Trang

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014

Pope Francis to Albania: Full schedule

Pope Francis to Albania: Full schedule

(Vatican Radio) The Holy See has announced the schedule for Pope Francis’ Apostolic Voyage to Albania, set for 21 September 2014. It will be the second visit of a Pope to Albania, after Pope St John Paul II’s visit to the country in 1993.
Pope Francis trip will begin with a welcoming ceremony at Tirana’s “Mother Teresa” international airport, where he will be greeted by Albanian Prime Minister Edi Rama. From the airport the Pope will travel to the Presidential Palace where he will pay a courtesy visit to the President, Bujar Nishani. Afterwards he will address representatives of the civil authorities.
The high point of the Voyage will be the celebration of the Holy Sacrifice of the Mass in Mother Teresa Square, followed by the recitation of the Angelus. After Mass, the Holy Father will meet with the Bishops of Albania for lunch at the Apostolic Nunciature.
In the afternoon, Pope Francis will meet with leaders of other religions and other Christian denominations at the Catholic University “Our Lady of Good Counsel.”
The Holy Father will travel to the Cathedral of St Paul in the evening to celebrate Vespers with priests, religious sisters and brothers, seminarians, and members of various lay movements.
The final event on a busy schedule will be a meeting with children of the “Centro Betania,” along with representatives from other charitable institutions of Albania.
Although Pope Francis’ Apostolic Voyage will be only the second visit by a reigning Pope, four other Roman Pontiffs have ties to the country: Pope St Eleutherius, Pope St Caius, and Pope John IV were all born in what is now Albania, while the ancestors of Pope Clement XI also hailed from the country.


CHƯƠNG TRÌNH CHUYẾN VIẾNG THĂM ALBANIA CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

CHƯƠNG TRÌNH CHUYẾN VIẾNG THĂM ALBANIA CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

VATICĂNG: Sáng 31-7-2014 Phòng báo chí Tòa Thánh đã công bố chương trình chuyến Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm mục vụ Albania vào ngày 21-9-2014.

Sáng Chúa Nhật 21-9-2014 lúc 7 giớ rưỡi Đức Thánh Cha sẽ rời phi trường Fiumicino để bay sang Tirana, và sẽ tới phi trường ”Mẹ Têrêxa” lúc 9 giờ. Lúc 9 giờ 30 lễ nghi chào đón sẽ diễn ra tại Dinh tổng thổng trong thủ đô Tirana. Sau khi chào thăm và hội kiến với tổng thống tại Thư phòng Xanh, lúc 10 giờ Đức Thánh Cha gặp gỡ hàng lãnh đạo Albania. Sau đó lúc 11 giớ Đức Thánh Cha cử hành Thánh Lễ và đọc kinh Truyền Tin với tín hữu tại quảng trường Mẹ Têrexa. Lúc 13 giờ 30 ngài dùng bữa trưa với các Giám Mục Albania và đoàn tùy tùng tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh.

Ban chiều lúc 16 giờ Đức Thánh Cha gặp gỡ các vị lãnh đạo các Giáo Hội Kitô và các tôn giáo khác trong đại học công giáo ”Đức Bà Cố vấn”. Lúc 17 giờ ngài chủ sự buổi hát kinh chiều với các linh mục tu sĩ nam nữ, chủng sinh và thành viên các phong trào giáo dân trong nhà thờ chính tòa Tirana.

Lúc 18 giờ 30 Đức Thánh Cha gặp gỡ các trẻ em và phái đoàn đại diện các thành viên của các trung tâm bác ái khác trong nhà nguyện trung tâm Betania.

Lúc 19 giờ 45 lễ nghi tiễn biệt sẽ diễn ra tại phi trường quốc tế Mẹ Têrêxa. Máy bay chở Đức Thánh Cha sẽ rời phi trường lúc 20 giờ và về tới phi trường Ciampino của Roma lúc 21.30 (SD 31-7-2014)

Linh Tiến Khải 

XIN CẢM TẠ DANH THIÊN CHÚA, VÌ NGÀI VẪN THÀNH TÍN YÊU THƯƠNG!

XIN CẢM TẠ DANH THIÊN CHÚA, VÌ NGÀI VẪN THÀNH TÍN YÊU THƯƠNG!

... Thứ bảy 3-5-2014 tu huynh Damien Debaisieux - đan sĩ Xitô thuộc Đan Viện Scourmont ở Chimay bên Vương Quốc Bỉ - được truyền chức Linh Mục. Tân Linh Mục người Pháp. Vào cuối buổi lễ Cha Damien ngỏ lời với cộng đoàn bày tỏ niềm hạnh phúc của một Linh Mục. Chứng từ như lời mời gọi mọi người cùng dâng lời cảm tạ THIÊN CHÚA về hồng ân Linh Mục. Xin nhường lời cho Cha Damien Debaisieux.

Nếu anh chị em có mặt cách đây bốn năm vào dịp lễ khấn dòng của tôi, hẳn anh chị em còn nhớ phản ứng của tôi. Phản ứng đó là lúc còn niên thiếu, khi lần đầu tiên đặt chân đến Đan Viện Xitô Scourmont, tôi đã long trọng tuyên bố: ”Một điều chắc chắn là con sẽ không bao giờ trở thành đan sĩ!”. Nhưng lúc ấy tôi lại không nói với anh chị em rằng, hồi nhỏ, mỗi khi người ta hỏi tôi sẽ làm gì khi lớn lên, nếu tôi không trả lời làm nghề nông, thì tôi thường hãnh diện trả lời: ”Con sẽ làm linh mục!”.

Song Thân và gia đình tôi luôn luôn tiếp nhận câu trả lời với niềm kính trọng và để tôi thong dong tiến bước trên đường đời như một ông cụ non! Trong khi đó thì những người khác mỗi lần nghe câu trả lời thường mỉm cười tỏ vẻ hoài nghi, bởi lẽ họ thầm nghĩ: ”Rồi sẽ qua đi những ước vọng trẻ thơ!”. Tôi cũng không thành công bao nhiêu với các bạn cùng tuổi thơ mỗi lần có dịp nói đến dự phóng tương lai sẽ trở thành linh mục. Có lẽ vì thế mà dần dần tôi không dám công khai đề cập đến ước muốn trở thành linh mục nữa vì sợ bị chế diễu nhạo cười.

Đứa bé muốn trở thành linh mục ấy nghĩ rằng mình đã đạt cú thành công, khi vào năm 20 tuổi, tôi có một cuộc hẹn với Cha Giám Đốc Chủng Viện. Nhưng tôi lại không tính trước là tôi đã bỏ rơi cuộc hẹn. Lý do là vì năm ấy tôi 20 tuổi và một cuộc đời đang mở rộng trước mắt. Vài năm sau tôi có thể khôi hài kể lại câu chuyện đứa bé đó và khẳng định đây là ”câu chuyện ngày xưa còn bé” và dĩ nhiên là anh chị em có thể đoán được là tôi nói: ”Tôi sẽ không bao giờ trở thành linh mục!!!”.

Tiếng Chúa Gọi lại trồi lên vào năm tôi 27 tuổi sau một tuần tĩnh tâm tại Đan Viện Xitô này nơi tôi đến để gọi là ”cho Chúa một cơ may cuối cùng”. Một năm sau, đứa bé thành công, khi tôi chính thức gia nhập Chủng Viện.

Đến năm 33 tuổi, tôi bất ngờ đổi hướng đi khi chọn đời sống đan tu. Chuyện trở thành linh mục được dời lại về sau, và có lẽ sẽ không bao giờ xảy ra.. Thế rồi, ngày hôm nay - bước vào tuổi 42 - Cộng Đoàn Đan Tu Xitô cho tôi ân huệ được trở thành linh mục. Tôi chân thành tri ân Cộng Đoàn. Về phần đứa bé, hẳn nó có thể hãnh diện nói: ”Con đã nói trước với quý vị rồi mà!”.

Tuy nhiên cần phải minh xác hai điều quan trọng.

Thứ nhất, nếu lúc nhỏ tôi từng muốn trở thành linh mục, thì không có nghĩa là điều này đã được viết trên Trời, rằng tôi không có chọn lựa nào khác và chắc chắn là chúng ta phải quy tụ lại nơi đây hôm nay. Không! Không phải thế! THIÊN CHÚA không hề đòi buộc tôi điều gì cả. Ngài chỉ trao hiến Tình Yêu Ngài cho tôi và khi quyết định dấn thân vào đời sống đan tu Xitô, là tôi chọn việc đáp lại Tiếng Gọi của Chúa.

Minh xác thứ hai. Điều chúng ta đang sống ngày hôm nay không phải là chuyện thành hình một giấc mơ trẻ thơ, nhưng là món quà ân phúc cho toàn thể Giáo Hội của Chúa. Tôi không trở thành linh mục cho riêng tôi, nhưng là để phục vụ Cộng Đoàn tôi, phục vụ Hội Thánh và phục vụ tất cả mọi người. Tôi không ở vào chặng cuối một giấc mơ như đứng trước khoảng trống không. Không! Hôm nay cũng như hôm qua và ngày mai, luôn luôn có cùng một

câu hỏi mà tôi tự đặt ra cũng như từng người trong chúng ta tự đặt ra rằng: ”Lạy Chúa, Chúa muốn cho con làm gì???”. Và câu Chúa trả lời mãi mãi giống nhau đó là: ”Con hãy yêu!”.

Đúng thế. Tôi có thể quả quyết rằng tôi thật hạnh phúc được trở thành linh mục, bởi vì tôi là linh mục của một THIÊN CHÚA, lại một lần nữa, tỏ lộ Ngài trung tín với lời Ngài hứa, với giao ước của Ngài. Và chính sự trung tín này không ngừng cật vấn tôi, không ngừng kêu gọi chúng ta.

... ”Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ, Ngài đã nghe lời miệng con xin. Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa, hướng về đền thánh, con phủ phục tôn thờ. Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài vẫn thành tín yêu thương, đã đề cao danh thánh và lời hứa của Ngài trên tất cả mọi sự. Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại, đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn. Lạy Chúa, mọi đế vương dưới trần đều cảm tạ khi nghe những lời miệng Ngài phán ra. Họ sẽ ca ngợi đường lối Chúa: ”Vinh quang Chúa vĩ đại dường bao!” Chúa tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn; đứa ngạo mạn ngông nghênh từ xa Ngài đã biết. Cho dù con gặp bước ngặt nghèo, Chúa vẫn bảo toàn mạng sống con. Địch thù đang hằm hằm giận dữ, Ngài ra tay chận đứng, lấy tay uy quyền giải thoát con. Việc Chúa làm cho con Ngài sẽ hoàn tất; lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang” (Thánh Vịnh 138(137)).

(”La Vie diocésaine de Soissons”, Diocèse de Soissons, Laon et Saint-Quentin, No 06, Juin 2014, trang 163)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt 


Buổi nói chuyện của Đức Thánh Cha Phanxicô với các linh mục giáo phận Caserta nam Italia

Buổi nói chuyện của Đức Thánh Cha Phanxicô với các linh mục giáo phận Caserta nam Italia

Chiều Chúa Nhật 27-7-2014 Đức Thánh Cha Phanxicô đã viếng thăm giáo phận Caserta nam Italia, nhân lễ thánh Anna bổn mạng giáo phận. Trước khi chủ sự thánh lễ cho 200.000 người tại quảng trường trước lâu đài hoàng gia, Đức Thánh Cha đã gặp gỡ các linh mục trong nhà nguyện Palatina của lâu đài.

Ngỏ lời chào mừng Đức Thánh Cha Đức Cha D'Alise Giám Mục Caserta nói: ”Thưa Đức Thánh Cha, con đã không dọn bài viết nào hết, bởi vì con hiểu ngay rằng Đức Thánh Cha muốn có tương quan thân tình và sâu đậm với các linh mục. Vì thế con xin chào mừng Đức Thánh Cha. Đây là Giáo Hội của chúng con, các linh mục, rồi sau đó chúng ta sẽ thấy phần còn lại của Giáo Hội, trong khi cử hành bí tích Thánh Thể. Đối với con giây phút này thật quan trọng, bởi vì con có mặt ở đây mới từ hai tháng nay thôi, và con bắt đầu sứ vụ giám mục với sự hiện diện và phép lành của Đức thánh Cha, và đối với con đó là một ơn trong một ơn lớn. Giờ đây chúng con chờ đợi lời của Đức Thánh Cha. Biết rằng Đức Thánh Cha ước mong có một cuộc đối thoại, các linh mục cũng đã chuẩn bị các câu hỏi.

Ngỏ lời với mọi người Đức Thánh Cha nói: ”Tôi đã chuẩn bị một bài diễn văn, nhưng tôi sẽ trao cho Đức Giám Mục. Xin cám ơn rất nhiều về sự tiếp đón này. Tôi hài lòng và tôi cảm thấy mình hơi có lỗi, vì đã tạo ra bao nhiêu vấn đề trong ngày lễ thánh bổn mạng của giáo phận. Nhưng tôi đã không biết điều này. Khi tôi điện thoại cho Đức Giám Mục để nói với ngài là tôi muốn đến thăm với tư cách cá nhân một người bạn là mục sư Traettino, Đức Cha đã nói với tôi: ”A, chính trong ngày lễ bổn mạng”. Và tôi nghĩ ngay: ”Ngày hôm sau báo chí sẽ nói: ”Trong ngày lễ bổn mạng giáo phận Caserta Đức Giáo Hoàng đã đến thăm các anh em tin lành.” Tựa đề hay qúa có phải không? Và như thế chúng tôi đã sắp xếp câu chuyện hơi vội vã một chút, nhưng Đức Giám Mục đã giúp tôi và cả các nhân viên Phủ Quồc Vụ Khanh nữa. Tôi đã nói với vị phụ tá Quốc Vụ Khanh khi tôi gọi cho ngài: ”Xin làm ơn lấy cái dây ra khỏi cổ cho tội”. Và vị ấy đã làm tốt. Xin cám ơn các cha về những câu hỏi các cha sẽ đưa ra, chúng ta có thể bắt đầu được rồi. Các cha cứ hỏi rồi tôi sẽ xem, nếu chúng ta có thể dồn hai ba
cầu vào một, nếu không thì tôi sẽ trả lời từng câu hỏi một.

Hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, con xin cám ơn. Con là linh mục Pasquariello, cha chính giáo phận Caserta. Xin hết lòng cám ơn Đức Thánh Cha đã đến thăm Caserta. Con muốn hỏi thiện ích mà Đức Thánh Cha đang đem lại cho Giáo Hội với các bài giảng thường ngày, các tài liệu chính thức, đặc biệt là Thông điệp ”Niềm Vui Phúc Âm” đều mang dấu ấn sự hoán cải tinh thần, thân tình, cá nhân. Theo thiển ý con đó là một cuộc cải cách chỉ liên quan tới lãnh vực thần học, chú giải Thánh Kinh và triết lý. Nhưng bên cạnh đó cũng cần phải lôi cuốn dân Chúa vào cuộc nữa. Vấn đề là trong giáo phận của chúng con, là giáo phận đã có từ 900 năm nay, các ranh giới thật vô lý. Vài phần đất của tỉnh bị chia một nửa với giáo phận Capua và với giáo phận Acerra. Nhà ga xe lửa thành phố Caserta, cách tòa thị sảnh gần một cây số, lại thuộc Capua. Con xin Đức Thánh Cha một can thiệp với giải pháp để các cộng đoàn của chúng con khỏi phải đau khổ vì các di chuyển vô ích và để cho sự hiệp nhất mục vụ của cộng đoàn khỏi phải khó khăn. Rõ ràng là trong số 10 Thông điệp ”Niềm vui Phúc Âm” Đức Thánh Cha khẳng định rằng đây là các chuyện thuộc tòa Giám Mục. Nhưng con còn nhớ cách đây 47 năm khi con còn là linh mục trẻ, chúng con đã cùng Đức ông Roberti, xuất thân từ Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, lên trình bầy vấnđề ở Phủ Quốc Vụ Khanh, thì được trả lời là: ”Các cha sắp xếp với các Giám Mục đi, rồi chúng tôi sẽ ký”. Thật là hay, nhưng mà khi nào các Giám Mục mới đồng ý với nhau, thưa Đức Thánh Cha?

Đáp: Có vài sử gia của Giáo Hội nói rằng trong vài Công Đồng các Giám Mục cũng còn đánh nhau nữa, nhưng rồi lại đồng ý với nhau. Và đây là môt dấu chỉ xấu. Thật là xấu, khi các Giám Mục nói xấu nhau, hay vào hùa với nhau. Tôi không nói là phải có sự hiệp nhất tư tưởng hay tu đức, bởi vì đây là điều tốt, nhưng tôi nói ”theo đuôi nhau” trong nghĩa tiêu cực của từ này. Điều này xấu, vì nó bẻ gẫy sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Điều này không phải là của Thiên Chúa. Là Giám Mục chúng tôi phải nêu gương hiệp nhất, mà Chúa Giêsu đã xin Thiên Chúa Cha ban cho Giáo Hôi. Không thể đi nói xấu nhau được: ”Ông này làm thế này, ông kia ở đó làm thế nọ”. Hãy đi nói thẳng vào mặt nhau. Các cha ông của chúng ta trong các Công Đồng đánh nhau, và tôi thích họ la hét nhau, rồi ôm nhau làm hòa hơn là đi nói xấu, nói chùng nói lén nhau. Đó là nguyên tắc chung.

Trong sự hiệp nhất của Giáo Hội sự hiệp nhất giữa các Giám Mục là điều quan trọng. Thế rồi, cha cũng nhấn mạnh một con đường mà Chúa đã muốn cho Giáo Hội. Sự hiệp nhất này giữa các Giám Mục là sự hiệp nhất tạo thuận tiện cho việc thỏa thuận với nhau trên các điều này điều nọ. Trong một nước kia, không phải tại Italia đâu, nhưng ở một phần khác của thế giới, có một giáo phận có ranh giới được vạch lại, nhưng vì lý do đặt kho tàng của nhà thờ chính tòa, thế là xảy ra tranh chấp kiện tụng nhau lên tới các tòa án kéo dài hơn 40 năm trời. Chỉ vì tiền thôi: thật là không hiểu nổi! Và điểm này là nơi ma qủy mừng lễ! Chính nó được lợi. Thật là đẹp, khi cha nói rằng các Giám Mục phải luôn luôn đồng ý với nhau: nhưng đồng ý trong sự hiệp nhất, không phải trong sự đồng nhất. Mỗi người có đặc sủng của mình, mỗi người có kiểu suy tư, nhìn các sự vật: sự khác biệt đó đôi khi là kết qủa của sai lầm, nhưng biết bao lần nó là hoa trái của chính Thần Khí. Chúa Thánh Thần đã muốn rằng trong Giáo Hội có các đặc sủng khác nhau. Chính Thần Khí làm ra sự khác biệt, rồi lại thành công làm ra sự hiệp nhất: một sự hiệp nhất trong sự khác biệt của từng người, mà không ai phải mất đi bản vị của mính. Tôi cầu mong rằng điều cha nói đó tiến tới. Thế rồi chúng ta tất cả đều tốt lành, bởi vì chúng ta đều có nước Thánh Tẩy, chúng ta có Chúa Thánh Thần trợ giúp chúng ta tiến tới.

Hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, con là linh mục Angelo Piscopo, cha sở giáo xứ Thánh Phêrô Tông Đồ và giáo xứ Ngai tòa thánh Phêrô. Câu hỏi của con là: trong Thông điệp ”Niềm vui Phúc Âm” Đức Thánh Cha đã mời gọi khích lệ và củng cố lòng đạo đức bình dân, là kho tàng của Giáo Hội công giáo. Đồng thời Đức Thánh Cha cũng cho thấy nguy cơ có thật của việc phổ biến một thứ kitô giáo cá nhân chủ nghĩa và tình cảm, chú ý nhiều hơn tới các hình thức truyền thống và mạc khải, mà lại thiếu các khíacạnh nền tảng của đức tin và thiếu ăn sâu vào cuộc sống xã hội. Đức Thánh Cha có thể gợi lên cho chúng con một kiểu mục vụ, thế nào để đừng gây thiệt hại cho lòng đạo đức bình dân, mà lại có thể tái trao ban quyền tối thượng cho Tin Mừng hay không? Con xin cám ơn Đức Thánh Cha.

Đáp: Người ta nghe nói rằng đây là thời điểm, trong đó lòng đạo hạnh đã xuống dốc, nhưng tôi không tin lắm. Bởi vì có các trào lưu, các trường đạo hạnh duy tâm tình, kiểu ngộ đạo thực thi một loại mục vục giống một lời cầu nguyện tiền kitô, một lời cầu tiền kinh thánh, và thuyết ngộ đạo đã bước vào trong Giáo Hội qua các nhóm đạo đức duy tâm tình ấy: tôi gọi điều này là chủ thuyết duy tâm tình. Chủ thuyết duy tâm tình không tốt, nó là một điều cho tôi, tôi an tâm, tôi cảm thấy mình tràn đầy Thiên Chúa. Nó cũng giống phong trào Thời Mới. Có lòng đạo hạnh, đúng, nhưng là một thứ đạo hạnh ngoại giáo, hay cả lạc giáo nữa. Chúng ta không được sợ hãi nói lên từ này, bởi vì thuyết ngộ đạo là một lac giáo, nó đã là lạc giáo thứ nhất trong Giáo Hội. Khi tôi nói tới lòng đạo hạnh, tôi nói về kho tàng đạo đức, với biết bao nhiêu giá trị, mà Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã miêu tả trong Tông huấn ”Loan báo Tin Mừng”. Các cha hãy nghĩ tới tài liệu Aparecida của Hội nghị lần thứ V của Liên Hội Đồng Giám Mục châu Mỹ Latinh, trong đó ở đoạn cuối cùng, phải lui lại đàng sau 40 năm để lấy lại một đoạn của Tông huấn, là tài liệu mục vụ thời hậu công đồng vẫn còn rất thời sự. Trong tài liệu này, Đức Phaolô VI miêu tả lòng đạo đức bình dân bằng cách khẳng định rằng đôi khi cần phải phúc âm hóa nó. Vâng, bởi vì cũng như mọi lòng đạo đức, nó có nguy cơ sai lạc, và không diễn tả đức tin mạnh mẽ.

Nhưng lòng đạo đức mà người dân có, lòng đạo đức đi sâu vào trong con tim với bí tích Rửa Tội là một sức mạnh khổng lồ, tới độ dân Chúa có lòng đạo đức này, nói chung, không thể sai lầm, nó chắc chắn, như khẳng định trong số 12 của Hiến chế về Giáo Hội. Lòng đạo đức bình dân nảy sinh từ ý thức của đức tin, mà tài liệu công đồng nói tới và hướng dẫn trong việc sùng kính các Thánh, Đức Mẹ, cả qua các kiểu diễn tả dân ca vũ, trong nghĩa tốt của từ này. Vì thế lòng đạo đức bình dân một cách nền tảng được hội nhập văn hóa, không thể là một lòng đạo đức được làm trong phòng thí nghiệm, nhưng luôn luôn nảy sinh từ cuộc sống. Người ta có thể phạm các lỗi nhỏ, vì thế cần phải tỉnh thức, nhưng lòng đạo hạnh bình dân là một dụng cụ rao truyền Tin Mừng.

Chúng ta hãy nghĩ tới các người trẻ ngày nay. Người trẻ, ít nhất là trong kinh nghiệm tôi đã có trong giáo phận, giới trẻ, các phong trào giới trẻ tại Buenos Aires đã không hoạt động. Tại sao vậy? Người ta đã nói với họ rằng chúng ta hãy họp nhau để nói chuyện... và sau cùng thì giới trẻ buồn chán. Nhưng khi các cha xứ tìm ra con đường lôi cuốn giới trẻ trong các cuộc truyền giáo nhỏ, đi truyền giáo trong kỳ hè, dậy giáo lý cho những người cần, trong các vùng hẻo lánh xa xôi không có linh mục, khi đó giới trẻ tham gia. Người trẻ muốn kiểu tác nhân truyền giáo này và từ đó họ học sống một hình thức đạo có thể gọi là đạo đức đức bình dân: việc tông đồ truyền giáo của người trẻ cũng có thể nói là đạo đức bình dân. Đức Phaolô VI nói: lòng đạo đức bình dân tích cực nó là một ý thức của đức tin sâu đậm, mà chỉ những người đơn sơ và khiêm tốn mới có khả năng có. Và điều này thật là lớn lao! Chẳng hạn trong các đền thánh người ta thấy xảy ra các phép lạ.

Ngày 27 tháng 7 hằng năm tôi đều đến Đền thánh Pantaleone ở Buenos Aires và giải tội từ sáng. Nhưng khi trở về nhà tôi được đổi mới nhờ kinh nghiệm này, tÔi trở về nhà xấu hổ vì sự thánh thiện mà tôi đã tìm thấy nơi các tín hữu sơn đơn sơ này, có tội nhưng thánh thiện, bởi vì họ nói lên các tội của họ và kể lại họ sống ra sao, con trai con gái họ có vấn đề gì, hay người này người kia có khó khăn nào, họ đi thăm các bệnh nhân làm sao. Tỏa sáng ra một ý thức tin mừng. Người ta tìm thấy các điều này trong các Đền thánh. Các tòa giải tội tại các Đền thánh là một nơi canh tân cho chúng ta là các linh mục giám mục: nó là một khóa học canh tân tinh thần vì tiếp xúc với lòng đạo đức bình dân. Khi họ đến xưng tội, các tín hữu kể cho bạn nghe các bần cùng của họ, nhưng bạn thấy đàng sau các bần cùng ấy ơn thánh Chúa hướng dẫn họ tới thời điểm này. Việc tiếp xúc này với dân Chúa cầu nguyện, hành hương biểu lộ đức tin của họ trong hình thức đạo đức này, giúp chúng ta biết bao nhiêu trong cuộc sống linh mục của chúng ta.

Hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, con đã là học sinh được các cha dòng Tên đào tạo văn hóa và linh mục. Căn tính của linh mục trong thiên niên kỷ thứ ba là quân bình nhân bản và tinh thần, ý thức truyền giáo, rộng mở đối thoại với các tôn giáo khác cũng như đối với những người không có tôn giáo. Đức Thánh Cha đã làm một cuộc cách mạng về ngôn ngữ, kiểu sống, thái độ hành xử và chứng tá liên quan tới các đề tài quan trọng nhất trên bình diện quốc tế, cả đối với những người vô thần và những người sống xa Giáo Hội công giáo. Con xin phép hỏi Đức Thánh Cha: trong xã hội tiến triển sinh động và xung khắc và thường xa cách các giá trị tin mừng này, làm sao Giáo Hội cầu mong lớn lên và phát triển lại thường chậm chạp như vậy? Cuộc cách mạng ngôn từ, ý nghĩa, văn hóa và chứng tá tin mừng của Đức Thánh CHa đang khơi dậy trong các lương tâm một cuộc khủng hoảng hiện sinh đối với các linh mục chúng con. Xin Đức Thánh Cha gợi lên cho chúng con các con đường sáng tạo giúp thắng vươt hay ít ra làm giảm thiểu cuộc khủng hoảng mà chúng con cảm thấy này.

Đáp: Làm sao Giáo Hội đang lớn lên và phát triển có thể tiến tới? Cha đã đưa ra vài điều rồi: sự quân bình, thái độ rộng mở đối thoại. Cha đã nói một điều tôi rất thích: đó là óc sáng tạo: một từ thiên linh và nếu nó là nhân bản thì đó là một ơn của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã ra lệnh cho Adam ”Hãy đi và làm cho trái đất lớn lên. Hãy có óc sáng tạo. Đó cũng là giới răn mà Chúa Giêsu đã ban cho các môn đệ trong các tương quan với Do thái giáo: thánh Phaolô đã là một người có óc sáng tạo; thánh Phêrô đã làm một điều mới mẻ, sáng tạo. Lời nói là sự sáng tạo. Làm sao tìm được sự sáng tạo này? Đây là điều kiện nếu chúng ta muốn sáng tạo trong Thần Khí, nghĩa là trong Thần Khí của Chúa Giêsu. Không có con đường nào khác ngoài con đường cầu nguyện.

Một Giám Mục mà không cầu nguyện, một linh mục mà không cầu nguyện thì đã đóng cửa, thì đã đóng con đường của óc sáng tạo. Chính trong lời cầu nguyện khi Chúa Thánh Thần làm cho bạn nghe được một điều, thì ma qủy tới làm cho bạn nghe thấy một điều khác. Nhưng cầu nguyện là điều kiện để tiến tới. Cả khi nhiều lúc xem ra lời cầu có buồn chán đi nữa. Lời cầu quan trọng biết bao. Không phải chỉ là lời cầu nguyện của kinh thần vụ và phụng vụ Thánh Lễ, thanh thản, sốt mến, lời cầu cá nhân với Chúa. Nếu chúng ta không cầu nguyện có lẽ chúng ta sẽ là các doanh nhân mục vụ và tinh thần, nhưng Giáo Hội mà không có lời cầu nguyện thì trở thánh một tổ chức phi chính quyền, mà không được xức dầu của Thần Khí. Lời cầu nguyện là bước đầu tiên bởi vì đó là rộng mở cho Thiên Chúa để có thể rộng mở cho tha nhân. Chính Chúa nói cho bạn phải đi đây đi kia, làm cái này cái nọ và dấy lên óc sáng tạo, khiến cho nhiều vị Thánh phải trả giá mắc mỏ. Hãy nghĩ tới chân pưhớc Antonio Rosmini, người đã viết tác phẫm ”Năm vết thương của Giáo Hội”. Ngài đã là một người có óc phê bình sáng tạo, bởi vì đã cầu nguyện và đã viết những gì Chúa Thánh Thần đã cho cảm thấy. Nhưng chính vì thế mà ngài đã phải vào tù tinh thần, nghĩa là nhà của ngài: không thể nói, không thể dậy dỗ, không thể viết, các sách của ngài bị xếp vào danh sách các sách cấm đọc. Nhưng ngày nay ngài là chân phước.

Biết bao nhiêu lần sự sáng tạo đem theo thập giá, nhưng khi phát xuất từ lời cầu nguyện, nó đem lại hoa trái. Đây không phải sự sáng tạo kiểu ”cách mạng” thời thượng ngày nay không phải là của Thần Khí, nhưng là óc sáng tạo đến từ Thần Khí và nảy sinh từ lời cầu nguyện. Nó có thể tạo ra các vấn đề cho bạn. Sự sáng tạo đến từ lời cầu nguyện có một chiều kích nhân chủng của sự siêu việt, bởi vì qua lời cầu nguyện bạn rộng mở cho sự siêu việt, cho Thiên Chúa. Nhưng cũng có sự siêu việt rộng mở cho tha nhân. Không cần phải là một Giáo Hội đóng kín trong chính mình, chỉ nhìn lỗ rốn của mình, một Giáo Hội tự quy chiếu về mình, nhìn chính mình và không có khả năng siêu việt. Sự siêu việt hai chiều rất quan trọng: hướng tới Thiên Chúa và hướng tới tha nhân. Ra khỏi chính mình không phải là một cuộc phiêu lưu mạo hiểm, nhưng là một lộ trình mà Thiên Chúa đã chỉ cho con người ngay từ đầu khi Thiên Chúa nói với tổ phụ Abraham: ”Hãy rời bỏ đất của ngươi”. Ra khỏi mình. Khi tôi ra khỏi mình, tôi gặp gỡ Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng phải gặp tha nhân làm sao từ xa hay từ gần. Cần phải gặp họ từ gần. Sự sáng tạo, sự siêu việt và sự gần gũi. Sự gần gũi là một từ chìa khóa. Gần gũi không hoảng sợ. Khi thấy các ngẫu tượng tại Athènes thánh Phaolô đã không hoảng sợ, nhưng đến gần và trích cả các thi sĩ Hy lạp nữa. Mgài tới gần một nền văn hóa, gần con người gần kiểu suy tư, các khổ đau và các thù hận của họ. Biết bao lần sự gần gũi là một việc hãm mình, bởi vì chúng ta phải nghe các điều nhàm chán, các điều xúc phạm.

Cách đây hai năm có một linh mục thuộc tổng giáo phận Buenos Aires đi truyền giáo tại một giáo phận miền nam trong vùng từ nhiều năm nay không có linh mục công giáo, nhưng có các người tin lành. Cha ấy kể cho tôi nghe rằng cha đến thăm một phụ nữ, hiệu trưởng trường học vùng đó. Bà mời cha ngồi rồi bắt đầu chửi cha rất dữ: ”Các cha đã bỏ rơi chúng tôi một mình, tôi cần Lời Chúa nên tôi đã phải tham dự phụng tự tin lành và tôi đã theo tin lành”. Vị linh mục này trẻ tuổi, cầu nguyện nhiều và rất hiền dịu. Khi bà nọ đã ngưng chửi bới cha liến nói: ”Thưa bà tôi chỉ xin nói một lời thôi: ”Xin lỗi. Xin bà tha lỗi cho chúng tôi. Chúng tôi đã bỏ đàn chiên”. Và bà nọ đổi giọng ngay. Bà mời cha uống cà phê. Vị linh mục cũng không đề cập tởi vấn đề tôn giáo thật. Và khi ngài chuẩn bị ra về bà ta nói: ”Xin cha dừng lại và đến đây”. Bà đưa cha vào phòng ngủ và kéo hộc tủ ra, bên trong có hình Đức Mẹ và nói: ”Tôi đã không bao giớ bỏ Mẹ. Tôi đã dấu vào đây vì ông mục sư, nhưng trong nhà có Đức Mẹ”. Câu chuyện dậy cho chúng ta biết rằng sự gần gũi sự dịu hiền đã khiến cho phụ nữ đó giao hòa với Giáo Hội. Nhưng tôi đã hỏi cha ấy câu chuyện kết thúc ra sao, mà đáng lý ra không bao giờ được hỏi. Cha cho biết ngài đã không hỏi gì cả cũng không mời bà trở lại vớ Giáo Hội công giáo. Bà ta tiếp tục tham dự các buổi phụng tự tin lành. Nhưng cha nói: ”Bà là một người cầu nguyện, xin Chúa Giêsu làm”.

Gần gũi cũng có nghĩa là đối thoại. Cần đọc Thông điệp ”Giáo Hội Người” của Đức Phaolô VI nói về đối thoại. Đối thoại thật là quan trọng. Nhưng để đối thoại cần phải có hai điều: khởi hành từ căn tính của mình và hiểu người khác, không lên án tiên thiên. Nếu tôi không chắc chắn về căn tính của mình mà đi đối thoại, tôi sẽ lẫn lộn niềm tin của tôi. Mỗi một người đều có cái gì đó để cho chúng ta, lich sử, hoàn cảnh sống của họ, chúng ta phải lắng nghe nó. Rồi sự thận trọng cảu Chúa Thánh Thần sẽ cho chúng ta biết phải trả lời thế nào. Đối thoại không phải là hộ giáo. Đối thoại là nhân bản, các con tim và các linh hồn nói chuyện với nhau. Đừng sợ hãi đối thoại với bất cứ ai. Có người nói chơi rằng thánh Philippo Neri, tôi không nhó rõ vị thánh nào, có khả năng đối thoại với cả ma qủy. Tại sao vậy? Bởi vì người có sự tự do lắng nghe tất cả mọi người, nhưng khởi hành từ căn tính riêng. Ngài rất chắc chắn. Nhưng chăc chắn về căn tính của mình không có nghĩa là chiêu dụ tín đồ. Chiêu dụ tín đồ là một cái bẫy mà Chúa Giêsu cũng lên án. Giáo Hôi không lớn lên vì chiêu dụ tín đồ, nhưng vì lôi kéo. Lôi cuốn là sự thấu hiểu được Chúa Thánh Thần hướng dẫn.

Như thế gương mặt của linh mục trong thế kỷ tục hóa này là một người có óc sáng tạo thực thi lệnh truyền của Thiên Chúa là ”tạo dựng các sự vật” một người của sự siêu việt với Thiên Chúa qua lời cầu nguyện và với tha nhân, một con người của sự gần gũi dân chúng. Một linh mục không làm cho người ta xa lánh.

Hỏi: Thưa Đức Thánh Cha, câu hỏi của con liên quan tới nơi sống là giáo phận, với các Giám Mục và trong tương quan với các anh em linh mục. Ngày nay dân chúng chờ đợi nơi các linh mục một chứng tá rõ ràng, cởi mở và tươi vui. Như vậy theo Đức Thánh Cha đâu là nét chuyên biệt và nền tảng của một nền tu đức của linh mục giáo phận? Xem ra con nhớ đã đọc ở đâu lời Đức Thánh Cha nói rằng: ”linh mục không phải là người chiêm niệm”. Đức Thánh Cha đã mời gọi cho ”các sự mới mẻ của Chúa Thánh Thần”. Con không biết Đức Thánh Cha có thể cho chúng con một hình ảnh cần chú ý cho sự tái sinh và sự gia tăng hiệp thông của giáo phận chúng con không. Điều con chú ý là làm sao các linh mục chúng con có thể trung thành với con người ngày nay, chứ không cho lắm với Thiên Chúa?

Đáp: Cha đã nói ”các sự mới mẻ của Chúa Thánh Thần”. Đúng thế. Nhưng Thiên Chúa là Thiên Chúa của các ngạc nhiên, Ngài luôn luôn khiến cho chúng ta ngạc nhiên. Khi đọc Phúc Âm chúng ta đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Chúa Giêsu luôn đi trước, tìm kiếm và chờ đợi chúng ta. Tôi không nhớ tiên tri Isaia hay tiên tri Giêrêmia nói Thiên Chúa giống như hoa hạnh nhân, là cây đầu tiên nở hoa vào mùa xuân. Thiên Chúa luôn luôn là Đấng đầu tiên.

Liên quan tới tu đức của linh mục giáo phận, Linh mục chiêm niệm, nhưng không phải như một đan sĩ chiêm niệm tại đan viện Certosa. Vị linh mục phải có một sự chiêm niệm, một khả năng chiêm niệm đối với Thiên Chúa cũng như đối với con người. Linh mục là một người nhìn, làm đầy đôi mắt và con tim của mình với sự chiêm niệm này: với Tin Mừng trước mặt Thiên Chúa, và với các vấn đề của con người trước con người. Linh mục chiêm niệm trong nghĩa đó. Nhưng không nên lẫn lộn với đan sĩ chiê mniệm.

Thế thì trung tâm nền tu đức của linh mục giáo phận ở đâu? Theo tôi đó là nơi tính cách giáo phận. Nghĩa là có khả năng rộng mở cho tính cách giáo phận. Tu đức của một tu sĩ là rộng mở cho Thiên Cháu và cho tha nhân trong cộng đoàn cho dù có nhỏ mấy đi nữa. Trái lại tu đức của linh mục giáo phận là rộng mở cho giáo phận tính. Còn các tu sĩ làm việc trong các giáo xứ thì phải có cả hai sự tùy thuộc, vì thế Bộ các dòng tu đang duyệt xét lại tài liệu ”Mutuae relationes”.

Giáo phận tính có nghĩa là có một tương quan với Giám Mục bản quyền và các anh em linh mục khác trong giáo phận. Linh mục giáo phận không thể tách rời khỏi Giám Mục. Vị Giám Mục dù có tính xấu đi nữa cũng là Giám Mục, và bạn phải tìm cách duy trì tương quan với ngài, cả trong thái độ không tích cực. Nhưng đây là luật trừ. Là linh mục giáo phận tôi có tương quan với Giám Mục, một tương quan cần thiết. Thật là rất ý nghĩa trong lễ truyền chức vị linh mục hứa vâng lời Đức Giám Mục và các người kế vị. Giáo phận tính có nghĩa là có một tương quan với Giám Mục cần phải thực thi và làm cho nó lớn lên. Trong đa số các trường hợp, nó không phải là một vấn đề tai họa mà là chuyện bình thường.

Thứ hai là tương quan với các linh mục khác với toàn linh mục đoàn. Không có tu đức linh mục giáo phân nào mà không có hai tương quan này. Chúng cần thiết. Có cha nói: ”với Giám Mục thì tôi không có vấn đề, nhưng tôi không đi họp với các linh mục vì họ nói các chuyện tầm phào”. Nhưng với thái độ này là bạn thiếu tinh thần tu đức thực sự của linh mục giáo phận. Tất cả là ở đó: đơn sơ nhưng không dễ dàng. Bởi vi mỗi người có một kiểu suy nghĩ riêng nhưng có thể thảo luận với nhau. Nếu cần to tiếng thì cứ to tiếng. Nhưng khi ngoại giao bước vào trong hai tương quan này thì không có Thần Khí Chúa, bởi vì thiếu tinh thần tự do. Cần phải có can đảm nói: ”Tôi không nghĩ như thế, tôi nghĩ khác” và cũng cần phải có sự khiêm tốn nhận một sửa lỗi. Đây là điều rất quan trọng. Và Ai là kẻ thù lớn nhất của hai tương quan này? Các bép xép. Biết bao nhiêu lần chúng ta có cám dỗ này trong mình, và ma qủy biết là hạt giống đó đem lại bộng hạt và nó gieo tốt. Và tôi nghĩ không biết nó có phải là một hậu qủa của một cuộc sống độc thân cằn cỗi, không phong phú không. Một người cay đắng không phong phú và bép xép, nói xấu nói hành người khác. Đó là một không khí không tốt. Chính nó ngăn cản tương quan với Giám Mục và với linh mục đoàn. Các bép xép là kẻ thủ mạnh nhất của giáo phận tính, nghĩa là nền tu đức linh mục giáo phận. Nếu bạn là người trưởng thành và thấy nơi người anh em linh mục điều bạn không thích hay tin rằng sai, hãy đi nói với anh ấy, hay nều thấy anh ấy không chịu được sự sửa lỗi thì trình với Giám Mục hay một người bạn thân ơn của linh mục đó để họ có thể giúp cha ấy sửa mình. Nhưng đừng nói với các người khác: bởi vì điều đó làm hại nhau. Ma qủy hạnh phúc với ”bữa tiệc đó”, vì chính như thế mà nó tấn công trung tâm tu đức của hàng giáo sĩ giáo phận. Đối với tôi các bép đép gây ra biết bao nhiệu là thiệt hai. Chúng đã là một thực tại hiện diện trong thời Giáo Hội khai sinh, chứ không phải là điều mới lạ sau Công Đồng, bởi vì ma qủy không muốn rằng Giáo Hội là một người mẹ phong phú, hiệp nhất và tươi vui. Khi các tương quan giữa linh mục và Giám Mục, giữa linh mục và linh mục đoàn tốt đẹp, thì hoa trái là niềm vui, là dấu chỉ mọi sự hoạt động tốt đẹp. Trong khi sự cay đắng là đấu chỉ không có tinh thần tu đức giáo phận đích thực. Có một lần nọ một linh mục nói với tôi: ”Con thấy biết bao lần chúng ta là một Giáo Hội của những người giận dữ, luôn luôn giận dữ người này chống lại người kia. Chúng ta luôn có chuyện để giận dữ”.

Điều này đem lại buồn sầu và cay đắng: không có niềm vui. Khi trong giáo phận chúng ta thấy một linh mục sống giận dữ căng thẳng như thế chúng ta nghĩ: vị này ăn sáng với giấm chua, buổi trưa ăn rau với giấm chua và ban chiều uống chanh chua”. Linh mục đó là hình ảnh Giáo Hội của những người giận dữ. Người ta có thể giận dữ và cũng cần giận dữ một lần. Nhưng tình trạng giận dữ không phải là của Chúa và nó đem lại sự buốn sầu và không hiệp nhất.

Sau cùng là trung thành với Thiên Chúa và với con người đó là hai chiều kích cửa sự siêu việt mà chúng ta đã đề cập tới trên kia. Trung thành với Thiên Chúa, tìm kiếm Người, rộng mở cho Người trong lời cầu nguyện, để rồi rộng mở cho con người với sự tôn trọng, phục vụ con người và kiên nhẫn có lời nói đúng đắn với con người.

(SD 27-7-2014)

Linh Tiến Khải


LÚC NGẶT NGHÈO, THIÊN CHÚA ĐÃ MỞ LỐI THOÁT CHO CON!

LÚC NGẶT NGHÈO, THIÊN CHÚA ĐÃ MỞ LỐI THOÁT CHO CON!

... Bà Julie Chapput 40 tuổi lãnh bí tích Rửa Tội gia nhập Giáo Hội Công Giáo vào Phục Sinh 2013 tại giáo phận Reims-Ardennes ở miền Bắc nước Pháp. Xin nhường lời cho bà kể lại lộ trình đi qua trước khi trở thành tín hữu Công Giáo.

Tôi không bao giờ quên cái cảm giác an bình xâm chiếm khi lần đầu tiên tôi bước chân vào nhà thờ chính tòa. Lúc ấy là mùa xuân 2010, tôi đang trong thời kỳ bị giao động: sau những năm dài tranh chấp với ông chủ, tôi quyết định chấm dứt mọi hợp tác với ông. Còn trên bình diện tình cảm thì tôi đi từ thất bại này đến thất bại kia. Cái trống rỗng chán chường cuộc sống mà tôi cảm nghiệm chính là triệu chứng của cái trống rỗng thiêng liêng. Tôi lớn lên trong cái mù tịt về các sự việc liên quan đến Đức Tin. Mặc dầu được rửa tội, thân phụ tôi thuộc loại người bài-giáo-sĩ còn thân mẫu tôi thì dửng dưng với nền tu đức đạo nghĩa. Tôi còn nhớ một ngày, lúc còn nhỏ, tôi có xin Mẹ đọc một lời kinh khi Mẹ đưa tôi vào giường ngủ. Điều đó đến từ đâu? Tôi không rõ! Có lẽ từ một đứa bạn nhỏ cùng tuổi chăng?

Thế rồi vấn nạn tôn giáo bỗng xuất hiện cách đây 4 năm. Vì hoàn toàn bị suy sụp tinh thần nên tôi tìm kiếm sự trợ giúp nơi THIÊN CHÚA. Trước đó mấy tháng, tôi đồng hành với những người tìm việc làm trong một hiệp hội. Tôi sống tình liên đới mới trước tình trạng thất nghiệp. Khi lắng nghe các nhân viên thiện nguyện khác trao đổi với nhau tôi để ý thấy họ có các dấn thân chung trong Giáo Hội Công Giáo. Tôi liền đem đề tài nói chuyện với ông Benoit Hess. Trong câu chuyện ông có đề cập đến đan viện Saint-Thierry nằm trong lãnh thổ của giáo phận Reims. Bị tính tò mò thúc đẩy tôi liền đi đến đó và ở lại trong một cuối tuần. Giữa thiên nhiên tĩnh lặng, tôi mở rộng mình cho một sự hiện diện.

Rồi tôi bắt đầu khám phá ra Phúc Âm nhờ cuốn Kinh Thánh mà một Nữ Tu tặng cho tôi. Niềm khao khát khám phá Đức Chúa GIÊSU mỗi ngày một gia tăng. Mùa xuân 2011 tôi gia nhập Nhóm Alpha tổ chức các bữa ăn huynh đệ để gặp gỡ trao đổi và cầu nguyện chung. Trong khung cảnh chia sẻ thân tình tôi cảm nghiệm một tâm tình tri ân.

Tôi làm những bước nhỏ tiến gần THIÊN CHÚA. Và cứ mỗi bước tôi đều gặp niềm an bình và lòng tin tưởng. Từ đó tôi sẵn sàng làm một cú nhảy vọt. Tôi khởi hành lộ trình dự tòng vào mùa xuân 2012 và lãnh bí tích Rửa Tội một năm sau tại nhà thờ Saint-André.

Sự hiện diện của Song Thân ngày tôi lãnh bí tích Rửa Tội thật cảm động. Tôi cũng không quên nghi thức gọi chung kết các dự tòng với Đức Cha Thierry Jordan tại nhà thờ Charleville. Tôi có cảm tưởng mình trở nên như một em bé. Bí tích Rửa Tội ban cho tôi một cuộc sống mới. Thế nhưng, trước khi khởi hành một lộ trình mới, tôi đã để cho làn gió sự thật thổi qua cuộc đời tôi. Công việc kiểm điểm lại cuộc đời giúp tôi đưa ra ánh sáng nhiều điều. Từ các vết thương bị lãnh chịu cho đến các lầm lẫn do tôi lỗi phạm. Tất cả đều được xem xét dưới cái nhìn nhân hậu từ bi của THIÊN CHÚA. Từ từ tôi dán lại cách mảnh vỡ: tôi giao hòa với chính tôi, với THIÊN CHÚA và với tha nhân. Các thử thách đã bọc sắt quanh người tôi khiến tôi ít nhiều trở thành vô cảm. Giờ đây tôi cảm thấy lòng mình dần dần mở ra. Tôi có thể tin trở lại nơi tình yêu. Tôi khởi hành một hoạt động nghề nghiệp mới.

Trên bình diện thiêng liêng tôi cố gắng vun trồng ngọn lửa cháy, với ít nhiều khó khăn. Tôi học cầu nguyện ở nhà. Tôi cảm thấy hơi đơn độc trong Đức Tin mới mẻ và chậm trễ này. Tôi cũng ”tu bổ Đức Tin” của tôi nhờ thỉnh thoảng có các cuộc gặp gỡ với bà Cécile mẹ đỡ đầu tôi và với những người quen biết khác. Tôi cũng trao đổi tin tức với ông Benoit Hess, Ba đỡ đầu tôi. Tôi cũng đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ nhưng vẫn còn chút e ngại bởi lẽ tôi cảm thấy mình khác với các tín hữu kỳ cựu, các giáo dân đã sống Đức Tin của họ từ bao đời.

Tôi cảm tạ THIÊN CHÚA về những mầm non tươi nở trong cuộc đời tôi. THIÊN CHÚA hoạt động trong cuộc đời tôi như một người làm vườn. Người xới đất lên với chiếc máy cày thật nhẹ rồi đốt đi các cỏ xấu. Và trái tim tôi là hình ảnh của đất mới này.

... ”Lạy THIÊN CHÚA là đèn trời soi xét, khi con kêu, nguyện Chúa đáp lời. Lúc ngặt nghèo, Chúa đã mở lối thoát cho con, xin thương xót nghe lời con cầu khẩn. Phàm nhân hỡi, cho đến bao giờ lòng vẫn còn chai đá ưa thích chuyện hư không, chạy theo điều giả dối? Hãy biết rằng: Chúa biệt đãi người hiếu trung với Chúa; khi tôi kêu, Chúa đã nghe lời. Hãy run sợ, và đừng phạm tội nữa, trên giường nằm, suy nghĩ và lặng thinh. Hãy tiến dâng lễ tế như luật truyền, và tin tưởng vào Chúa. Biết bao kẻ nói rằng: ”Ai sẽ cho ta thấy hạnh phúc?”, lạy Chúa, xin tỏa ánh tôn nhan Ngài trên chúng con. Chúa ban xuống lòng con nhiều hoan lạc hơn khi thiên hạ được mùa lúa rượu đầy dư. Thư thái bình an vừa nằm con đã ngủ, vì chỉ có mình Ngài, lạy Chúa, ban cho conđược sống yên hàn” (Thánh Vịnh 4).

(”Reims-Ardennes”, Vie Diocésaine, No 1352, Mai 2014, trang 12-13)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt


Những Thách Đố về Mục Vụ Gia Đình trong Bối Cảnh Phúc Âm Hoá Chương IV

Tài Liệu Làm Việc của Thượng Hội Đồng Giám Mục Ngoại Thường III


Những Thách Đố về Mục Vụ Gia Đình trong Bối Cảnh Phúc Âm Hoá

Chương IV

Gia đình và ơn gọi của con người trong Đức Kitô


Gia đình, con người và xã hội 

31. Gia đình được nhìn nhận như một tài sản vô giá trong Dân Thiên Chúa, như môi trường phát triển tự nhiên của đời sống, một trường học của lòng nhân đạo, yêu thương và hy vọng cho xã hội. Nó tiếp tục là một không gian đặc quyền mà ở đó Đức Kitô tỏ lộ mầu nhiệm và ơn gọi của con người. Bên cạnh việc xác định những dữ kiện căn bản được chia sẻ này, phần lớn những người được hỏi cho biết gia đình có khả năng là nơi đặc quyền này, trong khi đề ra, và đôi khi ghi nhận một cách rõ ràng, một khoảng cách đáng lo ngại giữa gia đình dưới hình thức mà nó được biết đến hiện nay và giáo huấn của Hội Thánh về vấn đề này. Khách quan mà nói thì gia đình đang ở trong một thời điểm rất khó khăn, với những hoàn cảnh thực tiễn, những câu chuyện và những đau khổ phức tạp, là những điều cần phải có một cái nhìn nhân từ và thông cảm. Cái nhìn này là điều cho phép Hội Thánh đồng hành với các gia đình trong khi họ đang sống trong thực tại này và từ đó rao giảng Tin Mừng về gia đình theo nhu cầu cụ thể của họ.

32. Người ta nhận ra trong các câu trả lời rằng qua nhiều kỷ nguyên, gia đình đã đóng một vai trò quan trọng trong xã hội: thực ra, gia đình là nơi đầu tiên mà con người được hình thành trong xã hội và cho xã hội. Được công nhận là nơi tự nhiên cho việc phát triển của con người, gia đình cũng là nền tảng của bất cứ xã hội và quốc gia nào. Tóm lại, gia đình được mô tả là “xã hội đầu tiên của nhân loại.” Gia đình là nơingười ta truyền lại và học ngay từ những năm đầu đời về các giá trị như tình huynh đệ, lòng trung thành, yêu chân lý, thích làm việc, sự tôn trọng và đoàn kết giữa các thế hệ, cũng như nghệ thuật giao tế và niềm vui. Nó là không gian đặc quyền để sống và phát huy phẩm giá và quyền lợi của con người. Gia đình, được thiết lập trên hôn nhân, đặc trưng cho môi trường hình thành toàn diện những công dân tương lai của một quốc gia. 

33. Một trong những thách đố lớn của gia đình hiện đại là cố gắng tư nhân hóa của nó. Người ta có một nguy cơ là quên rằng gia đình là “đơn vị cơ bản của xã hội, ở đó chúng ta học cách sống chung với nhau trong sự khác biệt và thuộc về người khác” (EG 66). Cần phải giới thiệu một cái nhìn mở rộng về gia đình, là nguồn tài sản của xã hội, nghĩa là, các đức tính cần thiết cho đời sống chung. Chính trong gia đình mà chúng ta học điều gì là công ích, bởi vì trong đó chúng ta có thể cảm nghiệm sự tốt lành của việc cùng nhau chung sống. Nếu không có gia đình, con người không thể thoát ra khỏi chủ nghĩa cá nhân, bởi vì chỉ có gia đình mới là nơi chúng ta học được sức mạnh của tình yêu để bảo tồn sự sống, và “nếu không có một tình yêu đáng tin cậy, không có gì thực sự có thể làm cho con người thực lòng hợp nhất với nhau. Sự hợp nhất của họ có thể hiểu được là chỉ dựa trên tiện ích, trên toan tính về những lợi ích hoặc sợ hãi trái ngược nhau, nhưng không dựa trên sự tốt lành của việc cùng nhau chung sống, cũng không dựa trên niềm vui mà sự hiện diện đơn thuần của tha nhân có thể mang lại” (LF 51). 

34. Chúng ta cần phải suy nghĩ về ý nghĩa của việc quảng bá một mục vụ có khả năng khuyến khích các gia đình tham gia vào xã hội ngày nay. Gia đình không chỉ là một đối tượng của sự bảo vệ của quốc gia, nhưng phải tìm lại vai trò của họ như những chủ thể xã hội. Có nhiều thách đố xuất hiện trong bối cảnh này đối với các gia đình: mối quan hệ giữa gia đình và sở làm, giữa gia đình và giáo dục, giữa gia đình và y tế; khả năng kết hợp các thế hệ khác nhau, ngõ hầu những người trẻ và những người già không bị bỏ rơi; sự phát triển của một luật gia đình bao gồm những mối liên hệ cụ thể của nó; việc cổ võ những luật công bằng, chẳng hạn như những luật đảm bảo việc bảo vệ sự sống con người từ lúc thụ thai và những luật quảng bá sự tốt đẹp về mặt xã hội của hôn nhân đích thực giữa người nam và nữ. 

Theo hình ảnh của đời sống của Chúa Ba Ngôi 

35. Một số câu trả lời nhấn mạnh đến hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi được phản ánh trong gia đình. Kinh nghiệm của việc yêu thương lẫn nhau giữa hai vợ chồng giúp chúng ta hiểu đời sống của Chúa Ba Ngôi như tình yêu: qua kinh nghiệm về sự hiệp thông được sống trong gia đình, trẻ em có thể có một thoáng nhìn về Thiên Chúa Ba Ngôi. Gần đây, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại trong bài giáo lý của ngài về các bí tích rằng, “Khi một người nam và một nữ cử hành Bí Tích Hôn Phối, chúng ta có thể nói là Thiên Chúa được ‘phản ánh’ trong đó, Ngài đánh dấu họ bằng những đặc điểm của Ngài và căn tính không thể xóa được của tình yêu của Ngài. Hôn nhân là biểu tượng của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Thực ra, ngay cả Thiên Chúa cũng là sự hiệp thông Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần sống từ muôn thủa và đời đời trong sự hiệp nhất hoàn hảo. Và đây là mầu nhiệm của Hôn Nhân: Thiên Chúa làm cho hai vợ chồng thành một cuộc sống duy nhất.” (Triều Yết Chung, ngày 2 tháng 4 năm 2014). 

Thánh Gia Nagiaret và giáo dục về tình yêu 

36. Bằng một cách hầu như đồng nhất, các câu trả lời nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Thánh Gia Nagiaret như một mô hình và mẫu gương cho các gia đình Kitô hữu. Mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời trong một gia đình cho chúng ta thấy rằng gia đình là một nơi đặc biệt cho việc mặc khải của Thiên Chúa dành cho con người. Thực ra, gia đình được nhìn nhận như một nơi thông thường và hàng ngày để gặp gỡ Đức Kitô. Các Kitô hữu nhìn lên Thánh Gia Nagiaret như một mẫu gương về mối liên hệ và tình yêu, như một điểm tham chiếu cho mỗi thực tại của gia đình và như niềm an ủi trong lúc hoạn nạn. Hội Thánh hướng về Thánh Gia Nagiaret và phó thác các gia đình trong những thực trạng vui mừng, hy vọng và đau khổ cụ thể của họ. 

37. Các câu trả lời nhận được làm nổi bật tầm quan trọng của tình yêu được sống trong gia đình, được định nghĩa là “dấu chỉ hiệu quả của sự hiện hữu của tình yêu Thiên Chúa”, “nơi trú ẩn của tình yêu và đời sống.” Kinh nghiệm đầu tiên về tình yêu và sự liên hệ xảy ra trong gia đình: cần phải nhấn mạnh đến việc mỗi trẻ em cần được sống trong sự đầm ấm và che chở chăm sóc của cha mẹ dưới một mái nhà là nơi có bình an. Các trẻ em phải có khả năng nhận ra rằng Chúa Giêsu ở với các em và các em không bao giờ cô đơn. Sự cô đơn của trẻ em gây ra bởi sự lỏng lẻo trong các liên hệ gia đình, đặc biệt ở một vài vùng địa lý. Việc sửa dạy con cái cũng phải nhằm mục đích đảm bảo rằng trẻ em có thể lớn lên trong một môi trường gia đình mà ở đó có tình yêu và cha mẹ nhận ra ơn gọi của mình là cộng tác viên của Thiên Chúa trong sự phát triển của gia đình nhân loại. 

38. Phải liên tục nhấn mạnh đến giá trị đào luyện của tình yêu trong gia đình, không những chỉ cho trẻ em, mà còn cho tất cả các thành viên của gia đình. Do đó, gia đình được mô tả là “trường học tình yêu”, “trường học hiệp thông”, “trường thực tập liên hệ,” nơi ưu tuyển mà chúng ta học để xây dựng các mối quan hệ có ý nghĩa, trợ giúp sự phát triển của con người cho đến khi có khả năng tự hiến. Một số câu trả lời nhấn mạnh rằng sự hiểu biết về mầu nhiệm và ơn gọi của con người có liên quan đến việc công nhận và chấp nhận những tài năng và khả năng khác nhau của mỗi người trong gia đình. Chúng ta thấy ở đây ý tưởng về gia đình là “trường học đầu tiên của nhân loại”: trong đó, nó được coi là không thể thay thế được. 

Những khác biệt, hỗ tương và lối sống gia đình

39. Vai trò của cha mẹ, những nhà giáo dục đầu tiên trong đức tin, được coi là cần thiết và quan trọng. Người ta thường nhấn mạnh đến chứng từ của việc chung thuỷ, và đặc biệt, vẻ đẹp của sự khác biệt của họ; đôi khi tầm quan trọng của vai trò riêng biệt của cha mẹ được nhấn mạnh. Trong trường hợp khác, người ta nhấn mạnh đến bản chất tích cực của tự do, sự bình đẳng giữa vợ chồng và sự hỗ tương của họ, cũng như sự cần thiết phải có sự tham gia của cả cha lẫn mẹ, cả trong việc giáo dục con cái lẫn việc nội trợ, như được nêu lên trong một số câu trả lời, đặc biệt là của những người từ Âu châu.

40. Đề cập thêm về sự khác biệt, có một số người nhấn mạnh đến sự phong phú của sự khác biệt giữa các thế hệ có thể có, được cảm nghiệm trong gia đình, trong đó có những biến cố quan trọng như sinh, tử, thành công và thất bại, mục tiêu đạt được và thất vọng. Qua những biến cố này và những biến cố khác, gia đình trở thành một nơi mà trẻ em lớn lên trong việc tôn trọng sự sống, trong việc hình thành cá tính của các em, qua tất cả các mùa của cuộc đời. 

41. Có những câu trả lời kiên quyết nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đức tin được cha mẹ chia sẻ và bày tỏ cách rõ ràng, bắt đầu bằng cách sống của các cặp vợ chồng trong mối liên hệ giữa họ và con cái, mà cũng qua việc chia sẻ sự hiểu biết và ý thức của họ về Đức Kitô - như được liên tục tái khẳng định - phải ở trung tâm của gia đình. Trong bối cảnh của một xã hội đa dạng, cha mẹ có thể cho con cái của họ một định hướng cơ bản cho đời sống của các em, là điều có thể nâng đỡ các em thậm chí sau thời thơ ấu. Đó là lý do tại sao chúng ta nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tạo ra một không gian và thời gian để ở bên nhau như một gia đình, cũng như sự cần thiết phải giao tiếp cởi mở và chân thành trong một cuộc đối thoại liên tục. 

42. Các câu trả lời đồng tâm nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc cầu nguyện trong gia đình, như một Hội Thánh tại gia (x. LG 11), để nuôi dưỡng một “nền văn hóa gia đình cầu nguyện” thật sự. Sự hiểu biết thật về Đức Chúa Giêsu Kitô thực sự được cổ võ trong gia đình qua việc cầu nguyện cá nhân, và đặc biệt dưới các hình thức cụ thể cùng việc sử dụng các nghi thức trong gia đình, được coi là một cách hiệu quả để truyền thụ đức tin cho con cái. Người ta cũng nhấn mạnh nhiều đến việc đọc Thánh Kinh chung, cùng các hình thức cầu nguyện khác, chẳng hạn như chúc lành cho bữa ăn và Kinh Mân Côi. Tuy nhiên, chắc chắn rằng gia đình, Hội Thánh tại gia, không thể thay thế cộng đồng giáo xứ; ngoài ra, người ta cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tham gia của gia đình vào đời sống bí tích, Thánh Lễ Chúa Nhật và các bí tích Khai Tâm Kitô Giáo. Nhiều câu trả lời cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Bí Tích Hòa Giải và việc sùng kính Đức Mẹ Maria. 

Gia đình và sự phát triển toàn diện 

43. Các câu trả lời nhấn mạnh đến tầm quan trọng của gia đình trong sự phát triển toàn diện của con người: gia đình tối cần thiết cho sự trưởng thành của tiến trình tình cảm và nhận thức, là những điều quyết định trong việc cấu tạo con người. Như một môi trường sống còn mà trong đó con người được hình thành, gia đình cũng là nguồn mạch từ đó con người rút ra ý thức rằng mình là con cái Thiên Chúa, được mời gọi để yêu thương. Những chỗ khác cũng đóng góp vào sự phát triển của con người, chẳng hạn như đời sống xã hội, sở làm, đời sống chính trị và Hội Thánh; tuy nhiên, người ta công nhận rằng những nền tảng nhân bản nhận được trong gia đình cho phép con người đến gần những mức độ tiếp theo của việc xã hội hoá và cấu tạo. 

44. Theo nhiều câu trả lời cho biết thì gia đình phải đương đầu với nhiều khó khăn và thử thách hàng ngày. Việc là một gia đình Kitô giáo không tự động đảm bảo là họ có thể được miễn những khủng hoảng, đôi khi sâu xa, tuy nhiên, qua đó chính gia đình được củng cố, và đưa đến việc nhận ra mục đích nguyên thủy của nó trong kế hoạch của Thiên Chúa, với sự nâng đỡ của hoạt động mục vụ. Gia đình là một thực tại “đã được quy định” và đảm bảo bởi Đức Kitô, và đồng thời được “xây dựng” mỗi ngày với lòng kiên nhẫn, cảm thông và tình yêu. 

Đi cùng ước muốn mới của gia đình và những khủng hoảng 

45. Một thực tại quan trọng được vạch ra từ những câu trả lời là, ngay cả khi đối diện với những tình cảnh rất khó khăn, nhiều người, nhất là người trẻ nhận thức được giá trị của mối dây liên hệ ổn định và lâu dài, một ước muốn thực sự về hôn nhân và gia đình, trong đó người ta thực hiện được sự chung thuỷ và bất khả phân ly của tình yêu, trong đó cung cấp sự an lành cho việc phát triển nhân bản và tâm linh. “Ước muốn lập gia đình” này tỏ ra là một dấu chỉ thực sự của thời đại, phải được hiểu như một cơ hội để làm mục vụ. 

46. Hội Thánh cần phải chăm sóc cho các gia đình đang sống trong những tình trạng khủng hoảng và căng thẳng; các gia đình cần được đồng hành trong suốt chu kỳ đời sống. Phẩm chất của các liên hệ trong gia đình phải là một trong những quan tâm quan thiết yếu của Hội Thánh. Sự nâng đỡ đầu tiên đến từ một giáo xứ sống như “gia đình của các gia đình,” được nhìn nhận như trung tâm của một cuộc canh tân mục vụ, chào đón và đồng hành, sống trong nhân từ và ân cần. Người ta cũng vạch ra tầm quan trọng của các tổ chức giáo xứ để nâng đỡ các gia đình. 

47. Hơn nữa, trong một số trường hợp, cần phải khẩn cấp trợ giúp những hoàn cảnh mà trong đó mối liên hệ gia đình đang bị đe dọa bởi tình trạng bạo lực trong gia đình, với những hành động can thiệp hỗ trợ có thể chữa lành vết thương, và loại trừ những nguyên nhân đã được xác định. Ở nơi nào lạm dụng, bạo hành và bỏ bê thống trị, thì ở đó không thể có sự tăng trưởng cũng như bất cứ ý thức nào về giá trị của gia đình.

48. Cuối cùng, người ta cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự hợp tác chặt chẽ giữa gia đình/nhà và giáo xứ, trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng, cũng như sự cần thiết của việc gia đình tham gia tích cực vào đời sống giáo xứ, qua các hoạt động bổ trợ và đoàn kết với các gia đình khác. Về vấn đề này, sự giúp đỡ qu‎ý hoá của cộng đồng bao gồm các gia đình. Việc là thành viên của các phong trào hoặc các hiệp hội cũng có thể đặc biệt quan trọng trong việc nâng đỡ. 

Việc đào tạo liên tục 

49. Những câu trả lời thường nhấn mạnh đến sự cần thiết của một mục vụ gia đình nhằm mục đích đào tạo liên tục và có hệ thống về giá trị của hôn nhân như một ơn gọi, và việc tái khám phá ra rằng làm cha mẹ là một hồng ân. Việc đồng hành với các cặp vợ chồng không nên chỉ hạn chế trong việc chuẩn bị hôn nhân, tuy nhiên, về điều này người ta ghi nhận rằng cần phải xét lại những phương thức. Đúng hơn, rõ ràng là cần phải đào tạo liên tục và có hệ thống hơn về: Thánh Kinh, thần học, tâm linh, nhưng cũng cả về con người và đời sống. Người ta đặc biệt mong ước rằng việc dạy giáo lý có một chiều kích liên thế hệ, tích cực liên quan đến cha mẹ trong hành trình khai tâm Kitô giáo của con cái. Một số câu trả lời vạch ra một lưu tâm đặc biệt về các lễ phụng vụ, như mùa Giáng Sinh và quan trọng nhất là lễ Thánh Gia, như những lúc quý giá để chứng tỏ tầm quan trọng của gia đình và hiểu được bối cảnh con người nơi Chúa Giêsu lớn lên, học nói, học yêu, học cầu nguyện và làm việc. Người ta cũng đề ra sự cần thiết của việc giữ ngày Chúa Nhật như ngày của Chúa, thậm chí theo quan điểm dân sự, như một ngày trong đó việc gặp gỡ nhau trong gia đình và với các gia đình khác được khuyến khích.

(còn tiếp) 



Nguyên bản: 
http://www.vatican.va/roman_curia/synod/documents/rc_synod_doc_20140626_instrumentum-laboris-familia_it.html

Phaolô Phạm Xuân Khôi7/31/2014(vietcatholic)


HÃY RAO GIẢNG LỜI CHÚA LÚC THUẬN TIỆN CŨNG NHƯ LÚC KHÔNG THUẬN TIỆN!

HÃY RAO GIẢNG LỜI CHÚA LÚC THUẬN TIỆN CŨNG NHƯ LÚC KHÔNG THUẬN TIỆN!

... Thứ bảy ngày 28-6-2014 Đức Hồng Y Philippe Barbarin, Tổng Giám Mục Lyon bên nước Pháp đã truyền chức linh mục cho 3 tiến chức. Đó là quý thầy: Gael De Breuvand, Jean-Baptiste Aubert và Nathanael Valdenaire. Xin giới thiệu chứng từ ơn gọi của 3 tân Linh Mục. Trước hết xin nhường lời cho Cha Gael De Breuvand.

Ngay từ thơ ấu tôi đã hấp thụ một nền giáo dục tôn giáo vững chắc từ gia đình. Chính Song Thân dạy tôi cầu nguyện. Lớn lên tôi theo học môn giáo lý và điểm quy chiếu thường nhật luôn luôn là THIÊN CHÚA. Thời niên thiếu tôi mơ ước trở thành bác sĩ, binh sĩ và linh mục!!! Đặc biệt tôi giữ kín trong lòng ước nguyện trở thành linh mục. Năm 14 tuổi tôi ký thác tâm sự với một Linh Mục và ngài khuyên tôi đào sâu mối quan hệ với Đức Chúa GIÊSU KITÔ đồng thời trân trọng giữ gìn ước muốn làm linh mục. Sau khi đậu tú tài tôi không chọn ngành bác sĩ nhưng nghĩ đến chuyện gia nhập Chủng Viện. Mặc dầu vậy, tôi vẫn do dự chưa dám quyết định. Tôi chọn ngành sử học rồi thi hành nghĩa vụ quân dịch và gia nhập quân đội năm 22 tuổi. Tôi ở trong quân đội 8 năm.

Năm 2005 quân đội gởi tôi đến lãnh địa Ả Rập Thống Nhất với sứ vụ làm việc trong một hãng dân sự về quân cụ. Thời gian một năm tại đây cho phép tôi có những liên hệ trực tiếp với một giáo xứ khiến tôi nghĩ rằng tôi có thể sống không cần quân đội. Lễ Giáng Sinh năm ấy tôi trở về Pháp và đến sống một tuần nơi một đan viện. Tại đây thời gian chín mùi đủ để tôi có thể sẵn sàng đáp lại Tiếng Chúa Gọi.

Thời kỳ huấn luyện khởi đầu tại Paray-le-Monial nơi tôi trải qua một năm tiền chủng viện thể theo lời yêu cầu của Đức Hồng Y Philippe Barbarin. Đây là thời gian giúp tôi đặt nền tảng cho việc cầu nguyện và đời sống bí tích. Sau đó tôi học hai năm tại chủng viện Saint-Irénée ở Lyon rồi 3 năm tại Chủng Viện ở Roma. Nơi kinh thành muôn thưở tôi như được đụng chạm đến tính chất hoàn vũ của Giáo Hội Công Giáo duy nhất thánh thiện và tông truyền. Trong Chủng Viện chúng tôi có đến 87 quốc tịch khác nhau! Đúng thật là nét đa dạng cho phép chúng tôi trải qua một kinh nghiệm tuyệt vời!!!

Ước muốn đầu tiên của tôi là làm cho Đức Chúa GIÊSU KITÔ được nhận biết, được kính yêu và được tôn thờ. Tôi cầu mong sẽ truyền đạt Người qua việc đồng hành, huấn giáo và hồng ân các bí tích.

... Chứng từ của tân Linh Mục Jean-Baptiste Aubert.

Tôi là trai út của gia đình có ba người con. Ngay từ niên thiếu tôi đã dấn thân trong các sinh hoạt giáo xứ. Giáo xứ gần giống như gia đình thứ hai của tôi. Trước ngày xưng tội và rước lễ lần đầu tôi đã là chú bé giúp lễ. Tôi giữ một kỷ niệm khó quên với Ca Đoàn mà tôi là thành viên. Qua các phục vụ khác nhau này tôi khám phá ra một cộng đoàn giáo xứ sống động nhiệt thành và hiệp nhất. Nhưng nhất là Cha Sở giáo xứ là Cha Fealy đã gây một ảnh hưởng rất lớn đối với tôi. Ngài là vị Linh Mục có Đức Tin sâu xa, sốt sắng cầu nguyện và luôn quan tâm chú ý đến những kẻ bé nhỏ nhất. Chính các mẫu gương lành thánh đã đưa tôi đến quyết định đáp lại Tiếng Chúa Gọi.

Vốn là hướng đạo sinh và là nhân viên thiện nguyện giúp khiêng cáng bệnh nhân nơi Trung Tâm Thánh Mẫu Lộ Đức, tôi khám phá ra rằng cần phải đặt trọn niềm tin tưởng nơi THIÊN CHÚA thì mới có thể tiến bước. Khi gần gũi các bệnh nhân tôi tự nhủ: Mình mạnh khoẻ như thế này, tại sao lại nghi ngờ???. Nơi Lộ Đức, bên cạnh các người đau yếu tật nguyền tôi gặp được một Giáo Hội đầy lòng thương cảm. Và tôi xin gia nhập Chủng Viện.

Tôi qua một năm phân định ơn tại Paray-le-Monial. Sau đó tôi tiếp tục học trình tại Chủng Viện Saint-Irénée ở Lyon trước khi tiếp tục theo đuổi việc học tại Bruxelles thuộc vương quốc Bỉ và chịu chức phó tế năm 2013.

Đối với tôi, mẫu gương của các Vị Giáo Hoàng gần đây nhất minh chứng gương mặt đích thật của Giáo Hội Công Giáo. Với Đức Gioan Phaolô II là sức mạnh của Hy Vọng. Với Đức Biển Đức XVI là đòi hỏi của Sự Thật, của Huấn Luyện và tìm kiếm THIÊN CHÚA trong mọi sự. Với Đức đương kim Giáo Hoàng Phanxicô là lòng thương cảm và một tiếng gọi đi đến với tha nhân.

... Chứng từ của tân Linh Mục Nathanael Valdenaire.

Tôi là con thứ tư trong gia đình có 6 anh chị em. Ngay từ nhỏ tôi đã thực hành việc cầu nguyện chung trong gia đình. THIÊN CHÚA luôn luôn hiện diện và là thành phần của cuộc đời tôi. Khi còn là một thiếu niên tôi đã ước ao dâng hiến toàn thân cho THIÊN CHÚA. Tôi đặc biệt ước muốn trở thành một nhà giáo dục chuyên biệt. Năm 18 tuổi tôi rời thành phố quê sinh để đến sống một năm nơi Cộng Đoàn Con Tàu do ông Jean Vanier thành lập. Qua một năm tôi gia hạn thêm một năm nữa vì cảm kích tinh thần của Cộng Đoàn dành trọn sức lực và khả năng để phục vụ các anh chị em tàn tật, những người kém may mắn nhất. Đây là thời gian phúc lành giúp tôi tiến bước trên con đường ơn gọi linh mục.

Hai năm sống cạnh các anh chị em khuyết tật dạy tôi chỉ chú ý đến điều chính yếu: đó là yêu thương và được yêu thương. Đôi khi các anh chị em khuyết tật minh chứng cho tôi thấy rằng: ”Những người bình thường lại là những kẻ tàn tật Tình Yêu!”. Các anh chị em khuyết tật dạy chúng ta biết chấp nhận các giới hạn và các yếu đuối của chúng ta. Tôi thường ngỡ ngàng trước niềm vui hàng ngày của các anh chị em tàn tật. Các cuộc gặp gỡ diễn ra trong chân thành và đi thẳng vào trái tim. Thời gian sống tại Cộng Đoàn Con Tàu giúp tôi được chữa lành, biết chấp nhận các bất toàn và tự để mình được yêu thương. Tôi cũng cảm nghiệm thế nào là niềm vui của việc dâng hiến.

Ngoài ra trong thời gian sống bên Phi Châu và có dịp viếng thăm các tù nhân tôi đã khám phá ra niềm vui tỏ lộ trên khuôn mặt của những người đang sống trong hoàn cảnh đau thương khốn cùng. Đây chỉ có thể là niềm vui đến từ THIÊN CHÚA!!!

... ”Trước mặt THIÊN CHÚA và Đức GIÊSU KITÔ, Đấng sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết, Đấng sẽ xuất hiện và nắm vương quyền, tôi tha thiết khuyên anh: Hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ. Thật vậy, sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng chạy theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường. Phần anh, hãy thận trọng trong mọi sự, hãy chịu đựng đau khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của anh. Còn tôi, tôi sắp đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính. Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện” (2Timôthê 4,1-8).

(”EGLISE A LYON”, Le Magazine De L'Actualité Diocésaine, No 06, Juin 2014, trang 22-23)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt