Trang

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

Thông Điệp Ánh Sáng Đức Tin của Đức Thánh Cha Phanxicô

Thông Điệp Ánh Sáng Đức Tin của Đức Thánh Cha Phanxicô
2013-07-31 Vatican Radio

(Vatican Radio) Thông Điệp đầu tiên “Ánh Sáng Đức Tin” Lumen Fidei của Đức Thánh Cha Phanxicô được xuất bản vào tháng 7, là một tài liệu cần thiết nên đọc trong mùa hè. Được Đức Thánh Cha Biển Đức XVI khởi sự và Đức Thánh Cha Phanxicô hoàn tất, Lumen Fidei là một chìa khóa thiết yếu cho việc tìm hiểu đức tin của chúng ta, tìm hiểu chính chúng ta và hai vị giáo hoàng của thiên kỷ thứ hai.

Với các khách hành hương tại Rôma vài ngày sau khi thông điệp được phát hành, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khởi đầu thông điệp này là thông điệp tiếp nối sau thông điệp về Bác Ái và Hy Vọng. Tôi tiếp nối dự án này và đã hoàn tất. Tôi hân hoan gửi đến toàn Dân Chúa; thực vậy, nhất là ngày hôm nay, chúng ta cần đi vào những gì thiết yếu của đức tin Kitô giáo, để đào sâu, và dùng đức tin để đo lường các vấn nạn hiện nay. Nhưng tôi cho rằng thông điệp này, ít ra một vài phần cũng có thể ích lợi cho những ai đang tìm kiếm Thiên Chúa và ý nghĩa của cuộc đời. Tôi dâng thông điệp này cho Đức Trinh Nữ Maria, xin cho được mang hoa trái như Chúa Kitô mong muốn.”

Trong phần đầu của một loạt năm bài, Đức Ông John Kennedy, một giới chức tại Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đã giúp chúng ta bằng cách phân tách và tóm lược từng phần cho chúng ta dễ hiểu. Sau đây là cuộc phỏng vấn Đức Ông của bà Tracey McClure trên Radio Vatican:

Đức Ông Kennedy: Như tất cả chúng ta đã nghe các bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong các tuần lễ và tháng qua trong các buổi triều kiến hàng tuần và kinh Truyền Tin tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Các thế hệ trẻ đang theo dõi ngài trên Facebook và Twitter, và các phương tiện truyền thông nói chung, đặc biệt là mạng lưới của Radio Vatican đã thông tin về các chuyến viếng thăm của ngài và các lời bình luận của ngài về các biến cố trên thế giới.

Danh từ thông điệp chúng ta có thể không quen thuộc lắm. Thật vậy chính tôi chỉ được nghe lần đầu khi còn ở chủng viện.

Danh từ thông điệp xuất xứ từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là một vòng tròn, do đó có thể được giải thích như là một lá thư luân lưu.

Trong quá khứ, đa số mọi người không biết rằng một giáo hoàng đã viết một thông điệp, vì không dễ dàng xuất hiện trên diễn đàn công cộng. Thông diệp không được bán trong các tiệm sách báo, nếu có thì chỉ trong các tiệm sách tôn giáo, và không có ấn bản trên mạng lưới toàn cầu.

Với các phương tiện truyền thông tối tân, ngày nay rất dễ dàng hiểu biết về những gì một Giáo Hoàng viết vì tất cả những gì ngài nói hay viết được đăng tải ngay trên mạng với rất nhiều sinh ngữ khác nhau. Nếu bạn vào mạng lưới Vatican, www.vatican.va bạn sẽ thấy có một móc nối với thông điệp mới, khi bấm vào hình Đức Thánh Cha Phanxicô hay là đánh máy các chữ Thông Điệp Ánh Sáng Đức Tin (Light of Faith) vào khuôn tìm kiếm ở góc trên bên phải của trang đầu. Bạn sẽ thấy ngay bản văn.

Ngoài ra đối với những ai thích nghe, tôi nghĩ cần có một cuốn sách ghi âm trên mạng (audio book) của thông điệp, và tôi đã may mắn tìm thấy khi viết chữ lumen fidei audio vào một máy tìm kiếm (search engine). Bằng cách này những ai bận rộn có thể nghe thông điệp trong khi chạy tới chạy lui.

Câu hỏi: Thông thường Đức Thánh Cha nghĩ đến những ai khi ngài viết một thông điệp?

Một thông điệp có rất nhiều loại độc giả. Thông thường khi một giáo hoàng viết thông điệp, ngài muốn nói rằng ngài ưu tư về các vấn đề có ảnh hưởng đến sự an vui của Giáo Hội toàn cầu. Việc lựa chọn ngày ấn hành đôi khi trùng hợp với một biến cố lớn trên thế giới hay đánh dấu dịp kỷ niệm của một biến cố quan trọng nào đó.

Nếu bạn nhìn thẳng vào tiêu đề của thông điệp này hay bất cứ thông điệp nào khác, bạn sẽ thấy là được viết cho những ai. Thông thường thì cho các Thượng Phụ, Tổng Giám Mục, và Giám Mục. Nhưng cũng có thể viết cho các linh mục và giáo dân. Tuy nhiên, cần nói rằng bất cứ một ai, ngay cả những người chưa rửa tội và không phải là người Công Giáo cũng có thể đọc.

Thông điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành ngày 29 tháng 6, là ngày lễ Thánh Phêrô và Phaolô, theo truyền thống, được gửi cho các giám mục, linh mục, thầy phó tế, các tu sĩ và giáo dân.

Tiêu đề của thông điệp rất ngắn gọn: Ánh Sáng Đức Tin. Chủ đề của thông điệp đánh mạnh vào sự chú ý của chúng ta vì tất cả chúng ta đều biết và hiểu thế nào là ánh sáng. Hành tinh của chúng ta không thể sống còn nếu không có ánh sáng. Là những người đi theo Chúa Kitô, đức tin là một điều chúng ta cần biết. Đức Thánh Cha muốn cho chúng ta biết đức tin như ánh sáng và khuyến khích chúng ta đào sâu đức tin của chúng ta.

Câu hỏi: Năm nay là Năm Đức Tin, do đó việc hoạch định thời gian rất tốt cho việc phát hành thông điệp. Đức Ông có thể cho biết về điều này không?

Thông điệp này, vì có mang chữ đức tin, được nối liền mật thiết với Năm Đức Tin được khai mạc nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày khởi đầu Công Đồng Vatican II. Đây chính là muốn biểu hiệu rằng Công Đồng Vatican II là một công đồng về đức tin, vì đòi hỏi chúng ta phải dành chỗ ưu tiên nhất cho Thiên Chúa trong đời sống Giáo Hội và cá nhân. Một cách nào đó, công đồng kể lại các giới răn là phải yêu mến Thiên Chúa như một điều tối quan trọng trong đời sống chúng ta.

Một lý do tại sao Giáo Hội thường nhìn vào quá khứ trong khi chuẩn bị cho tương lai, khi nhắc lại những gì đã qua, Giáo Hội muốn nói rằng không được coi thường đức tin hay bất cứ những gì đã tiếp nhận được, nhưng phải nhận biết rằng quà tặng này của Thiên Chúa cần được nuôi dưỡng và tăng cường để tiếp tục hướng dẫn các tín hữu trên đường lữ hành.

Cũng giống như khi chúng ta đi trong rừng và thỉnh thoảng phải xem bản đồ để biết chắc chúng ta từ đâu tới, đang ở đâu và sẽ đi về đâu.

Công Đồng Vatican II giống như một ánh sáng, như một ngọn đèn trên nóc nhà hay bên trong xe hơi của chúng ta. Ánh sáng đức tin soi sáng các kinh nghiệm của nhân loại từ bên trong, và đồng hành với những người nam và nữ của thời đại chúng ta trên lộ trình của họ. Còn một điều khác nữa chúng ta có thể nói rằng Vatican II là công đồng trình bầy rõ ràng đức tin như đã làm cho phong phú đời sống trên mọi chiều kích, nhất là trong thế giới hiện đại.

Câu hỏi: Nếu có ai chưa đọc bất cứ tài liệu nào của Vatican II, thì có lẽ đây là năm cần phải bắt đầu. Nhiều người ngạc nhiên khi thấy các bản văn rất thích hợp với thời nay, và có thể cho rằng mới được viết gần đây thôi. Đức Ông có đồng ý không?

Thật đúng vậy. Bước tới từ thời đại chúng ta, và 50 năm sau Vatican II, chúng ta biết rằng Đức Thánh Cha Biển Đức muốn làm một cái gạch nối với những gì đã xẩy ra 50 năm về trước, và vì lý do này ngài đã khai mạc Năm Đức Tin. Khi nối kết hai thời điểm của lịch sử này với nhau, Đức Thánh Cha Biển Đức muốn trình bầy rằng ở đây chúng ta cũng có một yếu tố của sự liên tục. Vì lý do ấy, trong thông điệp này chúng ta có thể thấy bút tự của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI và ngòi viết của Đức Thánh Cha Phanxicô.

Thông điệp bổ túc cho những gì Đức Thánh Cha Biển Đức đã viết trong thông điệp về Bác Ái và Hy Vọng. Chính Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gần như hoàn tất bản thảo đầu tiên của một thông điệp về đức tin. Đức Thánh Cha Phanxicô rất biết ơn ngài về việc này và như một người anh em trong Chúa Kitô và đã tiếp nối công trình, và đóng góp một phần của ngài cho thông điệp.

Câu hỏi: Là người Công Giáo, chúng ta có phải bắt buộc đọc thông điệp này hay bất cứ tài liệu nào khác của Vatican II?

Cần nhớ rằng chúng ta không bị bó buộc phải đọc thông điệp này hay bất cứ thông điệp nào khác. Chúng ta được tự do đọc nếu muốn. Có lẽ có một sự kết nối khác giữa tự do của chúng ta về việc này và ý nghĩa của tên Đức Thánh Cha. Thực vậy, Phanxicô có nghĩa là một con người tự do.

Lời khuyên của tôi là: có một cái gì kỳ cục trong việc cấu tạo con người, vì khi được đòi hỏi phải làm một điều gì, thì chúng ta có khuynh hướng làm điều ngược lại. Đọc nếu bạn muốn, đó là lời khuyên của tôi. Bạn sẽ không thất vọng nếu bạn đọc.

Câu hỏi: Xin cho biết cấu trúc của một thông điệp?

Trước khi nói về thông điệp, tôi muốn đề nghị với các thính giả đài phát thanh Vatican là một lúc nào đó, nên tải thông điệp xuống từ trên mạng và đọc. Bằng cách này họ có thể có thời gian để suy nghĩ về một chữ hay một câu nào đó có ích cho họ. Hay chỉ đọc một hay hai đoạn mỗi ngày cũng sẽ có bổ ích.

Về cấu trúc của một thông điệp: Thông điệp có 60 đoạn chú trọng đến các vấn đề tôn giáo căn bản của thời đại chúng ta, như: “Làm sao hiểu được đức tin trong một thế giới coi đó chỉ là một cảm xúc hay lựa chọn cá nhân, và hơn nữa còn không hiểu quan niệm về chân lý hoàn vũ?”

Đức Thánh Cha bắt đầu trả lời câu hỏi này trong đoạn đầu bằng việc lược lại lịch sử nhân loại về việc đáp ứng với đức tin cho tới ngày nay. Rồi có bốn chương, mỗi chương trích dẫn từ một đoạn Thánh Kinh:

1. Chúng ta đã tin vào tình yêu. (1 Ga 4:16)

2. Nếu các ngươi không vững tin, thì các ngươi sẽ không hiểu. (Is 7:9)

3. Tôi truyền lại cho anh em những gì tôi đã lãnh nhận. (1 Cr 15:3)

4. Thiên Chúa đã chuẩn bị một thành cho các ngài. (Dt 11:16)

Do đó có bốn chữ chính: tin, hiểu, chuyển tiếp và niềm hy vọng Kitô.

Bùi Hữu Thư 8/1/2013(vietcatholic)

Câu trả lời của Đức Phanxicô về ly dị và tái hôn

Câu trả lời của Đức Phanxicô về ly dị và tái hôn



Trên chuyến bay từ Rio trở lại Rôma, Gianguido Vecchi, phóng viên của báo Corriere della Sera (Người đưa tin chiều), đã dựa trên sự nhấn mạnh của ngài vào lòng thương xót để hỏi về trường hợp “các người đã ly dị và tái hôn” xem có khả thể thay đổi nào về luật lệ đối với họ hay không, “hay chúng lại là một rào cản chia rẽ họ với các tín hữu khác”.

Đáp lời, Đức Phanxicô quả quyết tuy lòng thương xót bao la hơn điều Vecchi hỏi, nhưng quả đây là “thời của lòng thương xót... Giáo Hội là Mẹ phải ra đi chữa lành các người bị thương với lòng thương xót”.

Chưa hết, trong cùng một câu trả lời này, không xa, ngài lặp lại một lần nữa: “Giáo Hội là Mẹ và phải đi trên con đường này của lòng thương xót. Và tìm ra một lòng thương xót đối với tất cả mọi người”. Và để làm mạnh hơn câu vừa nói, ngài thuật lại dụ ngôn người con hoang đàng, với hệ luận là “nhưng không phải chỉ chờ đợi họ, mà là ra đi tìm kiếm họ. Đó là lòng thương xót. Và tôi tin rằng đây là thời điểm của lòng thương xót”.

Áp dụng vào trường hợp “những người đã ly dị mà tái hôn”, Đức Phanxicô lặp lại giáo huấn hiện nay của Giáo Hội: “những người đã ly dị có thể rước lễ mà không có vấn đề. Nhưng khi họ tái hôn họ lại không thể rước lễ”.

Có đúng đây là giáo huấn hiện hành của Giáo Hội không? Thoạt đầu nghe ra có vẻ không đúng, trong Giáo Hội không hề có việc ly dị, chỉ có việc tuyên bố vô hiệu một hôn nhân vốn vô hiệu ngay từ lúc kết giao, chứ không hề có việc hủy tiêu một hôn nhân đã thành hiệu.

Câu trả lời trên đây của Đức Phanxicô làm người viết nhớ lại câu của Đức Cha David Cremin tuyên bố tại Sydney năm 1993: ly dị không có tội! Mà đã không có tội thì đương nhiên được lãnh các bí tích “kẻ sống”như Thánh Thể chẳng hạn. Đọc kỹ mới hay Đức Cha Cremin hiểu chữ ly dị đây là ly dị phần đời, theo luật dân sự, vì những người ly dị theo luật dân sự vì nhiều lý do chính đáng nhưng không tái hôn, thì thực tế, theo giáo luật, họ ly thân, chứ không ly dị. Giáo luật có dự liệu việc ly thân này (Các điều 1151-1155). Nên họ đâu có phạm tội.

Tin Mừng Mátthêu 19:9 cũng dạy rằng “Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình” là tội theo giáo luật, người phạm không được rước lễ. Tin Mừng Luca 16:18 cũng dạy như thế “Bất cứ ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình”. Thư Côrintô thứ nhất phát biểu giáo huấn này rõ hơn một chút theo chiều ly thân: “vợ không được bỏ chồng, mà nếu đã bỏ chồng thì phải ở độc thân” (7:10-11), nghĩa là có những trường hợp được bỏ chồng hay bỏ vợ; điều quan trọng là đừng tái hôn, phải ở độc thân. Như thế giáo huấn của Chúa Giêsu mà Giáo Hội hoàn toàn dựa vào bao gồm hai yếu tố: bỏ vợ, bỏ chồng và tái hôn. Phải hội đủ hai yếu tố ấy mới có tội và mới không được rước lễ. Chỉ bỏ chồng hay bỏ vợ, điều mà luật dân sự gọi giản tiện là ly dị, vì những lý do chính đáng như Giáo Luật dự trù tức ly dị hay bị hà hiếp (các điều 1152-1153) thì chưa hẳn đã là có tội.

Trên thực tế, nhiều người, rất nhiều người Công Giáo, sau khi bỏ vợ bỏ chồng, đã tái hôn. Một số được tuyên bố vô hiệu, tức được tuyên bố rằng cuộc hôn nhân đầu của họ bất thành ngay từ lúc kết giao, nghĩa là thực sự không phải là một cuộc hôn nhân đúng nghĩa, nên cuộc hôn nhân mà ta vẫn gọi là cuộc hôn nhân thứ hai có giá trị, hợp pháp, hợp lệ, thành hiệu, hay hôn nhân thực sự, nghĩa là đây mới là cuộc hôn nhân đầu tiên thực sự.

Một số khác không được tuyên bố như thế, nên cuộc hôn nhân thứ hai là cuộc hôn nhân không thành hiệu, vì cuộc hôn nhân đầu vẫn còn giá trị, vẫn đã thành hiệu. Tình thế này bị mang cái tên đáng buồn là ngoại tình như hai Tin Mừng Mátthêu và Luca đã long trọng xác nhận. Bên cạnh đó, còn có những người Công Giáo không cần đến tòa án Giáo Hội, không cần chờ tuyên bố vô hiệu, vẫn cứ tái hôn. “Siêu” hơn nữa, vì những rắc rối này, có những người tỉnh bơ chung sống mà không cần bất cứ hình thức luật lệ nào công nhận. Nếu không ngoại tình, họ cũng thuộc loại dâm bôn (fornication) như những người không có gia đình.

Những người này cho đến nay vẫn bị Giáo Hội từ khước không cho rước lễ, dù họ vẫn được chào đón trong cộng đoàn như anh chị em trong phụng vụ lời Chúa, trong mọi cử hành và sinh hoạt của Giáo Hội.

Nếu rước lễ là biểu hiệu hiệp thông hoàn toàn với Chúa và với anh chị em, thì những sinh hoạt kia quả là không thoả đáng và đó là điều đang gây đớn đau cho biết bao triệu người Công Giáo. Khi nói đến lòng thương xót, Đức Phanxicô hẳn đã thấm cái đau của họ. Nhưng phải thương xót ra sao? Đức Phanxicô dường như muốn mở ra một khả thể mới khi ngài mở ngoặc nhắc tới mô thức “nhiệm cục” (nhân từ đối với những trường hợp khó khăn) của Giáo Hội Chính Thống để cho phép “ly dị và tái hôn”. Nhưng ngài không vội vã quyết định, chờ nghiên cứu và đề nghị của hai cơ chế cố vấn quan trọng là Ủy Ban 8 Hồng Y có nhiệm vụ xem sét việc cải tổ Giáo Hội (sẽ họp tháng Mười) và Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới sắp tới.

Tóm lại vấn đề cần được nghiên cứu thấu đáo hơn.

Điều đổi mới hơn cả

Sandro Magister coi câu trả lời trên của Đức Phanxicô là điều đổi mới hơn cả trong các điều được ngài phát biểu trên chuyến bay trở lại Rôma. Nhưng theo Magister, Đức Phanxicô rõ ràng nhắc tới công trình của vị tiền nhiệm là Đức Bênêđíctô XI, căn cứ vào khảo luận khá dài viết năm 1998, lúc còn đứng đầu Thánh Bộ Giáo Lý Đức tin và được ngài cho công bố lại vào năm 2005, nhân buổi nói chuyện với các linh mục tại Aosta.

Trong khảo luận này, Đức Bênêđíctô đưa ra hai khả thể có thể được xem sét: Thứ nhất, có thể nới rộng việc thừa nhận tính vô hiệu của những cuộc hôn nhân cử hành “mà không có đức tin” bởi ít nhất một trong hai người phối ngẫu, dù cả hai đều đã chịu phép rửa.

Thứ hai, có thể nại tới quyết định “của tòa trong” (lương tâm) để người Công Giáo ly dị mà tái hôn được rước lễ khi việc không được nhìn nhận tính vô hiệu cho cuộc hôn nhân đầu của họ, hoặc vì phán quyết bị coi là lầm lẫn hoặc vì việc bất khả không thể chứng minh được tính vô hiệu theo thủ tục, đi ngược lại xác tín mạnh mẽ của họ rằng cuộc hôn nhân kia vô hiệu một cách khách quan.

Hôn nhân cử hành mà không có đức tin

Khảo luận của Đức Bênêđíctô XVI phân biệt hai loại hôn nhân: hôn nhân bí tích và hôn nhân không bí tích. Ngài nói rằng đối với Thánh Phaolô, tuyệt đối bất khả tiêu chỉ áp dụng cho hôn nhân bí tích mà thôi, nghĩa là hôn nhân giữa hai người đã chịu phép rửa. Hôn nhân giữa một người đã chịu phép rửa và một người chưa chịu phép này không được coi là bí tích và do đó có thể bị hủy tiêu, nếu mục đích là để bảo vệ đức tin.

Loại hôn nhân sau nằm ngoài phạm vi thảo luận ở đây. Ta chỉ đề cập tới loại hôn nhân đầu hiện đang gây đớn đau cho nhiều người Công Giáo, cái đớn đau mà người Chính Thống đã dựa vào thần học “nhiệm cục” để giải quyết. Cách giải quyết này không được Đức Bênêđictô ủng hộ.

Ngài cho hay dù trong các thế kỷ đầu, một số giáo phụ có “tìm các giải pháp mục vụ cho các trường hợp nhập nhàng” như Đức Lêô cả chẳng hạn. Nhưng đại thể, “các tín hữu ly dị mà tái hôn chưa bao giờ chính thức được rước lễ cả” dù sau một kỳ đền tội. Sau đó, tới thế kỷ 11, đã có sự mềm dẻo và sẵn sàng thỏa hiệp cho các hoàn cảnh hôn nhân khó khăn. Các Giáo Hội Đông Phương đã cho phép một thực hành rộng rãi hơn. Tuy nhiên, tại Tây Phương, dựa vào sự cải tổ của Đức Grêgôrianô, quan niệm nguyên thủy của các giáo phụ đã được phục hồi và chiều hướng này được chính thức chấp nhận tại Công Đồng Trent và cuối cùng tại Công Đồng Vatican II.

Nhưng phải nói sao về trường hợp những người Công Giáo ly dị mà tái hôn dựa vào lương tâm cứ quyết định rước lễ, nghịch với qui định ngăn cấm của giáo luật? Đức Bênêđíctô vẫn cho rằng “nếu cuộc hôn nhân trước của hai tín hữu đã chịu phép rửa mà tái hôn thành hiệu, thì trong bất cứ hoàn cảnh nào, cuộc phối hợp mới của họ cũng không được coi là hợp pháp và do đó, lãnh nhận các bí tích là điều, từ trong nội tại, không thể có được. Lương tâm cá nhân bị cột vào qui luật này, không trừ trường hợp nào cả. Tính bất khả tiêu của hôn nhân thuộc “thiên luật”, luật mà “Giáo Hội không có bất cứ thẩm quyền tùy ý nào”.

Nói thế rồi, ngài thêm ngay rằng: “Tuy nhiên, Giáo Hội có thẩm quyền xác minh đâu là các điều kiện làm cho một hôn nhân được coi là bất khả tiêu theo nghĩa trong giáo huấn của Chúa Giêsu”. Và đối với ngài, dựa vào các tòa án Giáo Hội là điều không đủ. Một là các diễn tiến ở đấy rất mất thì giờ, hai là các tòa này có những phán quyết đáng nghi, đôi khi lầm lẫn nữa. Thành thử, nguyên tắc 'epikeia' (lệ đình luật?) tức nguyên tắc: luật có thể vi phạm vì lợi ích tốt hơn, ở tòa trong, không bị tự động loại bỏ. Tuy nhiên, điều này cần được nghiên cứu nhiều hơn, để tránh những quyết định chủ quan.

Một phạm vi cần được thăm dò ngay là vấn đề liệu các Kitô hữu không tin, tức là những Kitô hữu tuy đã chịu phép rửa nhưng chưa bao giời tin hay không còn tin Thiên Chúa nữa, có thực sự bước vào một hôn nhân bí tích hay không. Nghĩa là cần xác định xem có phải mọi cuộc hôn nhân giữa hai người đã chịu phép rửa đều ‘tự động’ (ipso facto) là một cuộc hôn nhân bí tích hay không. Vì thực sự, Giáo Luật nói rằng chỉ những cuộc hôn nhân ‘thành hiệu’ giữa hai người đã chịu phép rửa mới đồng thời là một bí tích mà thôi (xem điều 1055, tiết 2). Mà đức tin nằm ở chính yếu tính của bí tích; thành thử vấn đề là chứng cớ nào cần để việc “thiếu đức tin” khiến bí tích không hiện hữu.

Chính đó là nội dung một chú thích được Đức Bênêđíctô thêm vào khảo luận trên nhân cuộc nói chuyện với các linh mục tại Aosta năm 2005:

“Những ai kết hôn trong Giáo Hội vì truyền thống mà không thực sự tin, và những ai sau này thấy mình trong cuộc hôn nhân mới và bất thành và cuối cùng trở lại, khám phá ra đức tin và cảm thấy mình bị loại không được lãnh bí tích, đều là những người có hoàn cảnh cực kỳ đau khổ. Đây quả là nguyên nhân gây đau khổ lớn lao; nên lúc còn là bộ trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, tôi đã mời nhiều hội đồng giám mục và nhiều chuyên viên nghiên cứu vấn đề này, tức vấn đề bí tích được cử hành mà không có đức tin. Thực tế, tôi không dám nói liệu ở đây ta có khám phá ra giây phút bất thành vì thấy bí tích thiếu một chiều kích nền tảng hay không. Bản thân tôi nghĩ như vậy, nhưng qua nhiều cuộc thảo luận của chúng ta, tôi hiểu rằng đây là một vấn đề phức tạp cao độ và cần được nghiên cứu thêm. Nhưng vì số phận đau khổ của những người này, cần phải có nghiên cứu thêm”.

Khó khăn giáo luật, không hẳn khó khăn luân lý

Hy vọng rằng, với thúc đẩy cụ thể của Đức Phanxicô lần này, Giáo Hội Công Giáo sẽ tìm ra phương thế thích đáng giải tỏa được cơn đau của rất nhiều người con của mình hiện nay. Động thái của ngài được linh mục Alexander Lucie-Smith coi là cách mạng (Xem catholicherald.co.uk, 31 tháng 7, 2013).

Linh mục Lucie-Smith cho rằng phương thức Chính Thống cho phép ly dị và tái hôn hiển nhiên đi ngược lại giáo huấn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng những người ly dị và tái hôn mắc khó khăn giáo luật hơn là khó khăn luân lý vì rất có thể cuộc kết hợp sau của họ mới là cuộc kết hợp thật sự, chứ không phải cuộc kết hợp đầu.

Linh mục Lucie-Smith cũng cho rằng nhiều người sống trong cuộc kết hợp sau vẫn cứ rước lễ, dù không được phép như thế. Cùng với họ còn là những người sống trong các kết hợp bất hợp lệ, tức những người chỉ sống chung với nhau chứ không cưới nhau dù theo giáo luật hay theo dân luật. Nhóm sau hiện rất đông. Tại Anh chẳng hạn, con số những người ly dị và tái hôn chẳng mấy chốc sẽ bị qua mặt bởi những người chưa bao giờ cưới nhau, hay ít nhất chưa cưới nhau theo giáo luật. Định chế hôn nhân đang bị đe dọa nặng, nhường chỗ cho những cuộc chung sống không cần được Giáo Hội chúc phúc. Một giải pháp cho vấn đề càng sớm có càng tốt.



Vũ Văn An 8/1/2013(vietcatholic)

Bài phỏng vấn Đức Thánh Cha Phanxicô dành cho các nhà báo trên chuyến bay từ Rio de Janeiro về Roma (2/2)

Bài phỏng vấn Đức Thánh Cha Phanxicô dành cho các nhà báo trên chuyến bay từ Rio de Janeiro về Roma (2/2)

Chúng tôi đã gửi tới qúy vị và các bạn phần đầu bài phỏng vấn dài Đức Thánh Cha Phanxicô đã dành cho các nhà báo quốc tế tháp tùng ngài trên chuyến bay từ Rio de Janeiro về Roma ngày 29-7-2013. Sau đây là phần hai của bài phỏng vấn này.

Cha Federico Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, kiêm Tổng giám đốc đài phát thanh Vaticăng, là người điều hợp giới thiệu các nhà báo với Đức Thánh Cha. Tới phiên anh Marcio Campos nhà báo người Brasil.

Anh hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, cùng với các nhà báo Brasil của tờ Diaro, Estado và đài truyền hình Globo con muốn cám ơn Đức Thánh Cha. Đồng hành với Đức Thánh Cha thật là khó, rất khó. Chúng con tất cả đều mệt nhoài, Đức Thánh Cha thì khỏe, còn chúng con thì mệt quá... Tại Brasil trong các năm qua Giáo Hội công giáo đã mất giáo dân. Phong trào Canh Tân Đặc Sủng Thánh Linh có phải là một khả thể giúp tránh cảnh các tín hữu công giáo đi theo Giáo Hội Pentecotist hay các Giáo hội Pentecostal khác hay không. Xin cám ơn sự hiện diện của Đức Thánh Cha giữa chúng con.

Đáp: Rất đúng điều mà anh nói liên quan tới số tín hữu giảm sút: đúng thế, đúng thế. Nhưng có các thống kê. Chúng tôi đã nói chuyện với các Giám Mục Brasil về vấn đề này, trong một cuộc họp ngày hôm qua. Anh hỏi về Phong trào Canh Tân Đặc Sủng Thánh Linh, nhưng tôi xin nói với các anh các chị một điều. Vào cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 tôi đã có thể trông thấy các tín hữu này. Có một lần tôi đã nói về họ như sau: ”Các người này lẫn lộn một buổi cử hành phụng vụ với một trường dậy nhảy samba!” Tôi đã nói vậy. Và tôi đã hối hận. Rồi tôi đã hiểu biết hơn. Cũng đúng là phong trào đã đi trên con đường tốt với các phụ tùng tốt. Và giờ đây nói chung tôi tin rằng phong trào đã đem lại nhiều thiện ích cho Giáo Hội. Tại Buenos Aires tôi đã thường họp họ lại, và mỗi năm một lần tôi dâng thánh lễ với tất cả mọi người trong nhà thờ chính tòa. Tôi đã luôn luôn tạo thuận tiện cho họ, khi chính tôi đã được hoán cải vì trông thấy điều thiện họ làm. Bởi vì trong lúc này - ở đây tôi xin mở rộng câu trả lời một chút - tôi tin rằng các phong trào cần thiết. Các phong trào là một ơn của Chúa Thánh Thần. Nhưng mà làm sao có thể điều hành một ”phong trào tự do” như vậy. Cả Giáo Hội cũng tự do. Chúa Thánh Thần làm điều Ngài muốn. Người làm công việc của sự hài hòa, nhưng tôi tin rằng các phong trào là một ơn; các phong trào ấy có tinh thần của Giáo Hội. Vì thế tôi tin rằng phong trào Canh Tân Đặc Sủng Thánh Linh không chỉ giúp vài tín hữu tránh gia nhập các nhóm pentecostal mà thôi, nhưng phục vụ chính Giáo Hội! Nó canh tân chúng ta. Và mỗi người tìm phong trào của mình theo đặc sủng riêng như Chúa Thánh Thần dẫn đưa họ.

Tiếp theo đó cha Lombardi giới thiệu ông Jean Marie Guénois, phóng viên của nhật báo Pháp Le Figaro Người thợ cạo.

Ông hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, cùng với phóng viên tờ La Croix con xin có câu hỏi: Đức Thánh Cha đã nói rằng không có phụ nữ, Giáo Hội mất đi sức phong phú của mình. Vậy Đức Thánh Cha sẽ có các biện pháp cụ thể nào? Chẳng hạn như cho phép nữ giới làm phó tế, hay đặt để nột phụ nữ làm đầu một Bộ của Tòa Thánh? Và thêm một câu hỏi kỹ thuật rất nhỏ: Đức Thánh Cha nói là ngài mệt. Đức Thánh Cha có một trang bị đặc biệt nào cho chuyến bay trở về không? Xin cám ơn Đức Thánh Cha.

Đáp: Chúng ta hãy bắt đầu với câu hỏi cuối cùng. Chiếc máy bay này không có các trang bị đặc biệt. Tôi ngồi ở phía trước trong một chiếc ghế lớn, nhưng là loại thông thường thôi, như mọi người. Tôi đã viết một lá thư và gọi điện thoại để nói rằng tôi không muốn các trang bị đặc biệt trên máy bay. Đã rõ chưa? Thứ hai, phụ nữ. Một Giáo Hội không có các phụ nữ, thì giống như Đoàn Tông Đồ không có Mẹ Maria. Vai trò của nữ giới trong Giáo Hội không chỉ là chức làm mẹ, mẹ gia đình, mà còn mạnh mẽ hơn nữa: họ chính là hình ảnh của Đức Trinh Nữ, của Đức Mẹ, là Đấng giúp Giáo Hội lớn lên. Qúy vị hãy nghĩ coi, Đức Mẹ thì quan trọng hơn các Tông Đồ chứ. Mẹ quan trọng hơn. Giáo Hội là nữ giới: là Giáo Hội, là hiền thê, là Mẹ. Nhưng mà nữ giới trong Giáo Hội không phải chỉ là... tôi không biết phải nói trong tiếng Ý làm sao... vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội không phải chỉ là mẹ, là người làm việc, bị hạn hẹp... Không! Nó là một chuyện khác... Các Giáo Hoàng, Đức Phaolô VI đã viết một điều rất hay đẹp về các phụ nữ, nhưng tôi tin là phải đi xa hơn trong việc trình bầy rõ ràng vai trò này và đặc sủng của nữ giới. Không thể hiểu một Giáo Hội không có phụ nữ, nhưng mà phụ nữ hoạt động trong Giáo Hội, với chân dung của họ, họ làm cho Giáo Hội tiến lên. Tôi nghĩ tới một thì dụ không liên quan gì tới Giáo Hội, nhưng là một thí dụ lịch sử ở bên châu Mỹ Latinh, tại Paraguay. Đối với tôi phụ nữ Paraguay là phụ nữ vinh danh nhất châu Mỹ Latinh. Bạn có phải người Paraguay không? Sau chiến tranh, cứ bẩy phụ nữ mới có một người đàn ông, và các phụ nữ đó đã làm một quyết định hơi khó khăn: họ chọn có con để cứu vãn tổ quốc, nền văn hóa, đức tin và tiếng nói. Trong Giáo Hội phải nghĩ tới nữ giới trong viễn tượng này: lựa chọn liều lĩnh nhưng như là phụ nữ. Điều này cần được giải thích tốt hơn. Tôi tin rằng chúng ta đã chưa có một nền thần học sâu sắc về nữ giới trong Giáo Hội. Cho tới nay phụ nữ đã chỉ làm cái này cái nọ: giúp lễ, đọc sách, chủ tịch hội Caritas ... Nhưng mà còn có điều hơn nữa! Cần phải đưa ra một nền thấn học về nữ giới. Đó là điều tôi nghĩ.

Nhóm Tây Ban Nha có một nhà báo khác là anh Pablo Ordas phóng viên của nhật báo El Pais nêu lên câu hỏi: Con xin chào Đức Thánh Cha, chúng con muốn biết đâu là tương quan làm việc của Đức Thánh Cha, chứ không phải chỉ là tương quan tình bạn và cộng tác với Đức Thánh Cha Biển Đức XVI. Từ trước tới nay chưa bao giờ có tình huống như hiện tại... Đức Thánh Cha có các tiếp xúc thường xuyên với với Đức Biển Đức XVI hay không? Ngài có giúp Đức Thánh Cha trong công việc giáo hoàng hay không?

Đáp: Tôi tin rằng lần cuối cùng khi có hai hay ba Giáo Hoàng thì các vị đã không nói chuyện với nhau, vì đang cãi nhau xem ai là Giáo Hoàng thật... và các vị đã đi tới cuộc Ly giáo của Tây Phương. Có một cái gì đó định tính tương quan của tôi với Đức Thánh Cha Biển Đức XVI: đó là tôi rất yêu mến ngài. Tôi đã luôn luôn yêu mến ngài. Đối với tôi ngài là một người của Thiên Chúa, một người khiêm nhường, một người cầu nguyện... Tôi đã rất hạnh phúc, khi ngài được bầu làm Giáo Hoàng. Cả khi ngài đã từ chức, ngài đã là một gương sáng đối với tôi.... một vĩ nhân! Một vĩ nhân. Chỉ có vĩ nhân mới làm điều đó thôi. Một người của Thiên Chúa, một người của cầu nguyện. Bây giờ ngài ở trong nội thành Vaticăng, và có vài người hỏi tôi: làm sao lại có thể xảy ra điều ấy, hai Giáo Hoàng trong Vaticăng... Người không chắn lối ngài hay sao? Người không làm cách mạng chống lại ngài hay sao? Họ nói tất cả những điều ấy đấy. Nhưng tôi đã tìm ra một câu để nói điều này: ”Nó giống như có Ông Nội trong nhà vậy”, nhưng là một Ông Nội khôn ngoan. Khi trong một gia đình có Ông Nội trong nhà, thì người được tôn kính, yêu mến và lắng nghe. Đức Thánh Cha Biển Đức XVI là một người của sự thận trọng, người không xen mình vào, tôi đã thưa người biết bao nhiêu lần rằng: ”Thưa Đức Thánh Cha, xin hãy sống cuộc sống của ngài, xin đến với chúng con...” Và người đã đến để khánh thành và làm phép tượng Tổng Lãnh thiên thần Micae...

Đó, câu nói đó diễn tả tất cả rồi. Đối với tôi thì như là có Ông Nội trong nhà: người là thân phụ của tôi. Nếu găp khó khăn hay có việc gì không hiểu tôi sẽ điện thoại hỏi người: ”Xin nói cho con biết, con có thể làm việc đó không?” Và khi tôi đến gặp người để nói về chuyện Vatileaks, người đã kể cho tôi hết mọi sự với một sự đơn sơ... phục vụ. Đây là một điều mà tôi không hiểu các bạn có biết không, tôi tin là có nhưng không chắc chắn: đó là khi người nói với chúng tôi trong diễn văn từ biệt ngày 28 tháng hai, người đã nói: ”Giữa anh em có vị Giáo Hoàng tương lai: tôi hứa vâng phục người”. Thật là một vĩ nhân: Đó là một vĩ nhân!

Tiếp đến tới phiên một nhà báo người Brasil là chị Ana Fereira. Chị hỏi: Con xin chào Đức Thánh Cha. Con muốn nói lên tiếng cám ơn rất nhiều lần: cám ơn Đức Thánh Cha đã đem biết bao niềm vui tới Brasil và cũng cám ơn ngài trả lời các câu hỏi của chúng con. Con muốn biết tại sao hôm qua Đức Thánh Cha lại nói với các Giám Mục Brasil về việc tham dự của nữ giới trong Giáo Hội Brasil. Con muốn hiểu rõ hơn: sự tham dự này của chúng con là nữ giới trong Giáo Hội phải như thế nào? Đức Thánh Cha nghĩ gì về việc truyến chức Linh Mục cho phụ nữ? Thế đứng của nữ giới chúng con trong Giáo Hội phải như thế nào?

Đáp: Tôi muốn giải thích một chút về việc tham dự của các phụ nữ trong Giáo Hội: Nó không thể chỉ hạn chế trong việc giúp lễ, hay chủ tịch Caritas hoặc là giáo lý viên... vai trò đó phải nhiều hơn nữa, và một cách sâu xa hơn nữa, và tôi nói về nền thần học phụ nữ là vì vậy. Liên quan tới việc truyền chức Linh Mục cho phụ nữ thì Giáo Hội đã nói là ”không” rồi. Đức Gioan Phaolô II đã nói điều ấy, và với một công thức định đoạt. Cánh cửa đó đã đóng rồi, nhưng về chuyện này thì tôi muốn nói một điều. Tôi đã nói, nhưng tôi xin lập lại. Đức Mẹ Maria đã quan trọng hơn các Tông Đồ Giám Mục và các phó tế linh mục. Trong Giáo Hội, phụ nữ quan trọng hơn các Giám Mục và các linh mục; như thế nào thì đó là điều mà chúng ta phải tìm giải thích cho tốt hơn, bởi vì tôi tin rằng thiếu một giải thích thần học về điều này.

Cha Lombardi giới thiệu ông Gianguido Vecchi, phóng viên của báo Corriere della Sera Người đưa tin chiều. Ông hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, cả trong chuyến đi này nữa Đức Thánh Cha đã hơn một lần nói về lòng thương xót. Liên quan tới việc lãnh các Bí Tích của các người đã ly dị và tái hôn, có khả thể thay đổi điều gì trong luật lệ của Giáo Hội hay không? Các Bí tích này có là một dịp đến gần con người, hay chúng lại là một rào cản chia rẽ họ với các tín hữu khác?

Đáp: Đây là đề tài người ta luôn luôn hỏi. Lòng thương xót lớn lao hơn là trường hợp mà anh nói tới. Tôi tin rằng đây là thời gian của lòng thương xót. Sự thay đổi của thời đại và cũng là của biết bao nhiêu vấn đề trong Giáo Hội - như một chứng tá không tốt của vài linh mục, nhưng cũng có các vần đề gian tham trong Giáo Hội - kể cả vấn đề duy giáo sĩ, chẳng hạn, nó đã để lại biết bao nhiêu người bị thương. Nhưng Giáo Hội là Mẹ phải ra đi chữa lành các người bị thương với lòng thương xót. Nếu Chúa không mệt mỏi tha thứ, thì chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài lựa chọn này: trước hết là săn sóc những người bị thương. Giáo Hội là Mẹ và phải đi trên con đường này của lòng thương xót. Và tìm ra một lòng thương xót đối với tất cả mọi người. Nhưng tôi nghĩ rằng, khi người con hoang đàng trở về nhà, người cha đã không nói: ”Mày, hãy ngồi xuống nghe tao đây, mày đã làm gì với tiền của rồi?” Không, ông tổ chức lễ mừng. Thế rồi có lẽ khi người con muốn nói, anh ta đã nói. Giáo Hội cũng phải làm như thế. Khi có ai đó... nhưng mà không phải chỉ chờ đợi họ, mà là ra đi tìm kiếm họ. Đó là lòng thương xót. Và tôi tin rằng đây là thời điểm của lòng thương xót. Chính Đức Gioan Phaolô II đã có trực giác này khi đã bắt đầu Lòng Thương Xót Chúa với thánh nữ Faustina Kowalska... Người đã trực giác rằng đây là một sự cần thiết của thời nay.

Liên quan tới việc rước lễ của những người đã ly dị mà tái hôn - bởi vì những người đã ly dị có thể rước lễ mà không có vấn đề. Nhưng khi họ tái hôn họ lại không thể rước lễ, tôi tin rằng phải nhìn nó trong tổng thể mục vụ hôn nhân. Và đó là một vấn đề. Nhưng tôi cũng xin mở ngoặc: các anh em chính thống có một thực hành khác. Họ theo nền thần học họ goi là thần học của nhiệm cục cứu độ, và họ cho một khả thể thứ hai, họ cho phép điều đó. Nhưng tôi tin rằng vần đề này, tôi xin đóng ngoặc, phải được nghiên cứu trong bối cảnh của mục vụ hôn nhân. Và điều này cần có hai chuyện: thứ nhất, một trong các đề tài mà 8 vị của Hội Đồng Hồng Y phải đề cập tới trong cuộc họp mà chúng tôi sẽ nhóm trong các ngày 1-3 tháng 10 tới đây, như là đi trước trong mục vụ hôn nhân. Thứ hai, cách đây 15 ngày vị Thư ký của văn phòng Thượng Hội Đồng Giám Mục đã gặp tôi để thảo luận về đề tài của Thượng Hội Đồng Giám Mục tới. Đây là một đề tài nhân chủng học, nhưng khi nói lui nói tới, đi tới đi lui, chúng tôi đã thấy rằng đề tài nhân chủng học này - đức tin giúp chương trình hóa con người như thề nào - trong gia đình cũng dẫn tới muc vụ hôn nhân. Chúng ta đang đi tới một mục vụ hôn nhân sâu hơn một chút. Và đây là vấn đề của tất cả mọi người, bởi vì có rất nhiều người ở trong hoàn cảnh đó. Tôi chỉ xin đơn cử một thí dụ thôi. Đức Hồng Y Quarracino, vị tiền nhiệm của tôi đã nói rằng đối với ngài phân nửa các cuộc hôn nhân là bất thành sự. Tại sao ngài lại nói như vậy? Bởi vì người ta lấy nhau mà không trưởng thành, lấy nhau mà không nhận ra rằng nó kéo dài suốt đời, hay lấy nhau vì phải lấy nhau một cách xã hội... Và điều này cũng thuộc lãnh vực mục vụ hôn nhân... Cả vấn đề pháp lý hủy bỏ hôn nhân nữa, cần phải coi lại, bởi vì các Tòa án Giáo Hội không đủ để giải quyết vấn đề. Mục vụ hôn nhân phức tạp lắm!

Bà Carolina Pigozzi thuộc tuần san Paris Match, thì muốn biết từ khi làm Giáo Hoàng Đức Thánh Cha có cảm thấy mình là tu sĩ dòng Tên không. Ngài trả lời:

Đáp: Đây là một câu hỏi thần học, bời vì các tu sĩ dòng Tên khấn vâng lời Đức Giáo Hoàng. Mà nếu Giáo Hoàng là tu sĩ dòng Tên, thì phải khấn vâng lời cha Bề trên tổng quyền dòng Tên. Tôi không biết phải giải quyết vấn đề này ra sao... Không, tôi cảm thấy mình là tu sĩ dòng Tên trong nền tu đức của tôi, trong nền tu đức của linh đạo mà tôi có trong tim. Trong ba ngày nữa tôi sẽ đi mừng lễ thánh Ignazio với các tu sĩ dòng Tên, tôi sẽ dâng thánh lễ sáng. Tôi đã không thay đổi linh đạo. Tên tôi là Phanxicô nhưng tôi không phải là tu sĩ Phan Sinh. Tôi cảm thấy mình là tu sĩ dòng Tên, và tôi suy nghĩ như tu sĩ dòng Tên, thực sự chứ không phải một cách giả hình.

Tới đây cha Lombardi hỏi Đức Thánh Cha có còn sức chịu đựng nữa không, vì còn có vài câu hỏi nữa. Tới phiên chị Nicole Winfield, phóng viên của hãng thông tấn AP. Chị hỏi: Thưa Đức Thánh Cha con xin cám ơn Đức Thánh Cha đã đến giữa ”đám sư tử” là các nhà báo. Con muốn xin Đức Thánh Cha đúc kết thành qủa bốn tháng làm Giáo Hoàng của Đức Thánh Cha. Ngài có thể cho chúng con biết điều tốt nhất và điều tệ hại nhất khi là Giáo Hoàng không, và cái gì đã khiến cho Đức Thánh Cha ngạc nhiên nhất trong thời gian này. Đức Thánh Cha trả lời:

Đáp: Tôi thật sự không biết trả lời câu hỏi này ra sao. Đã không có những điều to lớn. Nhưng mà những điều đẹp thì có. Thí dụ cuộc găp gỡ với các Giám Mục Italia đã rất là đẹp, rất đẹp. Như là Giám Mục của thủ đô Italia tôi cảm thấy mình ở trong nhà cùng các vị. Đó đã là điều đẹp, nhưng tôi không biết có phải là điều tốt nhất hay không. Nhưng cũng có một chuyện đau lòng lọt vào tim tôi, đó là chuyến viếng thăm Lampedusa. Nó đã khiến tôi phải khóc, nhưng đã đem lại thiện ích cho tôi. Khi các thuyền của người tị nạn tới, họ để chúng xa bờ hàng mấy hải lý trườc bãi biển và họ phải tìm cách vào bờ một mình. Điều này khiến cho tôi đau khổ, vì tôi nghĩ họ là các nạn nhân của một hệ thống xã hội kinh tế toàn cầu. Nhưng điều tệ hại nhất xảy ra với tôi - xin lỗi- đó là tôi đã bị đau thần kinh tọa trong tháng đầu tiên, vì để trả lời các cuộc phỏng vấn tôi đã ngồi trong một chiếc ghế bành, và nó đã khiến cho tôi đau một chút. Thần kinh tọa đã rất là đau. Ước chi đừng có ai bị như vậy! Rồi nói chuyện với người ta... Cuộc gặp gỡ với các chủng sinh và nữ tu cũng đã rất đẹp, đẹp lắm. cả cuộc gặp gỡ với học sinh các trường dòng Tên cũng đã rất là đẹp. Đó là những điếu tốt lành.

Hỏi: Vậy điều gì đã khiến cho Đức Thánh Cha ngạc nhiên nhất?

Đáp: Những bản vị con người, những người tốt mà tôi đã gặp đươc. Tôi đã tìm thấy biết bao nhiều ngừơi tốt trong Vaticăng này. Tôi đã nghĩ phải nói gì. Tôi trả lại công bằng khi nói điều này: có biết bao nhiêu người tốt, biết bao nhiêu người tốt, tốt, tốt, tốt.

Chị Elisabetta Piqué, phóng viên nhật báo La Nacion, mà Đức Thánh Cha quen biết nói: Thưa Đức Thánh Cha, nhân danh 50 ngàn bạn trẻ Argentina mà con đã gặp tại Rio. Họ đã nói với con ”Chị sẽ đi cùng chuyến bay với Đức Thánh Cha hả? Xin chị làm ơn nói với ngài là ngài thật là tuyệt diệu, hết sẩy, và xin chị hỏi ngài xem bao giờ ngài đến Argentina. Nhưng con đã nói với họ là Đức Thánh Cha sẽ không đi Argentina đâu... Nhưng con xin hỏi Đức Thánh Cha một câu hỏi khó ... Đức Thánh Cha có hoảng sợ khi nhận được tin vụ Vatileaks hay không?

Đáp: Không, tôi muốn kể cho chị nghe một giai thoại liên quan tới vụ Vatileaks. Khi tôi đến gặp Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, trước hết chúng tôi cầu nguyện trong nhà nguyện, rồi đi về phòng làm việc của ngài. Ở đó tôi trông thấy một chiếc hộp lớn bên trên có một phong bì... Đức Thánh Cha Biển Đức đã nói với tôi: Trong cái hộp lớn này có tất các lời tuyên bố, các điều mà các chứng nhân đã nói, tất cả ở trong đó. Nhưng bản tóm tắt và phán quyết cuối cùng thì ở trong phong bì này. Và tới đó thì ngài nói ta-ta-ta .... Ngài có tất cả trong đầu! Thật là thông minh! Mọi sự thuộc lòng, tất cả mọi sự. Nhưng không, tôi đã không hoảng sợ, Tôi đã không hoảng sợ, không. Không, không. Nó là một vấn đế lớn nhưng tôi đã không hoảng sợ.

Một nhà báo khác Ông Sergio Rubín hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, con xin hỏi hai điều thôi: Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh nhiều trên việc chấm dứt việc mất các tín hữu. Tại Brasil việc mất mát này đã rất là lớn... Đức Thánh Cha có hy vọng rằng chuyến viếng thăm vừa qua sẽ góp phần vào việc lôi kéo tín hữu trở lại, và khiến cho họ cảm thấy gần gũi hơn hay không. Câu hỏi thứ hai có tính cách gia đình hơn: Đức Thánh Cha thích Argentina lắm, và ngài đã sống ở trung tâm Buenos Aires. Người dân Argentina tự hỏi không biết sự kiện không ở Buenos Aires nữa không đi xe bus, các phương tiện công cộng và đị bộ giữa đừơng phố nữa có lạ lùng đối với ĐTC không?

Đáp: Tôi tin rằng một chuyến du hành giáo hoàng luôn luôn đem lại thiện ích. Và tôi tin rằng tại Brasil điều này cũng sẽ đem lại thiện ích, nhưng không phải chỉ có sự hiện diện của Giáo Hoàng, mà điều này thì tôi đã nói trong Ngày Quốc Tế Giới Trẻ rồi. Người trẻ đã tự huy động và sẽ làm tốt, có lẽ họ sẽ giúp Giáo Hội biết bao nhiêu. Các tín hữu đã bỏ ra đi, và biết bao nhiêu người không hạnh phúc, bởi vì họ cảm thấy thuộc Giáo Hội. Tôi tin rằng điều này là tích cực, nhưng không chỉ đối với chuyến viếng thăm, mà nhất là đối với Ngày Quốc Tế Giới Trẻ: nó đã là một biến cố tuyệt vời.

Và dĩ nhiên tôi nhớ Buenos Aires lắm chứ. Nhưng đó là một sự thiếu thốn thanh thản, một sự thiếu thốn thanh thản. Nhưng tôi tin rằng anh biết nhiều hơn tôi và những người khác. Anh có thể trả lời câu hỏi này, với cuốn sách mà anh đã viết.

Cha Lombardi nói bây giờ đến lượt tiếng Nga và rồi sau cùng là Valentina, niên trưởng đoàn ký giả muốn kết thúc buổi phỏng vấn này.

HỎI: Con kính chào Đức Thánh Cha. Thưa Đức Thánh Cha, trở lại vấn đề đại kết. Hôm nay, Chính thống giáo mừng kỷ niệm 1025 năm nước Nga theo Kitô giáo, với rất nhiều nghi lễ long trọng tại nhiều thủ đô. Con rất sung sướng, nếu Đức Thánh Cha nói vài lời về sự kiện này. Cám ơn Đức Thánh Cha.

ĐÁP: Trong các Giáo Hội Chính Thống vẫn còn bảo tồn được nghi lễ phụng vụ đầu tiên, đúng không. Đó là một điều thật là đẹp. Chúng ta đã đánh mất ít nhiều ý nghĩa thờ kính, còn họ thì họ vẫn giữ gìn ý nghĩa này, họ ca ngợi Thiên Chúa, họ thờ lạy Người, họ ca hát, thời giờ không quan trọng đối với họ. Trung tâm điểm là Thiên Chúa, và đây là một sự phong phú mà tôi muốn nói đến trong dịp nêu câu hỏi trên đây. Một lần, khi nói với Giáo Hội Tây phương, thuộc Tây Âu, nhất là Giáo Hội trưởng thành hơn đúng không, người ta nói với tôi câu này: ”Lux ex oriente, et occidente luxus”, ánh sáng thì từ phương Đông, và từ phương Tây là xa hoa.” Chủ thuyết tiêu thụ, sự phúc lợi đã làm hại chúng ta biết bao nhiêu. Trái lại, bên quý vị đã biết bảo toàn nét đẹp của Thiên Chúa làm tâm điểm, đúng không, làm điểm quy chiếu... Khi đọc nhà văn Dostoevskij, tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta phải đọc đi đọc lại tác giả này vì ông có một sự khôn ngoan trời biển... Người ta cảm nhận được đâu là linh hồn Nga, linh hồn đông phương. Đây là điều thật tốt lành cho cả chúng ta nữa. Chúng ta cũng cần sự canh tân này, cần làn khí mát mẻ đến từ phương đông, cần ánh sáng này của phương Đông. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết như thế trong Tông Thư của Ngài, phải không. Nhưng đã bao lần sự xa hoa của Tây phương đã làm cho chúng ta mất hướng chân trời. Tôi không biết, trong lúc này đây là điều tôi có thể nói. Xin cám ơn.

Cha Lombardi nói bây giờ chúng ta kết thúc với Valentina, người đã khởi đầu trên chuyến bay đi và bây giờ, kết thúc trên chuyến bay về.

HỎI: Kính thưa Đức Thánh Cha, cám ơn Đức Thánh Cha đã giữ lời hứa trả lời các câu hỏi của chúng con trên đường về.....

ĐÁP: Tôi đã làm trễ bữa tối của mọi người.....

HỎI: Không sao cả, không sao cả. Câu hỏi của con, từ phía tất cả mọi người Mêhicô, là bao giờ Đức Thánh Cha đi Guadalupe?.... Đó là câu hỏi của người Mêhicô. Còn câu hỏi của con nghiêm chỉnh hơn: Đức Thánh Cha sẽ chủ sự lễ phong thánh cho hai vị đại Giáo Hoàng, Đức Gioan 23 và Đức Gioan Phaolô II. Con muốn biết, theo Đức Thánh Cha, đâu là mẫu gương nên thánh phát xuất từ hai vị này và đâu là tác động ảnh hưởng mà hai vị đã có trên Giáo Hội và trên Đức Thánh Cha?

ĐÁP: Đức Gioan 23 là một chút hình ảnh của vị ”linh mục làng quê”, vị linh mục yêu thương từng tín hữu một, biết chăm sóc mọi tín hữu và ngài đã làm điều này trong nhiệm vụ Giám Mục, trong nhiệm vụ sứ thần. Có bao nhiêu chứng tá về các vụ Rửa Tội giả ngài đã làm bên Thổ Nhĩ Kỳ để cứu người do thái. Ngài là một người can đảm, một ông cha nhà quê tốt lành, với một tâm thức hài hước hóm hỉnh thật lớn, thật vĩ đại và một sự thánh thiện vô cùng. Khi ngài là Sứ Thần, tại Tòa Thánh Vatican có một số người không ưa ngài. Vì thế, khi ngài đến trình giấy tờ hay hỏi han ý kiến tại một số văn phòng, thì người ta bắt ngài phải chờ. Không bao giờ ngài than vãn một lời, ngài lần chuỗi Mân Côi cầu nguyện, ngài đọc sách Thần Vụ chứ không bao giờ than vãn.... Một con người hiền lành, khiêm hạ và cũng là một người lo lắng săn sóc cho người nghèo. Khi gặp Đức Cha Casaroli trở về sau một sứ vụ, tôi nghĩ là tại Hungari hay là tại Tiệp Khắc hồi đó tôi không còn nhớ rõ là tại nước nào trong hai quốc gia này, Đức Cha đã xin hội kiến với Đức Gioan 23 để trình bày về sứ vụ này trong thời buổi ngoại giao ”từng bước nhỏ” ấy. Cuộc hội kiến đã diễn ra - 20 ngày sau đó, Đức Gioan 23 qua đời - và khi Đức Cha Casaroli kiếu từ, Đức Gioan 23 gọi giật lại ”À thế Đức Hồng Y, không không phải Đức Hồng Y, thế Đức Cha vẫn tiếp tục đi thăm những người trẻ ấy chứ?” Bởi vì Đức Cha Casaroli thường hay đến nhà giam thiếu niên Casal De Marmo của thành phố Roma để thăm viếng chơi đùa với các tù nhân tại đó. Đức Cha Casaroli đáp: ”Dạ còn, dạ còn”. ”Đừng bao giờ bỏ rơi họ nhé”. Đó là với một nhà ngoại giao, vừa về sau một sứ vụ ngoại giao, chuyến đi vất vả khó khăn, Đức Gioan 23 nhắc nhở ”Đừng bao giờ bỏ rơi bọn trẻ”. Thật là một người vĩ đại, thật vĩ đại. Rồi còn Công Đồng Chung: ngài là người ngoan ngoãn nghe theo tiếng nói của Thiên Chúa, phát xuất qua Chúa Thánh Thần, đến với Ngài và Ngài đã nghe theo. Đức Pio XII đã nghĩ phải triệu tập Công Đồng chung, nhưng hoàn cảnh lúc ấy không thuận lợi, chưa chín mùi để thực hiện điều này. Tôi tin rằng Đức Gioan 23 đã không nghĩ đến hoàn cảnh, ngài nghe thấy tiếng gọi và đã thực hiện thánh ý Chúa ngay. Ngài là người biết để cho Thiên Chúa hướng dẫn. Còn về Đức Gioan Phaolô II thì tôi nghĩ Ngài là một nhà truyền giáo lớn của Giáo Hội, ngài là nhà truyền giáo, là vị thừa sai, là người đã mang Tin Mừng đến mọi nơi, quý vị biết rõ hơn tôi nhiều về điểm này. Mà bà đã đi bao nhiêu chuyến rồi? Bà thường đi chứ? Đức Gioan Phaolô II cảm thấy bị nung nấu bởi ngọn lửa thúc đẩy rao giảng Lời Chúa, đúng không. Ngài là một Phaolô mới, một thánh Phaolô, một người như thế, đối với tôi là một vĩ nhân. Và thực hiện nghi lễ tôn phong hiển thánh chung cho cả hai vị, theo tôi, là một sứ điệp gửi đến toàn thể Giáo Hội: Hai vị là những người tốt lành, thật tốt lành, rất tốt lành. Nhưng mà cũng còn tiến trình phong chân phước cho cả Đức Phaolô VI và Đức Giáo Hoàng Luciani nữa nhé, hai hồ sơ này đang được tiến hành.

Nhưng còn một điều nữa mà tôi nghĩ rằng tôi đã nói đến, không rõ là ở đây hay ở một nơi khác: ngày tôn phong hiển thánh mà người ta nói là ngày 8 tháng 12 năm nay. Nhưng có một vấn đề lớn, những tín hữu đến từ Ba Lan, những người nghèo chứ không phải người giàu, người có phương tiện thì họ đi máy bay, còn người nghèo thì phải đi xe ca và vào tháng 12, đường xá đã đóng băng đá rồi. Tôi nghĩ rằng phải dời lại ngày giờ. Tôi đã nói chuyện với Đức Hồng Y Dziwisz và ngài đề nghị hai thời điểm có thể: một là lễ Chúa Kitô Vua năm nay, hai là Chúa Nhật kính lòng thương xót Chúa năm tới. Tôi nghĩ rằng còn quá ít thời giờ cho lễ Chúa Kitô Vua năm nay, bởi vì giữa mật nghị phong thánh ngày 30 tháng 9 và cuối tháng 10 còn quá ít thời giờ, không biết, để xem, tôi còn phải nói chuyện với Đức Hồng Y Amato về vấn đề này. Nhưng tôi nghĩ rằng không thể làm vào ngày 8 tháng 12 được.

HỎI: Nhưng hai vị sẽ được tôn phong hiển thánh một lần?

ĐÁP: Cả hai vị chung một lần, đúng thế.

Cha Lombardi nói ”Cám ơn Đức Thánh Cha, Bây giờ còn ai nữa. Ilse à? Sau đó, là hết mọi người phải không? Cả những người không có ghi danh trước nữa...

HỎI: Con xin phép được hỏi một câu hơi tế nhị: có một hình ảnh khác cũng đang đi vòng quanh thế giới, đó là hình ảnh của Đức Ông Ricca và những tin tức về liên hệ sâu kín của vị này. Con muốn biết là Đức Thánh Cha sẽ làm gì cho vấn đề này? Đức Thánh Cha sẽ giải quyết vấn đề này thế nào và làm sao để giải quyết vấn đề lobby đồng tính?

ĐÁP: Vấn đề Đức Ông Ricca: tôi đã làm điều mà bộ Giáo Luật buộc phải làm tức là investigatio previa, điều tra trước đó. Và từ cuộc điều tra này, không có gì liên quan đến những lời buộc tội mới đây, chúng tôi không tìm thấy gì cả. Đây là câu trả lời. Nhưng tôi còn muốn nói thêm một điều nữa về điểm này: quá nhiều khi trong Giáo Hội, tôi thấy, ngoài trường hợp này và cả trong trường hợp này nữa, người ta hay đi tìm những dấu vết tội lỗi thời tuổi trẻ, chẳng hạn, đúng không, và rồi công bố chúng ra. Không phải là tội phạm nghe. Tội phạm là chuyện khác. Lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên là một tội phạm. Không, đây là tội lỗi thôi. Nhưng nếu một người, dù là giáo dân hay linh mục hoặc nữ tu, đã phạm tội và hối cải, thì Thiên Chúa tha thứ, và khi Thiên Chúa đã tha thứ, thì Thiên Chúa quên đi và điều này thật quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta. Khi chúng ta đi xưng tội và chúng ta thật lòng thưa ”Con đã phạm tội này”, Thiên Chúa quên đi tội lỗi của chúng ta và thế là chúng ta không có quyền không quên, bởi vì chúng ta có thể gặp nguy cơ Thiên Chúa cũng không quên tội lỗi của chúng ta nữa. Đây là một mối nguy có thực đấy. Điều này rất quan trọng: là thần học về tội lỗi đấy. Nhiều lần tôi nghĩ đến Thánh Phêrô: thánh nhân đã phạm một trong những tội trọng nhất, là tội chối Chúa, và rồi với tội lỗi này, thánh nhân được gọi làm Giáo Hoàng. Chúng ta phải suy nghĩ nhiều về việc này. Trở lại câu hỏi nêu lên, trong trường hợp này, tôi đã cho điều tra trước và chúng tôi đã không tìm ra gì cả. Đó là câu hỏi đầu tiên.

Rồi đến câu về Lobby đồng tính. Người ta nói quá nhiều về cái gọi là lobby đồng tính này. Tôi chưa tìm thấy một ai trình thẻ căn cước có ghi là người đồng tính trong Vatican. Người ta nói là có nhiều mà. Tôi thì tôi nghĩ rằng nếu tìm thấy một người như thế, thì phải phân biệt sự kiện một người đồng tính với sự kiện một lobby, bởi vì tất cả các lobby không phải là điều tốt. Đó là điều xấu. Nếu một người là người đồng tính và đang kiếm tìm Thiên Chúa và có thiện chí, thì tôi là ai mà tự cho mình quyền phán xét người ấy? Sách Giáo Lý của Giáo Hội công giáo giải thích thật hay điều này nói là... đợi chút nhé, nói là ...”không được cô lập những người này vì thế, nhưng phải hội nhập họ vào trong xã hội cách toàn vẹn. Vấn đề không phải ở chỗ họ có khuynh hướng đồng phái, tất cả chúng ta phải là anh chị em với nhau, vấn đề là cái khác, là ở chỗ làm thành lobby, lobby những người có khuynh hướng này, hay lobby người keo kiệt, lobby các nhà chính trị, lobby tam điểm. Đây mới là vấn đề trầm trọng hơn nhiều, đối với tôi. Và tôi cám ơn quý vị rất nhiều đã đặt câu hỏi này cho tôi. Xin cám ơn nhiều.

Cha Lombardi đã cám ơn tất cả và khẳng định rằng không thể làm hơn thế được. Chúng ta đã lợi dụng Đức Thánh Cha quá nhiều dù Ngài đã nói là hơi mệt. Và bây giờ chúng ta chúc ngài nghỉ ngơi một chút.

Đức Thánh Cha: Cám ơn tất cả quý vị, chúc quý vị ngủ ngon.

(SD 29-7-2013)

Linh Tiến Khải - Mai Anh

(www.vi.radiovaticana.va)


Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

AUGUST 02, 2013 : FRIDAY OF THE SEVENTEENTH WEEK IN ORDINARY TIME

Friday of the Seventeenth Week in Ordinary Time 
Lectionary: 405

The LORD said to Moses,
“These are the festivals of the LORD which you shall celebrate
at their proper time with a sacred assembly.
The Passover of the LORD falls on the fourteenth day of the first month,
at the evening twilight.
The fifteenth day of this month is the LORD’s feast of Unleavened Bread.
For seven days you shall eat unleavened bread.
On the first of these days you shall hold a sacred assembly
and do no sort of work.
On each of the seven days you shall offer an oblation to the LORD.
Then on the seventh day you shall again hold a sacred assembly
and do no sort of work.”

The LORD said to Moses, “Speak to the children of Israel and tell them:
When you come into the land which I am giving you,
and reap your harvest,
you shall bring a sheaf of the first fruits of your harvest
to the priest, who shall wave the sheaf before the LORD
that it may be acceptable for you.
On the day after the sabbath the priest shall do this.

“Beginning with the day after the sabbath,
the day on which you bring the wave-offering sheaf,
you shall count seven full weeks,
and then on the day after the seventh week, the fiftieth day,
you shall present the new cereal offering to the LORD.

“The tenth of this seventh month is the Day of Atonement,
when you shall hold a sacred assembly and mortify yourselves
and offer an oblation to the LORD.

“The fifteenth day of this seventh month is the LORD’s feast of Booths,
which shall continue for seven days.
On the first day there shall be a sacred assembly,
and you shall do no sort of work.
For seven days you shall offer an oblation to the LORD,
and on the eighth day you shall again hold a sacred assembly
and offer an oblation to the LORD.
On that solemn closing you shall do no sort of work.

“These, therefore, are the festivals of the LORD
on which you shall proclaim a sacred assembly,
and offer as an oblation to the LORD burnt offerings and cereal offerings,
sacrifices and libations, as prescribed for each day.”
Responsorial PsalmPS 81:3-4, 5-6, 10-11AB
R. (2a) Sing with joy to God our help.
Take up a melody, and sound the timbrel,
the pleasant harp and the lyre.
Blow the trumpet at the new moon,
at the full moon, on our solemn feast.
R. 
Sing with joy to God our help.
For it is a statute in Israel,
an ordinance of the God of Jacob,
Who made it a decree for Joseph
when he came forth from the land of Egypt.
R. 
Sing with joy to God our help.
There shall be no strange god among you
nor shall you worship any alien god.
I, the LORD, am your God
who led you forth from the land of Egypt.
R. 
Sing with joy to God our help.
Jesus came to his native place and taught the people in their synagogue.
They were astonished and said,
“Where did this man get such wisdom and mighty deeds?
Is he not the carpenter’s son?
Is not his mother named Mary
and his brothers James, Joseph, Simon, and Judas?
Are not his sisters all with us?
Where did this man get all this?”
And they took offense at him.
But Jesus said to them,
“A prophet is not without honor except in his native place
and in his own house.”
And he did not work many mighty deeds there
because of their lack of faith.


Meditation: "They took offense at Jesus"
Are you critical towards others, especially those who are close to you? The most severe critics are often people very familiar to us, a member of our family, a relative, neighbor, student, or worker we rub shoulders with on a regular basis. Jesus faced a severe testing when he returned to his home town, not simply as the carpenter's son, but now as a rabbi with disciples. It would have been customary for Jesus to go to the synagogue each week during the Sabbath, and when his turn came, to read from the scriptures during the Sabbath service. His hometown folks listened with rapt attention on this occasion because they had heard about the miracles he had performed in other towns. What sign would he do in his hometown? Jesus startled them with a seeming rebuke that no prophet or servant of God can receive honor among his own people. The people of Nazareth took offense at him and refused to listen to what he had to say. They despised his preaching because he was a carpenter from the working class, and a mere layman untrained by religious scholars. They also despised him because of his family background. After all, Joseph was a tradesman as well and Mary had no special social distinctions.
How easily familiarity breeds contempt. Jesus could do no mighty works in his hometown because the people who were familiar with him were closed-minded and despised his claim to speak and act in the name of God. If people come together to hate and refuse to understand others different than themselves, then they will see no other point of view than their own and they will refuse to love and accept others. How do you view those who are familiar to you? With kindness and respect or with a critical and judgmental spirit?
The Lord Jesus offers us freedom from sin, prejudice, contempt, and fear. His love and grace sets us free to love others with the same grace and mercy which he has shown to us. Only Jesus can truly set us free from the worst tyranny possible — slavery to sin and the fear of death. His victory on the cross brings us pardon and healing, and the grace to live holy lives by the power of the Holy Spirit. Do you know the joy and freedom which Christ's love brings to our hearts?
"Lord Jesus, your love conquers every fear and breaks the power of hatred and prejudice. Flood my heart with your mercy and compassion, that I may treat my neighbor with the same favor and kindness which you have shown to me."
www.dailyscripture.net

Lack of Faith
Friday of the Seventeenth Week in Ordinary Time
Matthew 13:54-58
Jesus came to his native place and taught the people in their synagogue. They were astonished and said, "Where did this man get such wisdom and mighty deeds? Is he not the carpenter´s son? Is not his mother named Mary and his brothers James, Joseph, Simon, and Judas? Are not his sisters all with us? Where did this man get all this?" And they took offense at him. But Jesus said to them, "A prophet is not without honor except in his native place and in his own house." And he did not work many mighty deeds there because of their lack of faith.
Introductory Prayer: Lord, I believe in your power. I know that you are the Lord of all history. I trust that you are guiding my life. Thank you for showing me that you will triumph. Thank you for the triumph you have already achieved in my heart and in the hearts of so many people. I want to allow you to have total control over my life.
Petition: Lord, increase my faith in you.
1. Too Much Familiarity: The people of Nazareth thought they knew all about Jesus. He had grown up among them. Apparently they had not seen anything extraordinary about him before he started his public ministry. They thought he was just like everyone else. So when they hear that he is doing miracles and teaching with authority, they do not believe it. Sometimes I also run the danger of putting limits on Christ’s power in my life. I see the unimpressive circumstances of my life and the recurrence of the same old problems. I do not believe that Christ can do something supernatural in the midst of an ordinary situation. Today I am receiving an invitation to step beyond the routine and believe more deeply in the power of Christ.
2. An Unwelcome Prophet: The solution to their deepest problems was in their own backyard. Yet, the people of Nazareth felt that such a familiar figure could not bring anything extraordinary. When the Church sometimes challenges me with some of her teachings – on charity, on family life, on the need to be a courageous witness –, do I sometimes find excuses, like saying that my circumstances are too difficult, or the Church does not understand my situation? Do I sometimes let the prophetic voice of the Church die in my heart? When I feel challenged by the Gospel and by the Church I should be thankful. Christ is inviting me to discover the deepest meaning of my life. He is giving me a chance to allow his presence to make a deep change in my life. He is allowing me to discover him in faith and is taking me beyond my comfort zone to the level of the coming of his Kingdom.

3. A Miracle Worker in Waiting: What sort of miracles does Christ want to do in my life? Christ has a plan to make my life a luminous witness to the power of his grace. He wants to fill my life with his holiness and help me be a light for others. If I can shake off my superficiality and lack of faith, I will discover the powerful presence of the Savior who helps me live each moment with depth and love. He can do miracles in my life. He can help me live the virtues which are most costly for me. Am I willing to take a risk for Christ and trust him totally?
Conversation with Christ: Lord, I know you want to do great things in my life. Help me to see how you can transform the ordinary, seemingly unimportant circumstances of my day into moments when your grace triumphs. Enable me to be docile to your Holy Spirit, so he can do miracles in my life.
Resolution: I will increase my faith in Christ by taking a risk for him in some aspect of my spiritual or apostolic life.
www.regnumchristi.org
FRIDAY, AUGUST 2
MATTHEW 13:54-58


(Leviticus 23:1, 4-11, 15-16, 27, 34b-37; Psalm 81)
KEY VERSE: "A prophet is not without honor except in his native place and in his own house" (v 57).
READING: Chapters 13:54 ̶ 17:27 of Matthew's gospel has been given the title: "The Kingdom of God and the Church." God's kingdom was clearly visible in the person of Jesus Christ, Son of God and Son of Man. When Jesus finished his teachings in the towns around the Lake of Galilee, he returned to Nazareth where he was raised. His neighbors were astonished by his teaching and mighty deeds, but they were also skeptical. Jesus was a "hometown boy," and they took offense at his presumption in telling them how to live their lives. Jesus was rejected like the prophets before him. Because his neighbors lacked faith in him, he was unable to perform many miracles there. 
REFLECTING: Do I see God at work among my friends and neighbors?
PRAYING: Lord Jesus, help me to be open to hearing truth from the teachings of the Church.

Optional Memorial of Eusebius of Vercelli, bishop

Eusebius was made lector in Rome, where he lived some time, probably as a member or head of a religious community. Later he came to Vercelli, and in 340 was unanimously elected bishop of that city by the clergy and the people. He received episcopal consecration at the hands of Pope Julius I on 15 December of the same year. According to the testimony of St. Ambrose he was the first bishop of the West who united monastic with clerical life. He led a common life with the clergy of his city modeled upon that of the Eastern cenobites. For this reason the Canons Regular of St. Augustine honor him along with St. Augustine as their founder. 




Optional Memorial of Peter Julian Eymard, priest

Peter Julian Eymard  had a strong Marian devotion. He organized lay societies under the direction of the Marists, preached and taught, and worked for Eucharistic devotion. He founded the Congregation of the Blessed Sacrament in 1856, and the lay Servants of the Blessed Sacrament in 1858 and a sister congregation for women. Peter's work encountered a series of setbacks, however his vision of priests, deacons, sisters, and lay people dedicated to the spiritual values celebrated in the Mass and Blessed Sacrament anticipated many of the renewals brought about by Vatican Councils I and II.
www.daily-word-of-life.com




Sing with joy to God our help 
He did not do many miracles there, because of their lack of faith.
Faith is often a difficult concept to grasp, yet without faith ‘it is impossible to please God’. (Hebrews 11:6). In essence, ‘faith is being sure of what we hope for and certain of what we do not see’ (Hebrews 11:1). We do not often read of Jesus performing miracles when the people did not believe. Faith then is the key that unlocks the power of God for us.

The opposite of faith is self-sufficiency, which prevents us from being open to God’s work in our lives. Do we neglect prayer and scripture because we are too busy doing things according to our own plans and ways? Are we like those who doubted that God could work in their lives? Lord, help us to believe.

www.churchresources.info

August 2
Dedication of the Chapel of Our Lady of the Angels

Francis rebuilt this chapel with his own hands and died less than fifty feet away from it.

The chapel of Our Lady of the Angels, down the hill from the walled city of Assisi, was built out of devotion but had deteriorated by the time of Francis' conversion (1206). Although it belonged to the Benedictine monks on nearby Mount Subasio, few people then lived close to the Portiuncula, "Mary's little portion."

After having rebuilt the small churches of San Damiano and later San Pietro, which no longer exists, Francis rebuilt this chapel. In time, it would be called the "cradle of the Franciscan family," important to the friars, the Poor Clares, Secular Franciscans, and members of the Third Order Regular.

While attending Mass here one day, Francis heard a reading from the Gospel of Matthew; Jesus was sending out the apostles without gold, silver, or money; they were not to carry a traveling bag, food, or a walking staff and were not to wear sandals or have two tunics. Instead, they should preach the kingdom of God and penance. Francis exclaimed, "This is what I wish; this is what I seek; this is what I long to do with all my heart" (1 Celano, #22).

A few years later, Francis and the other friars received the Lady Clare here on Palm Sunday evening (1212), gave her a religious garb, and cut her hair as a sign of entrance into a new way of life. The Benedictines gave Francis the chapel, which soon became his headquarters; here the friars assembled in annual chapters to report on what they had accomplished with God's grace and to decide on new territories for evangelizing. Here Francis resigned in 1221 as minister general of the friars. Because this chapel had a special role in Francis' conversion, it became a place very special to members of the Secular Franciscan Order. A few feet from this chapel, Francis died just after sunset on October 3, 1226.

By that time, Francis had gained from Pope Honorius III the "Pardon of Assisi," a plenary indulgence (under the usual conditions of prayer, confession, and reception of the Eucharist) for everyone who visited and prayed in this small chapel on the anniversary of its dedication (August 2). In 1569, construction began on the basilica that now surrounds the chapel. The hillside city of Assisi has stopped growing geographically; expansion now occurs on the plain near Our Lady of the Angels Basilica. Thousands of pilgrims come here every year to pray for their own intentions, for family needs, and for reconciliation throughout the world. On October 27, 1986, Pope John Paul II and 235 leaders of the world's major religions began their Day of Prayer for World Peace with a prayer service in front of this tiny chapel.


Comment:

In this chapel, Francis of Assisi began to understand more about the truth of his life, his service of God, and how both of those connect with service to other people. Truth and forgiveness provide the only lasting foundations for genuine peace.
Quote:

On that Day of Prayer for World Peace, Pope John Paul II said at the Portiuncula: "I have chosen this town of Assisi as the place for our Day of Prayer for Peace because of the particular significance of the holy man venerated here–Saint Francis–known and revered by so many throughout the world as a symbol of peace, reconciliation, and brotherhood. Inspired by his example, his meekness and humility, let us dispose our hearts for prayer in true internal silence."
www.americancatholic.org

LECTIO: MATTHEW 13,54-58
Lectio: 
 Friday, August 2, 2013  
Ordinary Time

1) Opening prayer
God our Father and protector,
without you nothing is holy,
nothing has value.
Guide us to everlasting life
by helping us to use wisely
the blessings you have given to the world.
We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son,
who lives and reigns with you and the Holy Spirit,
one God, for ever and ever. Amen.

2) Gospel Reading - Matthew 13,54-58
Coming to his home town, Jesus taught the people in their synagogue in such a way that they were astonished and said, 'Where did the man get this wisdom and these miraculous powers? This is the carpenter's son, surely? Is not his mother the woman called Mary, and his brothers James and Joseph and Simon and Jude? His sisters, too, are they not all here with us? So where did the man get it all?' And they would not accept him. But Jesus said to them, 'A prophet is despised only in his own country and in his own house,' and he did not work many miracles there because of their lack of faith.

3) Reflection
• The Gospel today tells us the visit of Jesus to Nazareth, his native community. Passing through Nazareth was painful for Jesus. What was his community at the beginning, now it is no longer so. Something has changed. Where there is no faith, Jesus can work no miracles.
• Matthew 13, 53-57ª: The reaction of the people of Nazareth before Jesus. It is always good for people to go back to their land. After a long absence, Jesus also returns, as usual, on a Saturday, and he goes to the meeting of the community. Jesus was not the head of the group, but just the same he speaks. This is a sign that persons could participate and express their own opinion. People were astonished. They did not understand Jesus’ attitude: "Where did the man get this wisdom and these miraculous powers?” Jesus, son of that place, whom they knew since he was a child, how is that now he is so different? The people of Nazareth were scandalized and do not accept him: “This is the carpenter’s son, surely? The people do not accept the mystery of God present in a common man as they are, as they had known Jesus. In order to speak about God he should be different. As one can see, not everything was positive. The persons, who should have been the first ones to accept the Good News, are the first ones to refuse to accept it. The conflict is not only with foreigners, but also with his relatives and with the people of Nazareth. They do not accept because they cannot understand the mystery envelops Jesus: “Is not his mother, the woman called Mary, and his brothers James and Joseph and Simon and Jude? And his sisters too, are they not all here with us? So where did the man get it all?” They are not able to believe.
• Matthew 13, 57b-58: Reaction of Jesus before the attitude of the people of Nazareth. Jesus knows very well that “no one is a prophet in his own country”. And he says: A prophet is despised only in his own country and in his own house”. In fact, where there is neither acceptance nor faith, people can do nothing. The prejudice prevents it. Jesus himself, even wanting, can do nothing. He was astonished before their lack of faith.
• The brothers and sisters of Jesus. The expression “brothers of Jesus” causes much polemics between Catholics and Protestants. Basing themselves in this and in other texts, the Protestants say that Jesus had many brothers and sisters and that Mary had more children! Catholics say that Mary did not have any other children. What can we think about this? In the first place, both positions, that of Catholics as well as that of Protestants, contain arguments taken from the Bible and from the Tradition of their respective Churches. For this reason, it is not convenient to discuss this question with arguments which are only intellectual, because it is a question of profound convictions, which have something to do with faith and with the sentiments of both and of each one. The argument which is only intellectual cannot change a conviction of the heart! It only irritates and draws away! Even if I do not agree with the opinion of others, I have to respect it. In the second place, instead of discussing around texts, all of us, Catholics and Protestants, should unite ourselves much more to fight for the defence of life, created by God, a life so disfigured by poverty, injustice, lack of faith. We should recall some other phrases of Jesus. “I have come so that they may have life and life to the full” (Jn 10, 10). “That all may be one, so that the world may believe that you, Father, has sent me” (Jn 17, 21). “Do not prevent them! Anyone who is not against us is for us” (Mk 10, 39.40)

4) Personal questions
• In Jesus something changed in his relationship with the Community of Nazareth. Since you began to participate in the community, has something changed in your relationship with the family? Why?
• Has participation in the community helped you to accept and to trust persons, especially the more simple and the poorest?

5) Concluding Prayer
For myself, wounded wretch that I am,
by your saving power raise me up!
I will praise God’s name in song,
I will extol him by thanksgiving. (Ps 69, 29-30)
www.ocarm.org