kẻ gây rối”. Với tầm nhìn cuộc sống khác biệt của người ki tô hữu, điều này là điều dễ hiểu. Con đường
của chúng ta là “dấu hiệu của sự mâu thuẫn” đối với nhiều người.
Chúng ta phải kiên trì theo đuổi phúc âm vì nhiều người
không tin, khi thấy cách chúng ta cư xử, thấy sự chính trực, tình yêu thương,
lòng trắc ẩn và ý thức về công lý và hòa bình của chúng ta, cuối cùng sẽ đến để
ca ngợi không phải chúng ta, mà là Đức Chúa Trời, Đấng cho phép chúng ta sống
theo cách này. Chúa Giê-su cũng đã nói điều tương tự trong Bài Giảng Trên Núi:
Cũng vậy, hãy để ánh
sáng của các con chiếu sáng trước mặt người khác, để họ thấy những việc lành của
các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời. (Mát-thêu 5,16)
Mong rằng họ sẽ quan sát những việc tốt mà chúng ta làm, để
rồi đến lúc họ được dẫn dắt để thay đổi lối sống của mình và tôn vinh Đức Chúa
Trời “trong ngày thăm viếng”. Từ Hy Lạp được dịch là “quan sát” ở đây có nghĩa
là theo dõi cẩn thận trong một khoảng thời gian. Sự đánh giá cuối cùng của người
ngoại đạo không phải là một “phán xét vội vàng”. “Ngày thăm viếng” có lẽ là
ngày phán xét và hình phạt tiếp theo, hoặc có thể là ngày Đức Chúa Trời thăm viếng
một người với sự cứu rỗi. Cuộc sống tốt đẹp của người tin có thể ảnh hưởng đến
người không tin để họ ăn năn và tin.
Đây là một bài đọc rất ý nghĩa. Cuốn sách chứa đầy những
hình ảnh tuyệt đẹp về Chúa Kitô và mối quan hệ của chúng ta với Ngài, và kết
thúc bằng lời nhắc nhở chúng ta phải thể hiện sự hiện diện của Thánh Linh Chúa
Kitô trong chúng ta như thế nào qua cách chúng ta đối xử với mọi người xung
quanh.
Chú giải về Mác-cô 10,46-52
Nếu đọc lướt qua, đây chỉ đơn giản là một câu chuyện hay
khác về việc Chúa Giê-su chữa lành người mù. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy,
có nhiều điều sâu xa hơn thế, và có rất nhiều điều để bàn luận. Mặc dù Phúc Âm
Mác-cô là cuốn sách cung cấp
nhiều chi tiết nhất khi kể một câu chuyện—khiến mọi người nói về Ngài bằng cách
sử dụng ký ức của một nhân chứng (có lẽ là Phê-rô)—nhưng trong những câu chuyện của ông lại có nhiều biểu tượng
hơn vẻ bề ngoài ban đầu.
Trước hết, câu chuyện này được đặt ở vị trí chiến lược. Nó nằm
ở cuối một phần dài của Phúc Âm bắt đầu bằng việc chữa lành người điếc (Mác-cô 7,31-37). Phần này bao gồm điểm
cao trào ở giữa Phúc Âm, nơi các môn đệ nhận ra Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a và Chúa, cũng như ba lời tiên
tri về sự khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Ngài cùng những lời dạy kèm
theo. Ở giữa là một số tình tiết và lời dạy khác. Xuyên suốt câu chuyện, chúng
ta thấy các môn đệ vấp ngã ở nhiều mức độ hiểu lầm khác nhau khi họ đồng hành
cùng Thầy mình. Câu chuyện hôm nay khép lại tất cả những điều này, và theo một
cách nào đó, có thể được xem như là sự tổng kết tất cả những gì đã diễn ra trước
đó. Ngay sau đó, giai đoạn cuối cùng của Phúc Âm bắt đầu với việc Chúa Giê-su ở
Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng.
Chúng ta thấy Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài ở
Giê-ri-cô, nằm ngay phía bắc Giê-ru-sa-lem. Họ đang đi về phía nam trên đường từ
Ga-li-lê. Hôm qua chúng ta đã thấy họ lo lắng như thế nào về quyết tâm của Chúa
Giê-su khi hướng đến một nơi đầy nguy hiểm như vậy đối với Ngài (và cả họ). Khi
Chúa Giê-su rời khỏi thành, cùng với các môn đệ và một đám đông lớn, có một
“người ăn xin mù” tên là Ba-ti-mê
(nghĩa là ‘con trai của Ti-mê)
đang ngồi bên đường. Ngay từ đây, chúng ta đã thấy một câu đầy tính biểu tượng,
một số trong đó chúng ta sẽ thảo luận thêm ở phần sau.
Chúa Giê-su không chỉ rời khỏi thành*, Ngài đang ở giai đoạn
đầu tiên của thời kỳ cuối cùng và cao trào trong sứ mệnh của Ngài trên trái đất.
Ngài đang hướng về Giê-ru-sa-lem. Mặc dù ông ta được bao quanh bởi rất nhiều
người, nhưng hầu hết họ chỉ ở bên ông ta về mặt thể xác, chứ không phải về mặt
tinh thần, như chúng ta sẽ sớm thấy.
Khi người mù nghe thấy tất cả sự ồn ào, ông ta tự nhiên muốn
biết chuyện gì đang xảy ra và được cho biết rằng Chúa Giê-su thành Na-da-rét
đang đi ngang qua. Ngay khi nghe điều này, ông ta kêu lên:
Lạy Chúa Giê-su, Con
vua Đa-vít, xin thương xót con!
Đó là một hình thức của điều mà ngày nay chúng ta gọi là “Lời
cầu nguyện với Chúa Giê-su”. Đây là một lời cầu nguyện mà chúng ta cần thực hiện
liên tục—một lời cầu nguyện mà chúng ta chỉ có thể thực hiện một cách chân
thành khi chúng ta thực sự nhận thức và chấp nhận sự phụ thuộc của mình vào sự
giúp đỡ và hướng dẫn của Chúa Giê-su, và khi chúng ta hoàn toàn thừa nhận khoảng
cách tồn tại giữa con người chúng ta và điều mà Chúa Giê-su đang kêu gọi chúng
ta trở thành.
Khi thực hiện lời cầu nguyện như vậy, người mù đang mở lòng
mình ra đón nhận tất cả những gì Chúa Giê-su có thể và muốn ban cho ông ta. Tuy
nhiên, đám đông xung quanh, tự mãn với sự gần gũi (về thể xác) của họ với Chúa
Giê-su và khinh thường một người ăn xin phiền phức, cố gắng làm cho ông ta im lặng.
Biết bao lần người ta đã từ bỏ việc đến gần Chúa Giê-su vì những trở ngại mà họ
gặp phải! Có lẽ chúng ta đã bao nhiêu lần trở thành nguồn gây nản lòng hoặc tai
tiếng cho những người đang ngần ngại tìm kiếm Chúa Giê-su và cuộc sống ý nghĩa
mà Ngài có thể mở ra cho chúng ta?
Tuy nhiên, người đàn ông này không nản lòng. Càng bị đám
đông quở trách, ông càng la hét lớn hơn. Chúa Giê-su đã dạy chúng ta hãy cầu
xin, không chỉ một lần, mà nhiều lần. Người đàn ông đã làm như vậy. Rồi Chúa
Giê-su dừng lại… nếu người đàn ông không gọi, Chúa Giê-su có thể đã không dừng
lại. Ngài chỉ đơn giản là tiếp tục cuộc hành trình của mình. Chúa Giê-su liên tục
hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Mỗi ngày. Chúng ta đã bao nhiêu lần
không nhận ra sự hiện diện của Ngài? Chúng ta đã bao nhiêu lần không gọi Ngài?
Và có lẽ Ngài đã đi qua và rời khỏi cuộc sống của chúng ta.
Chúa Giê-su nói với những người xung quanh:
Hãy gọi người này đến
đây.
Hãy lưu ý rằng Chúa Giê-su không tự mình gọi người đàn ông.
Ngài bảo người khác gọi ông. Một lần nữa, đó là điều bình thường trong cuộc sống
của chúng ta.
Nếu chúng ta tin rằng Chúa Giê-su đã hiện ra với chúng ta
trong một khải tượng và trực tiếp gọi chúng ta, thì hoặc chúng ta đã sẵn sàng
được phong thánh, hoặc, nhiều khả năng hơn, được đưa vào viện dưỡng lão! Không,
chính thông qua người khác mà chúng ta liên tục được gọi. Thực tế, hôm nay
chúng ta có thể suy ngẫm về vô số người đã trực tiếp hoặc gián tiếp mang Chúa
Kitô đến với cuộc đời chúng ta. Chính nhờ họ mà chúng ta mới có được ngày hôm
nay. Nếu không có họ, chúng ta sẽ không biết đến Chúa Giêsu, Tin Mừng hay Giáo
Hội.
Hãy chú ý đến sự thay đổi thất thường của đám đông. Những
người vừa mới quở trách người đàn ông kia giờ lại đang giục ông ta đến gần Chúa
Giêsu.
Hãy vững lòng; hãy đứng
dậy, Ngài đang gọi bạn.
Có bao nhiêu người cần nghe những lời đó! Và họ thường chẳng
bao giờ nghe thấy! Đúng vậy, không cần phải sợ hãi Chúa Giê-su, Người Chăn
Chiên Nhân Lành của chúng ta. Và Ngài đang kêu gọi mỗi người chúng ta, bằng
cách này hay cách khác. Nhưng có lẽ nhiều người chưa bao giờ nghe thấy tiếng gọi
đó, bởi vì Chúa Giê-su mong đợi tôi sẽ là người kêu gọi. Nhưng tôi lại quá mải
mê với bản thân mình nên không làm được.
“Hãy đứng dậy!” họ bảo người đàn ông. Đúng vậy, ông ta được
bảo phải đứng dậy, và đó là cùng một động từ mô tả sự sống lại của Chúa Giê-su
từ cõi chết. Ông ta không chỉ được bảo phải đứng lên, mà còn phải bước vào một
lối sống hoàn toàn mới. Ông ta cởi bỏ áo choàng, thứ mà có lẽ là tất cả những
gì ông ta đang mặc, và đến với Chúa Giê-su. Ông ta đến với Chúa Giê-su mà không
mang theo bất cứ thứ gì. Điều này cũng gợi nhớ đến việc các môn đệ bỏ lại thuyền,
lưới và gia đình của họ để theo Chúa Giê-su. Điều này gợi nhớ đến việc các tín
đồ Ki tô đầu tiên cởi bỏ tất
cả quần áo của mình, tượng trưng cho quá khứ tội lỗi của họ, khi họ xuống bể rửa
tội. Khi đến gần Chúa Giê-su, chúng ta cần từ bỏ mọi thứ, rũ bỏ mọi thứ mà
chúng ta thường bám víu (xem câu chuyện về người giàu trong Mác-cô 10,17-31).
Chúa Giê-su hỏi ông ta:
Ngươi muốn ta làm gì
cho ngươi?
Thật là điều tuyệt vời khi được nghe từ Chúa Giê-su phải
không? Nhưng Ngài cũng hỏi chúng ta câu hỏi tương tự mỗi ngày. Chúng ta thường
hỏi Chúa Giê-su muốn chúng ta làm gì cho Ngài, nhưng Ngài cũng hỏi chúng ta
Ngài có thể làm gì cho chúng ta. Và khi Ngài hỏi bạn câu hỏi đó hôm nay—và Ngài
sẽ hỏi hôm nay—bạn sẽ trả lời Ngài như thế nào? Câu trả lời của bạn sẽ tiết lộ
rất nhiều về bạn và những ưu tiên trong cuộc sống của bạn.
Tất nhiên, theo một nghĩa nào đó, Chúa Giê-su không cần biết
câu trả lời cho câu hỏi của bạn, nhưng bạn thì cần. Và câu trả lời đến từ chính
việc hỏi. Và bạn có nhận thấy bất kỳ sự thay đổi nào trong cách bạn trả lời câu
hỏi đó qua nhiều năm không? Và câu trả lời của ngày hôm nay sẽ là gì? Nhân tiện,
chẳng phải chúng ta đã từng nghe Chúa Giê-su hỏi câu hỏi tương tự trước đây
sao? Đúng vậy. Trong bài Phúc Âm hôm qua, khi Gia-cô-bê và Gio-an đến xin một
ân huệ, Chúa Giê-su hỏi họ:
Các con muốn Ta làm gì
cho các con?
Bây giờ hãy so sánh hai câu trả lời. Các môn đệ xin một đặc
ân, xin địa vị, quyền lực và uy thế, xin được hơn người khác. Còn người mù thì
xin gì?
Thưa Thầy, xin cho con
được thấy lại.
Dĩ nhiên, trong bối cảnh hiện tại, ông ấy không chỉ xin được
nhìn thấy bằng mắt thường. Ông ấy đang tìm kiếm điều quan trọng hơn nhiều; ông ấy
đang tìm kiếm sự thấu hiểu, khả năng nhìn thấy ý nghĩa của cuộc sống, hướng đi
và những giá trị tối thượng của nó.
Để trả lời câu hỏi mà Chúa Giê-su đang hỏi chúng ta, chúng
ta khó có thể đưa ra một câu trả lời tốt hơn:
…xin cho con được thấy
lại.
Khi chúng ta thực sự nhìn thấy bằng con mắt nội tâm, nó sẽ
thay đổi toàn bộ cách nhìn của chúng ta về thế giới, và hành vi của chúng ta
cũng thay đổi theo đó. Chúng ta không thể cầu xin điều gì quan trọng hơn trong
cuộc sống. Có lẽ từ trước đến nay chúng ta cảm thấy mình đã có thể nhìn thấy cả
theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Nhưng hôm nay chúng ta đang cầu xin được nhìn thấy
lại, được có một tầm nhìn sâu sắc hơn, đi xa hơn vào ý nghĩa tối thượng của cuộc
sống chúng ta.
Cha Anthony de Mello, một linh mục dòng Tên, đã nói về điều
này trong cuốn sách Nhận thức của ông. Ông định nghĩa “nhận thức” là “tỉnh táo
và sống với đôi mắt mở”. Không có gì ngạc nhiên khi Chúa Giê-su đáp lại lời thỉnh
cầu của người đàn ông một cách quảng đại:
Hãy đi, đức tin của
con đã chữa lành con.
“Chữa lành”, nghĩa là, ông được phục hồi hoàn toàn sự trọn vẹn.
Chỉ một người có cái nhìn (sáng suốt) hoàn hảo (theo nghĩa chúng ta đã thảo luận)
mới thực sự trọn vẹn. Chỉ người như vậy mới biết phải đi đâu và làm thế nào để
đến đó.
Và điều gì xảy ra sau đó? Người ăn xin nhận được thị lực mà
ông đã cầu xin (“Hãy xin, và các ngươi sẽ được”) và ông làm gì? Ông làm điều
duy nhất mà một người có tầm nhìn thực sự có thể làm—ông đi theo Chúa Giê-su
trên con đường đó, Con đường đó, Lối đi đến Giê-ru-sa-lem và tất cả những gì nó
mang ý nghĩa. Ông trở thành một môn đệ vô điều kiện.
Quay trở lại phần đầu câu chuyện, chúng ta được kể rằng Bar
Timaeus, “một người ăn xin mù” đang ngồi bên đường. Mô tả này phù hợp với mọi
người khám phá ra Chúa Giê-su. Chúng ta, nếu không có Chúa Giê-su, đều mù
quáng; Dù rất thông minh và có học thức cao, chúng ta vẫn không thể nhìn rõ.
Nhưng nếu không thể thấy những gì Chúa Giê-su thấy, thì chúng ta mù lòa; chúng
ta vô tri vô giác.
Và chúng ta là những kẻ ăn xin. Chúng ta chỉ có thể thực sự
đến với Chúa Kitô khi nhận ra rằng, dù chúng ta có những tài năng trí tuệ, địa
vị xã hội hay vật chất nào đi chăng nữa, về cơ bản chúng ta vẫn nghèo khó. Đó
là vấn đề của người giàu có đến với Chúa Giê-su. Trong sự giàu có về tiền bạc,
ông ta không nhận thức được sự nghèo khó cùng cực của mình. Trong cuộc sống hiện
tại, chúng ta không có gì thực sự thuộc về mình.
Thứ ba, người đàn ông ngồi bên vệ đường, chứ không phải trên
đường. Và quả thật, đó là số phận của tất cả những người ngồi bên vệ đường, mù
lòa và là kẻ ăn xin cần giúp đỡ. Con đường, như chúng ta đã nói, trong câu chuyện
Phúc Âm là biểu tượng của Con Đường là Chúa Kitô. Đó là nơi có Chân Lý và Sự Sống.
Và vì vậy, ở cuối câu chuyện, người đàn ông, sau khi đã lập giao ước với Chúa
Giê-su, giờ đây đã có thể nhìn thấy, không còn là kẻ ăn xin nữa, và đang đồng
hành cùng Chúa Giê-su trên con đường là Con Đường của Ngài.
Câu chuyện này có ý nghĩa vượt xa một câu chuyện phép lạ đơn
thuần. Đó là một bản tóm tắt tuyệt vời về cách các môn đệ của Chúa Giê-su học
cách nhìn thấy và bước đi cùng Ngài trên Con Đường. Đây là một Phúc Âm thu nhỏ,
một bức tranh ngắn về người thiếu thốn về mặt tâm linh tìm thấy Chân lý và Sự sống
ở đâu và hoàn toàn dâng hiến bản thân cho điều đó.
______________________________
*Lu-ca cũng đề cập đến chuyến viếng thăm tương tự nhưng mô tả
Chúa Giê-su vào Giê-ri-cô. Tại đây, Ngài gặp Gia-kêu, người thu thuế trưởng (xem các câu bắt đầu từ Lu-ca 19,1).
https://livingspace.sacredspace.ie/o2085g/
Suy Niệm: Ðến với Chúa
Trước cửa Thiên Ðàng, một tu sĩ gõ cửa và cầu khẩn:
"Lạy Chúa, xin cho con được vào". Cánh cửa vẫn đóng kín, nhưng có tiếng
hỏi: "Con có mang theo điều gì không?". Vị tu sĩ đáp: "Con mang
theo một bị chứa đầy những nhân đức của con". Có tiếng vọng lại: "Ðiều
ấy tốt, nhưng Ta không thể mở cửa cho con vào".
Vị tu sĩ ra đi, nhưng buổi chiều ông lại đến gõ cửa để
xin được vào. Lần này, khi được hỏi có đem theo điều gì không?, ông cho biết có
đem theo công nghiệp của việc Suy Niệm và cầu nguyện lâu giờ. Tuy nhiên, ông vẫn
chỉ nhận được lời này: "Thật là tốt, nhưng Ta vẫn không thể mở cửa cho con
vào".
Vị tu sĩ lại ra đi, đến tối, ông trở lại. Lần này, ông chỉ
đến với con người của ông mà thôi. Nhưng tức khắc cánh cửa mở rộng để cho ông
bước vào.
Câu chuyện trên đây nhắc chúng ta về thái độ tinh thần cần
phải có để đến với Chúa, đó là đến với Chúa bằng chính thực tế con người mình;
bằng tâm tình tin tưởng và cậy trông vào lòng nhân từ của Chúa, hơn là dựa vào
sức riêng của mình. Ðó cũng là thái độ chúng ta có thể thấy được nơi anh mù gần
thành Yêricô mà Tin Mừng hôm nay ghi lại.
Anh mù đến với Chúa bằng chính thực tại đau thương của mình
và trông cậy vào tình thương của Chúa: "Lạy con vua Ðavít, xin dủ lòng
thương tôi". Ðây là lời cầu xin của một tâm hồn khiêm tốn và tin tưởng,
như Chúa Giêsu đã ghi nhận sau khi chữa lành anh: "Lòng tin của anh đã cứu
chữa anh". Ðức tin nơi anh mù đã giúp anh vượt qua thử thách, người ta
càng ngăn cản anh, anh càng kêu to hơn cho đến khi được Chúa nghe thấy và cho gọi
anh lại.
Liệu chúng ta có đủ khiêm tốn, kiên trì chờ đợi gặp Chúa
không? Chúng ta có ý thức mình cần đến ơn Chúa, cần đến tình yêu và sự tha thứ
của Chúa không? Như anh mù, chúng ta hãy thưa: "Lạy Chúa, xin thương xót
con". Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta nhìn thấy những kỳ công Chúa đã
và đang thực hiện trong lịch sử nhân loại và trong chính đời sống chúng ta, để
chúng ta trở thành bài ca tôn vinh Chúa luôn mãi.
(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét