Trang

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2025

SƠ SIMONA BRAMBILLA, TÂN TỔNG TRƯỞNG BỘ CÁC TU HỘI ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀ CÁC HIỆP HỘI ĐỜI SỐNG TÔNG ĐỒ

 

Sơ Simona Brambilla, tân Tổng trưởng Bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ 

 


Đức Thánh Cha bổ nhiệm người nữ đầu tiên làm Bộ trưởng ở Vatican

Vào ngày 6/1/2025, Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm Sơ Simona Brambilla, một nữ tu người Ý thuộc Dòng Truyền giáo Consolata, làm Tổng trưởng của Bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ.

Vatican News

Đức Thánh Cha cũng chọn Đức Hồng y Ángel Fernández Artime, 65 tuổi, nguyên Bề trên Tổng quyền Dòng Salêdiêng, được phong làm Hồng y trong Công nghị Hồng y vào ngày 30/9/2023, làm “Phụ Tổng trưởng” (pro-prefetto) của cùng Bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ, để hỗ trợ vị Tổng trưởng của Bộ trong một số lãnh vực cụ thể.

Sơ Simona Brambilla 60 tuổi, đã là một y tá chuyên nghiệp trước khi gia nhập Dòng Nữ tu Truyền giáo Consolata và đã truyền giáo ở Mozambique. Sơ đã phục vụ trong chức vị Bề trên Tổng quyền của Dòng Truyền giáo Consolata từ năm 2011 đến năm 2023.

Vào ngày 8/7/2019, lần đầu tiên Đức Thánh Cha bổ nhiệm bảy phụ nữ làm thành viên của Bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ. Sau đó, vào ngày 7/10/2023, Sơ Simona đã được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm Tổng Thư ký của cùng Bộ này. Và ngày 6/1/2025, sơ trở thành người phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm làm Tổng trưởng của một Bộ của Tòa Thánh.

Kể từ thời Đức Giáo hoàng Phanxicô, số phụ nữ làm việc tại Vatican đã tăng lên. Theo dữ liệu chung bao gồm cả Tòa Thánh và Quốc gia Thành Vatican, từ năm 2013 đến năm 2023, tỷ lệ phụ nữ ở Vatican đã tăng từ 19,2% lên 23,4%.

Theo một lộ trình được nêu trong Tông hiến Praedicate Evangelium, được ban hành năm 2022, Đức Thánh Cha đã tạo điều kiện cho giáo dân, bao gồm cả phụ nữ, lãnh đạo một Bộ của Tòa Thánh và trở thành Tổng trưởng, một vai trò trước đây chỉ dành cho các Hồng y và Tổng Giám mục.

Tại Quốc gia Thành Vatican, Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm hai phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo. Năm 2016, ngài đã bổ nhiệm bà Barbara Jatta làm Giám đốc Bảo tàng Vatican, nơi theo truyền thống do giáo dân lãnh đạo. Năm 2022, ngài đã bổ nhiệm Sơ Raffaella Petrini làm Tổng thư ký của Phủ Thống đốc, một vai trò thường do một Giám mục đảm nhiệm.

Có một số phụ nữ giữ chức vụ Phó Tổng Thư ký các Bộ của Tòa Thánh, ví dụ như Gabriella Gambino và Lina Ghisoni tại Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, trong khi Sơ Carmen Ros Nortes thuộc Dòng Đức Mẹ An ủi giữ chức Phó Tổng Thư ký tại Bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ. Cũng có một số phụ nữ giữ các chức vụ cao tại các cơ quan khác của Tòa Thánh.

https://www.vaticannews.va/vi/vatican-city/news/2025-01/duc-thanh-cha-so-simona-brambilla-tong-truong-bo-dong-tu.html

 

JORDAN KHÁNH THÀNH NHÀ THỜ PHÉP RỬA, DẤU HIỆU HÒA BÌNH Ở TRUNG ĐÔNG

 

Jordan khánh thành Nhà thờ Phép Rửa, dấu hiệu hòa bình ở Trung Đông

Vũ Văn An  06/Jan/2025

 

Tạp chí AsiaNews ngày 4 tháng 1, năm 2025, loan tin Đức Hồng Y Pietro Parolin sẽ chủ trì buổi lễ long trọng với tư cách là đặc sứ của Đức Giáo Hoàng vào ngày 10 tháng 1. Công trình này tọa lạc trên vùng đất ở khu vực Wadi al-Kharrar do Vua Abdullah II tặng, nơi nhà khảo cổ học dòng Phanxicô Michele Piccirillo đã khai quật một số nhà thờ do các cộng đồng Kitô giáo đầu tiên xây dựng để tưởng nhớ câu chuyện Tin mừng, kỷ niệm hai nghìn năm sẽ được tổ chức tại đây vào năm 2030.

 


Ảnh: Abouna.org

 

Amman (AsiaNews/Agencies) – Cộng đồng Công Giáo Jordan đang chuẩn bị trải qua một khoảnh khắc rất quan trọng với lễ khánh thành long trọng Nhà thờ Phép Rửa của Chúa Giêsu ở Wadi al-Kharrar, địa điểm ở vùng sa mạc gần Sông Jordan, nơi theo truyền thống cổ xưa, câu chuyện Tin mừng về phép rửa của Chúa Giêsu do Thánh Gioan Tẩy Giả thực hiện đã diễn ra.

Buổi cử hành sẽ được tổ chức vào thứ sáu, ngày 10 tháng 1, do Quốc vụ khanh Vatican, Hồng Y Pietro Parolin, người được Đức Giáo Hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm đặc sứ của ngài, chủ trì. Khoảng 7,000 người dự kiến sẽ tham dự buổi cử hành, bao gồm những người Công Giáo từ Đất Thánh và khách từ nước ngoài.

Việc phát hiện ra địa điểm Al-Maghtas (Lễ rửa tội hoặc lễ dìm mình), gần Wadi al-Kharrar là kết quả của cuộc nghiên cứu do nhà khảo cổ học vĩ đại Michele Piccirillo, một tu sĩ dòng Phanxicô đã qua đời vào năm 2008, thực hiện. Bằng cách đồng nhất hóa địa điểm này với "Bêtania bên kia sông Jordan" được đề cập trong Tin mừng Gioan, ngài đã đưa ra ánh sáng dấu vết của một số nhà thờ cổ, cho thấy cách các cộng đồng Kitô giáo thời cổ đại lần đầu tiên nhận diện địa điểm này là nơi Chúa Giêsu chịu phép rửa.

Phần còn lại do hoàng gia Jordan thực hiện, những người tin tưởng mạnh mẽ vào tiềm năng của khám phá này đối với đối thoại liên tôn và du lịch. Vua Jordan đã hiến đất cho tất cả các giáo phái Kitô giáo có mặt tại Jordan, cho phép mỗi giáo phái xây dựng một nhà thờ mới tại địa điểm quan trọng này trên bờ sông Jordan.

Đức Gioan Phalô II đã đến thăm địa điểm này vào năm 2000 trong chuyến hành hương lịch sử đến Đất Thánh. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đic-tô XVI đã đến thăm vào năm 2009 khi đặt viên đá đầu tiên của Nhà thờ Latinh, trong khi Đức Giáo Hoàng Phaxicô đã đến thăm địa điểm xây dựng vào năm 2014, nơi nhà thờ mới sẽ được long trọng khánh thành.

Việc hoàn thành nhà thờ trong năm Thánh này là một bước quan trọng hướng tới một kỷ niệm khác ở vùng Đất Thánh này; trên thực tế, Địa điểm phép Rửa đang chuẩn bị kỷ niệm hai nghìn năm Chúa Giêsu chịu phép rửa trên dòng sông Jordan vào năm 2030.

Với chương trình nghị sự này, mọi người hy vọng rằng hòa bình sẽ cho phép nhiều người hành hương trải nghiệm kỷ niệm quan trọng này tại địa điểm linh thiêng này ở Jordan. Trong khi đó, những đề xuất tâm linh mới vẫn tiếp tục được đưa ra, làm phong phú thêm cho khu vực này.

Mùa hè năm ngoái, Hoàng tử Ghazi bin Mohammed, Cố vấn trưởng của Vua Abdullah II về các vấn đề tôn giáo và văn hóa và là chủ tịch Hội đồng quản trị của Cơ quan quản lý địa điểm phép rửa, đã chính thức khai trương Đường mòn Gioan Tẩy Giả, một con đường mòn dài khoảng ba cây số bao gồm bảy trạm khác nhau được đánh dấu bằng các bài sy niệm trong Kinh thánh.

Con đường bắt đầu từ Jabal Mar-Elias (Đồi Elijah), băng qua Wadi Al-Kharrar đến bồn phép rửa, Suối Gioan Tẩy Giả và tàn tích của các nhà thờ địa phương được xây dựng từ cổ thời để tưởng nhớ đến phép rửa của Chúa Giêsu. Con đường mòn kết thúc ngay tại Nhà thờ Latinh.

 

https://vietcatholic.net/News/Html/293599.htm

CÁO PHÓ: ĐỨC CHA CỐ GIUSE TRẦN XUÂN TIẾU

 



CÁO PHÓ

 

Trong niềm tin vào Đức Kitô phục sinh, Tòa Giám mục Long Xuyên kính báo: Đức Cố Giám mục Giuse Trần Xuân Tiếu vừa hoàn tất cuộc đời dương thế. 

Chương trình lễ An táng sẽ được thông báo sau. 

Thánh lễ Đưa chân Đức Cha Cố Giuse Trần Xuân Tiếu, nguyên Giám mục giáo phận Long Xuyên sẽ được cử hành lúc 14g00 ngày 07/01/2025 tại nhà nguyện Tòa Giám mục Long Xuyên. 

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2025

NÃO THỐI LÀ GÌ VÀ TẠI SAO NÓ LẠI LÀ TỪ NGỮ CỦA NĂM 2024?

 

Não Thối là gì và tại sao nó lại là từ ngữ của năm 2024?

Vũ Văn An  31/Dec/2024

 

 


ChatGPT thay đổi bởi Aleteia

 

John Touhey của Aleteia, vào ngày cuối năm 31/12/24, nhìn lại năm qua bằng việc nghĩ tới từ ngữ Nhà xuất bản Oxford dùng để gọi nó: Não thối (Brain rot):

Khi Oxford công bố từ ngữ của năm 2024, phản ứng của mọi người thay đổi từ ghê tởm đến ngạc nhiên. Sau đây là lý do tại sao chúng ta nên nghiêm túc xem xét lựa chọn này.

Hàng năm, Nhà xuất bản Đại học Oxford sẽ chọn một từ ngữ của năm phản ảnh "tâm trạng và cuộc trò chuyện đã góp phần định hình năm qua". Từ ngữ của năm 2024 không hẳn là dễ chịu. Trên thực tế, nó khá đáng lo ngại: não thối.

Các nhà từ điển học tại Oxford định nghĩa chứng não thối là "sự suy thoái được cho là về trạng thái tinh thần hoặc trí tuệ của người ta, đặc biệt được xem là kết quả của việc tiêu thụ quá nhiều tài liệu (đặc biệt là nội dung trực tuyến) được coi là tầm thường hoặc không có thách thức. Ngoài ra: nó là một thứ gì đó được mô tả là có khả năng dẫn đến sự suy thoái như vậy”.

Một thuật ngữ cũ với một sự thay đổi mới

Theo Oxford, chứng não thối không phải là một thuật ngữ mới. Lần đầu tiên nó được Henry David Thoreau sử dụng trong cuốn sách Walden xuất bản năm 1854 của ông, trong đó ông suy nghĩ về cách công chúng thích những ý tưởng đơn giản hơn những ý tưởng phức tạp và tinh tế hơn:

"Trong khi nước Anh nỗ lực chữa khỏi chứng khoai tây thối, thì liệu có nỗ lực nào để chữa khỏi chứng não thối - thứ đang lan rộng và gây tử vong hơn nhiều không?"

Các thế hệ trẻ ngày nay đã áp dụng khái niệm của Thoreau và áp dụng nó vào văn hóa trực tuyến như một nhãn hiệu cho nội dung thiếu bản chất hoặc giá trị thực sự. Nó cũng đề cập đến tác động của nội dung đó đối với người đọc.

Chứng não thối có thực sự không?

Nhà xuất bản Đại học Oxford nhấn mạnh rằng chứng não thối không phải là định nghĩa lâm sàng của một căn bệnh. Tuy nhiên, có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy việc lạm dụng mạng xã hội đã tác động tiêu cực đến nhận thức của con người, đặc biệt là ở thế hệ trẻ.

Khả năng tập trung đã giảm mạnh, trong khi khả năng ghi nhớ thông tin và trí nhớ cũng có vẻ đang giảm. Theo một nghiên cứu trên tạp chí khoa học Nature, việc sử dụng internet có vấn đề (PUI) thậm chí có thể làm giảm lượng chất xám trong não của chúng ta.

Mặc dù vẫn còn nhiều điều cần tìm hiểu, nhưng bất cứ ai dành quá nhiều thời gian để lướt qua nội dung vô nghĩa trên web đều có thể chứng thực tác động tiêu cực của những nội dung như vậy đối với sức khỏe tinh thần và cảm xúc của chúng ta.

Biện pháp khắc phục tình trạng não bị thối rữa khá đơn giản:

Giảm thời gian sử dụng màn hình
Kiềm chế việc sử dụng mạng xã hội
Lựa chọn các trang web trực tuyến một cách cẩn thận
Tham gia các hoạt động kích thích trí óc
Tham gia các bài tập thể dục

Tất nhiên, Aleteia cũng khuyên bạn nên chú ý đến đời sống tâm linh của mình: giao tiếp với Chúa qua lời cầu nguyện, phục vụ nhu cầu của những người kém may mắn và nuôi dưỡng mối quan hệ sâu sắc hơn với gia đình, bạn bè và cộng đồng. Những giá trị này quan trọng trong thời đại của chúng ta cũng như trong thời của Thoreau – hoặc tại bất cứ thời điểm nào trong lịch sử loài người.

Người về nhì và người chiến thắng thay thế

Các nhà từ điển học và nhân viên của Oxford chọn năm từ ngữ hoặc thuật ngữ mỗi năm và sau đó gửi chúng cho công chúng để bỏ phiếu. Trong số các từ ngữ được đề nghị khác cho năm 2024, người ta thấy các chữ phiêu lưu lãng mạn, sự cẩu thả và định giá năng động (romantasy, slop, and dynamic pricing).

Các trang web khác cũng chọn từ ngữ của riêng họ trong năm. Đối với Merriam-Webster, đó là sự phân cực (polarization), trong khi Dictionary.com, sử dụng Từ điển không tóm tắt Random House làm nguồn chính, đã chọn từ demure [làm ra vẻ nghiêm trang]là từ ngữ chiến thắng của năm 2024.

 

https://vietcatholic.net/News/Html/293515.htm

CÁC GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU KHAI MẠC NĂM THÁNH

 


Khai mạc Năm Thánh tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội

 

Các Giáo hội tại Á Châu khai mạc Năm Thánh

Chúa Nhật ngày 29/12/2024, các giáo phận trên toàn thế giới, từ các giáo phận ở Việt Nam, cho đến Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, đã hiệp thông với Giáo hội hoàn vũ, long trọng khai mạc Năm Thánh với sự tham dự của đông đảo tín hữu.

Hồng Thủy - Vatican News

Chúa Nhật ngày 29/12/2024, tại Roma, Đức Hồng y Baldo Reina, Giám quản Giáo phận Roma, vị đại diện Đức Thánh Cha cai quản giáo phận Roma, đã chủ sự Thánh lễ mở Cửa Thánh tại Đền thờ Thánh Gioan ở khu vực Laterano của Roma, Nhà thờ Chính tòa của giáo phận Roma, giáo phận của Đức Thánh Cha, và do đó cũng là Nhà thờ Chính tòa của ngài. Đền thờ này là nhà thờ Mẹ của các nhà thờ trên thế giới. Nghi lễ mở Cửa Thánh tại Đền thờ Thánh Gioan Laterano cũng đánh dấu việc khai mạc Năm Thánh 2025 tại tất cả các giáo phận trên toàn thế giới. Năm Thánh này, theo ý muốn của Đức Thánh Cha, có chủ đề là "Những người hành hương hy vọng".

Tổng giáo phận Hà Nội

Tại Việt Nam, các giáo phận đã hiệp thông với Giáo hội hoàn vũ, long trọng khai mạc Năm Thánh với sự tham dự của đông đảo tín hữu. Tổng giáo phận Hà Nội khai mạc Năm Thánh với Thánh lễ do Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên chủ sự, và đặc biệt, có sự hiện diện của Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski – Đại diện Toà Thánh thường trú tại Việt Nam.

Mở đầu nghi thức, Đức Tổng Giám mục của Hà Nội lưu ý rằng Năm Thánh là năm hồng ân, trong đó tín hữu được kín múc ơn cứu độ từ thập giá Đức Ki-tô, được hoà giải, sám hối và canh tân. Năm Thánh cũng là năm thế giới đón nhận ơn lành và hòa bình.

Trong bài giảng, ngài giải thích với cộng đoàn về nghi thức khai mạc Năm Thánh đã diễn ra đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa. Cánh cửa là chính Chúa Giêsu. Cánh cửa ấy không chỉ mở ra không gian mới, mà còn mở ra một thời gian mới để mọi tín hữu đón nhận hồng ân, trở thành những người hành hương của hy vọng trong một thế giới còn tối tăm của hận thù, chia rẽ. Cánh cửa ấy còn nói lên điều vô cùng kỳ diệu, đó là mở cửa cho con người bước vào Giáo hội. Nghi thức làm phép nước và rảy nước thánh nhắc lại bí tích Rửa Tội, khi con người được trở nên con Thiên Chúa.

Tuy nhiên, Đức Tổng Giám mục lưu ý rằng chúng ta không chỉ bước qua ngưỡng cửa và đứng yên đó, nhưng như lời mời gọi của vị cha chung Giáo hội toàn cầu, mỗi người hãy lên đường hành hương. Hành hương không phải du lịch mà là suy tư, cầu nguyện, dọn mình chịu các Bí tích. Dù thế giới có nhiều bóng tối, Đức Tổng mời gọi cộng đoàn đặt niềm hy vọng vào Đức Giêsu. Ngài mời gọi cầu nguyện, canh tân chính bản thân, tìm niềm hy vọng cho chính mình và mang niềm hy vọng lan toả trong đời sống mỗi người. (Web TGPHN 29/12/2024)

Tổng Giáo phận Sài Gòn

Tại Sài Gòn, chủ sự Thánh lễ khai mạc Năm Thánh, Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng của Tổng giáo phận Sài Gòn khích lệ các tín hữu rằng giữa thế giới đầy dẫy những đau khổ và tăm tối, từ chiến tranh, nghèo đói, di cư, cho đến sự hủy diệt môi trường, "Chúng ta hãy sống niềm hy vọng Kitô giáo, trở thành những người lan tỏa niềm hy vọng ấy cho những ai đang đau khổ. Chính chúng ta là những người hành hương hy vọng, mang lại niềm tin và sự an ủi cho thế giới xung quanh". Ngài cũng nhắn nhủ mọi người "thực hành lòng thương xót, bằng cách trở thành niềm hy vọng cho những người xung quanh". Ngài nói thêm: "Mỗi lần thực hành lòng thương xót, chúng ta sẽ nhận được ơn toàn xá, và đây là cơ hội để chúng ta làm lan tỏa niềm hy vọng Kitô giáo, làm ngọn lửa sưởi ấm những trái tim lạnh giá".

Điều quan trọng được Đức Tổng Giám mục Sài Gòn nhắc nhở là: "Chúng ta hãy cầu nguyện để khơi dậy niềm hy vọng trong tâm hồn, vì chỉ khi cầu nguyện, chúng ta mới nhận ra rằng: dù cuộc đời hiện tại đầy tăm tối, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy ánh sáng hy vọng ở cuối đường hầm. Chúng ta không chỉ sống cho chính mình, mà còn cần lan tỏa niềm hy vọng này cho mọi người, trở thành niềm hy vọng cho những người đau khổ. Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta sẽ thực sự sống trọn vẹn với ý nghĩa của Năm Thánh này”. (Web TGPSG 29/12/2024)

Giáo phận Thượng Hải

Tại Trung Quốc, từ Thượng Hải đến Bắc Kinh, nhiều cộng đồng Công giáo cùng với các Giám mục và linh mục của họ đã cùng nhau cử hành Thánh lễ khai mạc Năm Thánh vào thứ Bảy ngày 28/12, để các linh mục và Giám mục có thểcử hành phụng vụ Chúa Nhật tại các giáo phận và giáo xứ của họ. Tham dự Thánh lễ khai mạc Năm Thánh, ngoài các tín hữu, còn có nhiều người hiếu kỳ, đặc biệt là giới trẻ.

Tại Thượng Hải, Thánh lễ khai mạc Năm Thánh của giáo phận được Đức Cha Giuse Thẩm Bân (Shen Bin) chủ sự. Trong bài giảng, Đức Cha Giuse Thẩm khuyến khích mọi người “nhen lại ngọn lửa hy vọng trong trái tim chúng ta bằng sức mạnh mà Lời Chúa ban cho chúng ta, và truyền niềm hy vọng này đến mọi người bằng những hành động cụ thể, trở thành những người xây dựng hòa bình, những người mang lại hòa bình cho anh chị em chúng ta đang gặp khó khăn, cho người bệnh tật và người nghèo, người trẻ, người di tản, người cô đơn và người già”.

Sau bài giảng, Đức Cha chỉ định 6 nhà thờ và đền thánh của giáo phận là địa điểm mà các tín hữu có thể hành hương Năm Thánh để lãnh nhận ơn toàn xá. Trong số các địa điểm này có đền thánh Đức Mẹ Xà Sơn (Sheshan). Sau đó toàn thể cộng đoàn long trọng đọc lời nguyện Năm Thánh, cử hành việc sám hối cộng đồng (theo yêu cầu để lãnh nhận ơn toàn xá liên quan đến Năm Thánh) và nhận phép lành của Đức Giám mục. Đức Cha nói: “Trong Năm Thánh 2025, tất cả chúng ta sẽ có thể cảm nghiệm được tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa một cách dồi dào hơn, và nhờ đó giữ cho ngọn lửa hy vọng luôn bùng cháy và thực hành các công việc bác ái và lòng thương xót một cách nhiệt thành”. (Fides 29/12/2024)

Tổng Giáo phận Seoul

Nhà thờ Myeongdong trở thành tâm điểm của cộng đồng Công giáo Seoul vào ngày 29/12 khi Đức Tổng Giám mục Peter Soon-taick Chung chủ sự Thánh lễ khai mạc Năm Thánh 2025.

Trước bàn thờ là Thánh giá của Năm Thánh Hy vọng, được chế tác từ những sợi dây sắt lấy từ Khu phi quân sự (DMZ) chia cắt Bắc và Nam Triều Tiên, mang ý nghĩa sâu sắc như một biểu tượng của hy vọng và hòa giải.

Trong bài giảng, Đức Tổng Giám mục Chung đã chia sẻ với cộng đoàn một thông điệp mạnh mẽ về bản chất của hy vọng. Ngài nói: “Hy vọng không chỉ là một mong muốn thụ động; đó là một đức tin kiên định trước những thách thức”, đồng thời kêu gọi các tín hữu nắm bắt Năm Thánh như một cơ hội cho sự canh tân một cách có ý nghĩa và tham gia tích cực vào công lý trong cộng đồng của họ. Ngài giải thích thêm rằng “Hy vọng khuyến khích chúng ta đối mặt với thực tế khắc nghiệt của thế giới và tin vào khả năng thay đổi của chúng ta, cả trong cuộc sống và trong xã hội của chúng ta”.

Tổng Giám mục của Seoul cũng thu hút sự chú ý đến ý nghĩa của Thánh giá Năm Thánh. Ngài khẳng định: “Đây là minh chứng hùng hồn cho khát vọng chung của chúng ta về hòa bình tại Hàn Quốc. Nó kêu gọi chúng ta nhìn xa hơn những thách thức cá nhân và cam kết chữa lành và đoàn kết với những người đang phải chịu đựng khó khăn”. Ngài nhấn mạnh tiềm năng biến đổi của hy vọng tập thể khi nói rằng “Hy vọng thực sự mang sức mạnh định hình không chỉ trái tim chúng ta mà còn cả cấu trúc xã hội của chúng ta, truyền cảm hứng cho chúng ta sống cuộc sống phục vụ và yêu thương”.

Thánh lễ thu hút nhiều giáo dân khác nhau, bao gồm các linh mục giáo phận, thành viên của các cộng đồng tôn giáo và các đại biểu trẻ, tất cả cùng nhau cam kết chung về hành trình đức tin. Giáo hội tại Seoul kêu gọi các tín hữu làm việc để biến đổi cả cuộc sống cá nhân và xã hội nói chung, thể hiện tinh thần phục vụ và lòng trắc ẩn.

Giáo phận Kalookan của Philippines

Tại Philippines, Đức Hồng y Pablo Virgilio David của giáo phận Kalookan đã kêu gọi các tín hữu Công giáo hãy đón nhận sứ mạng là “Những người hành hương của hy vọng” khi Giáo hội chính thức khai mạc Năm Thánh 2025. Ngài mô tả tín hữu hành hương là một loại lữ khách đặc biệt.

Ngài nói trong bài giảng: “Người hành hương là một loại lữ khách độc đáo. Không giống như những người có hành trình du lịch, kinh doanh hoặc các mục đích khác, người hành hương du hành với lòng sùng kính thiêng liêng. Đó là lý do tại sao tôi đề xuất dịch thuật ngữ này là 'Những người du hành mộ đạo của hy vọng'".

Suy tư về sự lạc quan của người Philippines, Đức Hồng y David đã nhấn mạnh một cuộc khảo sát gần đây cho thấy 96% người Philippines bày tỏ hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn vào năm 2024, ngay cả trong nghịch cảnh. Ngài cho rằng sức bền bỉ này là nhờ đức tin mạnh mẽ của đất nước. “Mức độ hy vọng cao của chúng ta bắt nguồn sâu sắc từ niềm tin rằng ‘Nơi nào có sự sống nơi đó có hy vọng’. Bất chấp những thử thách mà chúng ta phải đối mặt, chúng ta luôn giữ vững niềm tin rằng ‘Chúa là Đấng nhân từ’ và ‘Chúa sẽ chăm lo mọi thứ’”.

Tuy nhiên, Đức Hồng y David thừa nhận rằng hy vọng này không phải là phổ quát. Nhiều người Philippines vẫn tiếp tục sống trong cảnh nghèo đói hoặc chịu đựng những điều kiện vô nhân đạo, trầm trọng hơn do thiên tai và những thách thức của xã hội. Ngài nhấn mạnh rằng chủ đề “Những người hành hương của hy vọng” đóng vai trò như một lời mời gọi thắp lại đức tin và lòng can đảm. Ngài giải thích: “Đức Giáo hoàng Phanxicô đã chọn chủ đề này để khôi phục bầu không khí tin tưởng và tự tin, thắp lại ngọn lửa hy vọng trong chúng ta và giúp mọi người có thêm sức mạnh và sự chắc chắn khi chúng ta hướng tới tương lai với trái tim rộng mở, sự bình yên trong tâm hồn và một chân trời rộng mở”.

Đức Hồng y nhắc nhở các tín hữu rằng hy vọng Kitô giáo bắt nguồn từ tình yêu của Thiên Chúa: “Tình yêu là nền tảng của hy vọng của chúng ta; chúng ta kiên trì vì chúng ta được Thiên Chúa yêu thương” và trích dẫn Thánh Phaolô: “Không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, dù là sự chết, hiện tại hay tương lai” (x. Rm 8,39).

Kêu gọi sự hiệp nhất và hành động tập thể theo tinh thần hiệp hành, Đức Hồng y chỉ vào biểu tượng Năm Thánh, mô tả Dân Chúa trên một chiếc thuyền vượt biển động với Thánh giá là mỏ neo và nói: “Chúng ta được kêu gọi biến đổi các mối quan hệ của mình để phát triển trong tình bạn và sự hiệp thông, để học cách tin tưởng và lắng nghe nhau”.  

Khuyến khích các tín hữu đón nhận vai trò của mình là những tông đồ truyền giáo, Đức Hồng y David nói: “Là những người hành hương của hy vọng, chúng ta được sai đi thành lập một cộng đồng tông đồ truyền giáo. Năm Thánh thường niên 2025 là cơ hội tốt nhất để bắt đầu định hình tính hiệp hành trong các cộng đồng giáo hội cơ bản, giáo xứ và giáo phận của chúng ta. Cùng nhau, chúng ta hành trình trong hy vọng. Cùng nhau, chúng ta bước đi trong tình yêu”. (LiCAS 30/12/2024)

 

https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2025-01/giao-hoi-a-chau-khai-mac-nam-thanh.html

THÔNG ĐIỆP NGÀY HÒA BÌNH THẾ GIỚI 2025 CỦA ĐỨC PHAN-XI-CÔ

 

Thông điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2025 của Đức Phanxicô

Vũ Văn An  01/Jan/2025

 


Antoine Mekary | ALETEIA

 

Aleteia, trong ấn bản ngày 01/01/25, đã phổ biến sứ điệp hòa bình năm 2025 của Đức Phanxicô:

Trong chu kỳ tha thứ này, xin ban cho chúng con sự bình an của Chúa, sự bình an mà chỉ mình Chúa mới có thể ban cho những ai để mình được hạ vũ khí trong lòng...

Xin tha thứ cho chúng con những tội lỗi của chúng con: xin ban cho chúng con sự bình an của Chúa


I. Lắng nghe lời cầu xin của một nhân loại đang bị đe dọa

1. Vào lúc bình minh của Năm Mới được Cha trên trời của chúng ta ban cho chúng ta, một năm Hồng Ân trong tinh thần hy vọng này, tôi xin gửi lời chúc hòa bình chân thành nhất đến mọi người nam và nữ. Tôi đặc biệt nghĩ đến những người cảm thấy bị áp bức, gánh nặng bởi những lỗi lầm trong quá khứ, bị áp bức bởi sự phán xét của người khác và không có khả năng nhận ra ngay cả một tia hy vọng cho cuộc sống của chính họ. Tôi cầu xin hy vọng và hòa bình cho mọi người, vì đây là Năm Ân sủng phát sinh từ Trái tim Đấng Cứu Chuộc!

2. Trong suốt năm nay, Giáo Hội Công Giáo cử hành Năm Thánh, một sự kiện lấp đầy trái tim bằng niềm hy vọng. “Năm Thánh” gợi nhớ đến một tập tục cổ xưa của người Do Thái, khi cứ mỗi bốn mươi chín năm, tiếng tù và (trong tiếng Do Thái là jobel) sẽ công bố một năm tha thứ và tự do cho toàn thể dân tộc (x. Lv 25:10). Lời công bố long trọng này có ý nghĩa vang vọng khắp đất nước (x. Lv 25:9) và khôi phục công lý của Chúa trong mọi khía cạnh của cuộc sống: trong việc sử dụng đất đai, trong việc sở hữu của cải và trong các mối quan hệ với người khác, trên hết là với người nghèo và người bị tước đoạt. Tiếng tù và nhắc nhở toàn thể dân chúng, giàu cũng như nghèo, rằng không ai đến thế gian này mà phải chịu áp bức: tất cả chúng ta đều là anh chị em, là con trai và con gái của cùng một Cha, được sinh ra để sống trong tự do, theo ý muốn của Chúa (x. Lv 25:17, 25, 43, 46, 55).

3. Trong thời đại của chúng ta, Năm Thánh cũng là một biến cố truyền cảm hứng cho chúng ta tìm cách thiết lập công lý có tính giải phóng của Thiên Chúa trên thế giới của chúng ta. Thay vì tiếng tù và, khi bắt đầu Năm Ân Sủng này, chúng ta muốn nghe “lời kêu cứu tuyệt vọng” [1], giống như tiếng kêu của máu Abel (x. St 4:10), vang lên từ rất nhiều nơi trên thế giới của chúng ta – một lời kêu cứu mà Thiên Chúa không bao giờ không lắng nghe. Về phần mình, chúng ta cảm thấy có nghĩa vụ phải kêu lên và tố cáo nhiều tình huống trong đó trái đất bị khai thác và những người hàng xóm của chúng ta bị áp bức. [2] Những bất công này đôi khi có thể xuất hiện dưới hình thức mà Thánh Gioan Phaolô II gọi là “cấu trúc tội lỗi”, [3] không chỉ phát sinh từ sự bất công của một số người mà còn được củng cố và duy trì bởi một mạng lưới đồng lõa.

4. Mỗi người chúng ta phải cảm thấy theo một cách nào đó có trách nhiệm đối với sự tàn phá mà trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta, đã phải chịu, bắt đầu từ những hành động, mặc dù chỉ gián tiếp, thúc đẩy các cuộc xung đột hiện đang gây ra tai họa cho gia đình nhân loại của chúng ta. Những thách thức mang tính hệ thống, riêng biệt nhưng có mối liên hệ với nhau, do đó được tạo ra và cùng nhau gây ra sự tàn phá trên thế giới của chúng ta. [4] Tôi nghĩ, đặc biệt, về mọi hình thức chênh lệch, sự đối xử vô nhân đạo đối với người di cư, sự suy thoái môi trường, sự nhầm lẫn cố ý tạo ra bởi thông tin sai lệch, sự từ chối tham gia vào bất cứ hình thức đối thoại nào và các nguồn lực khổng lồ dành cho ngành kỹ nghệ chiến tranh. Tất cả những điều này, xét về tổng thể, đại diện cho mối đe dọa đối với sự hiện hữu của toàn thể nhân loại. Vào đầu năm nay, chúng ta mong muốn lắng nghe lời kêu gọi của nhân loại đang đau khổ để cảm thấy được kêu gọi, cùng nhau và với tư cách là cá nhân, phá vỡ xiềng xích của bất công và tuyên bố công lý của Thiên Chúa. Những hành động từ thiện rời rạc là không đủ. Những thay đổi về văn hóa và cấu trúc là cần thiết, để có thể tạo ra sự thay đổi lâu dài. [5]

II. Một sự thay đổi văn hóa: tất cả chúng ta đều là con nợ

5. Việc cử hành Năm Thánh thúc đẩy chúng ta thực hiện một số thay đổi để đối đầu với tình trạng bất công và bất bình đẳng hiện tại bằng cách nhắc nhở bản thân rằng của cải của trái đất không dành cho một số ít người được đặc ân, mà dành cho tất cả mọi người. [6] Chúng ta nên nhớ lại lời của Thánh Basil thành Caesarea: “Hãy cho tôi biết, những thứ gì thuộc về bạn? Bạn tìm thấy chúng ở đâu để biến chúng thành một phần cuộc sống của bạn? … Bạn không sinh ra trần truồng từ trong bụng mẹ sao? Bạn sẽ không trở về mặt đất trần truồng sao? Tài sản của bạn đến từ đâu? Nếu bạn nói rằng nó đến với bạn một cách tự nhiên do may mắn, thì bạn đang phủ nhận Thiên Chúa vì không nhận ra Đấng Tạo Hóa và không biết ơn Đấng ban tặng”. [7] Nếu không có lòng biết ơn, chúng ta không thể nhận ra những món quà của Thiên Chúa. Tuy nhiên, trong lòng thương xót vô hạn của mình, Chúa không từ bỏ nhân loại tội lỗi, nhưng thay vào đó, Người khẳng định lại món quà sự sống của mình bằng sự tha thứ cứu rỗi được ban cho tất cả mọi người thông qua Chúa Giêsu Kitô. Đó là lý do tại sao, khi dạy chúng ta về “Kinh Lạy Cha”, Chúa Giêsu đã bảo chúng ta cầu nguyện: “Xin tha nợ chúng con” (Mt 6:12).

6. Một khi chúng ta không còn nhìn thấy mối quan hệ của mình với Chúa Cha, chúng ta bắt đầu ấp ủ ảo tưởng rằng mối quan hệ của chúng ta với người khác có thể bị chi phối bởi luận lý bóc lột và áp bức, khi sức mạnh tạo nên lẽ phải. [8] Giống như giới tinh hoa thời Chúa Giêsu, những người đã hưởng lợi từ nỗi đau khổ của người nghèo, ngày nay, trong ngôi làng hoàn cầu liên kết của chúng ta, [9] hệ thống quốc tế, trừ khi được truyền cảm hứng từ tinh thần liên đới và phụ thuộc lẫn nhau, sẽ gây ra bất công, trầm trọng hơn do tham nhũng, khiến các quốc gia nghèo hơn bị mắc kẹt. Một tâm lý bóc lột những người mắc nợ có thể được dùng để mô tả ngắn gọn về “cuộc khủng hoảng nợ nần” hiện tại đang đè nặng lên một số quốc gia, đặc biệt là ở Nam bán cầu.

7. Tôi đã nhiều lần tuyên bố rằng nợ nước ngoài đã trở thành một phương tiện kiểm soát mà qua đó một số chính phủ và các tổ chức tài chính tư nhân của các quốc gia giàu hơn khai thác một cách vô đạo đức và bừa bãi các nguồn tài nguyên thiên nhiên và con người của các quốc gia nghèo hơn, chỉ để đáp ứng nhu cầu của thị trường của chính họ. [10] Ngoài ra, các dân tộc khác nhau, vốn đã gánh chịu gánh nặng nợ quốc tế, cũng thấy mình bị buộc phải gánh chịu gánh nặng “nợ sinh thái” do các quốc gia phát triển hơn gánh chịu. [11] Nợ nước ngoài và nợ sinh thái là hai mặt của một đồng xu, cụ thể là tư duy khai thác đã lên đến tuyệt đỉnh trong cuộc khủng hoảng nợ nần. [12] Theo tinh thần của Năm Thánh này, tôi kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy nỗ lực xóa nợ nước ngoài để công nhận khoản nợ sinh thái hiện hữu giữa Bắc và Nam của thế giới này. Đây là lời kêu gọi liên đới, nhưng trên hết là công lý. [13]

8. Sự thay đổi về văn hóa và cấu trúc cần thiết để vượt qua cuộc khủng hoảng này sẽ diễn ra khi chúng ta cuối cùng thừa nhận rằng tất cả chúng ta đều là con trai và con gái của một Cha, rằng tất cả chúng ta đều mang ơn Người nhưng chúng ta cũng cần nhau, trong tinh thần trách nhiệm chung và đa dạng. Chúng ta sẽ có thể “tái khám phá một lần cho tất cả rằng chúng ta cần nhau” và mắc nợ lẫn nhau. [14]

III. Một hành trình hy vọng: ba đề xuất

9. Nếu chúng ta ghi nhớ những thay đổi rất cần thiết này, Năm Thánh Ân Sủng có thể giúp mỗi người chúng ta bước vào một hành trình hy vọng mới, bắt nguồn từ kinh nghiệm về lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa. [15]

Thiên Chúa không nợ bất cứ ai, nhưng Người liên tục ban ân sủng và lòng thương xót của Người cho tất cả mọi người. Như Isaac thành Nineveh, một Giáo phụ của Giáo hội Đông phương vào thế kỷ thứ bảy, đã nói trong một trong những lời cầu nguyện của mình: “Lạy Chúa, tình yêu của Người lớn hơn những tội lỗi của con. Sóng biển chẳng là gì so với vô số tội lỗi của con, nhưng khi đặt lên bàn cân và cân với tình yêu của Người, chúng tan biến như một hạt bụi”. [16] Thiên Chúa không cân nhắc những điều xấu xa mà chúng ta phạm phải; thay vào đó, Người vô cùng “giàu lòng thương xót, vì Người đã yêu thương chúng ta rất nhiều” (Ê-phê-sô 2:4). Tuy nhiên, Người cũng lắng nghe lời cầu xin của người nghèo và tiếng kêu của trái đất. Chúng ta sẽ làm tốt nếu chỉ dừng lại một chút, vào đầu năm nay, để nghĩ về lòng thương xót mà với nó, Người liên tục tha thứ tội lỗi của chúng ta và tha thứ mọi món nợ của chúng ta, để trái tim chúng ta tràn ngập hy vọng và bình an.

10. Khi dạy chúng ta cầu nguyện “Kinh Lạy Cha”, Chúa Giêsu bắt đầu bằng cách xin Chúa Cha tha thứ tội lỗi của chúng ta, nhưng ngay lập tức chuyển sang những lời đầy thách thức: “như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (x. Mt 6:12). Để tha thứ tội lỗi của người khác và mang đến cho họ hy vọng, chúng ta cần phải lấp đầy cuộc sống của chính mình bằng chính hy vọng đó, hoa trái của kinh nghiệm về lòng thương xót của Thiên Chúa. Hy vọng tràn đầy trong sự quảng đại; nó không tính toán, không đưa ra những đòi hỏi ẩn giấu, không quan tâm đến lợi nhuận, nhưng chỉ hướng đến một điều duy nhất: nâng đỡ những người đã sa ngã, chữa lành những trái tim tan vỡ và giải thoát chúng ta khỏi mọi loại ràng buộc.

11. Do đó, vào đầu Năm Ân Sủng này, tôi muốn đưa ra ba đề xuất có khả năng khôi phục lại phẩm giá cho cuộc sống của toàn thể các dân tộc và giúp họ bắt đầu lại cuộc hành trình hy vọng. Theo cách này, cuộc khủng hoảng nợ có thể được khắc phục và tất cả chúng ta một lần nữa có thể nhận ra rằng chúng ta là những con nợ đã được tha thứ.

Trước hết, tôi xin nhắc lại lời kêu gọi của Thánh Gioan Phaolô II nhân dịp Đại lễ Năm Thánh 2000 để xem xét “giảm đáng kể, nếu không muốn nói là xóa bỏ hoàn toàn, khoản nợ quốc tế đang đe dọa nghiêm trọng đến tương lai của nhiều quốc gia”. [17] Nhận ra khoản nợ sinh thái của mình, các quốc gia thịnh vượng hơn nên cảm thấy được kêu gọi làm mọi cách có thể để xóa nợ cho những quốc gia không có khả năng trả số tiền họ nợ. Tất nhiên, để điều này không chỉ chứng minh là một hành động từ thiện đơn lẻ chỉ đơn thuần khởi động lại vòng luẩn quẩn của tài chính và nợ nần, một khuôn khổ tài chính mới phải được đưa ra, dẫn đến việc tạo ra một Hiến chương tài chính hoàn cầu dựa trên tình liên đới và hòa hợp giữa các dân tộc.

Tôi cũng yêu cầu một cam kết chắc chắn về việc tôn trọng phẩm giá của sự sống con người từ khi thụ thai đến khi chết tự nhiên, để mỗi người có thể trân trọng cuộc sống của chính mình và tất cả mọi người có thể hướng đến một tương lai thịnh vượng và hạnh phúc cho chính họ và cho con cái của họ một cách đầy hy vọng. Nếu không có hy vọng cho tương lai, những người trẻ sẽ khó có thể mong đợi mang lại sự sống mới vào thế giới. Ở đây, tôi muốn một lần nữa đề xuất một cử chỉ cụ thể có thể giúp thúc đẩy nền văn hóa sự sống, cụ thể là xóa bỏ án tử hình ở mọi quốc gia. Hình phạt này không chỉ làm tổn hại đến sự bất khả xâm phạm của sự sống mà còn xóa bỏ mọi hy vọng của con người về sự tha thứ và phục hồi. [18] Ngoài ra, theo bước chân của Thánh Phaolô VI và Be-nê-đic-tô XVI, [19] tôi không ngần ngại đưa ra một lời kêu gọi khác, vì lợi ích của các thế hệ tương lai. Trong thời đại chiến tranh này, chúng ta hãy sử dụng ít nhất một tỷ lệ cố định trong số tiền dành cho vũ khí để thành lập một Quỹ hoàn cầu nhằm xóa đói giảm nghèo và tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục tại các quốc gia nghèo hơn nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và chống biến đổi khí hậu. [20] Chúng ta cần nỗ lực xóa bỏ mọi lý do khuyến khích những người trẻ coi tương lai của họ là vô vọng hoặc bị chi phối bởi khát vọng trả thù cho máu của những người thân yêu. Tương lai là một món quà có ý nghĩa giúp chúng ta vượt qua những thất bại trong quá khứ và mở ra những con đường mới cho hòa bình.

IV. Mục tiêu của hòa bình

12. Những ai chấp nhận những đề xuất này và bắt đầu hành trình hy vọng chắc chắn sẽ thoáng thấy bình minh của mục tiêu hòa bình được mong đợi lớn lao. Tác giả Thánh vịnh hứa với chúng ta rằng “tình yêu kiên định và lòng trung thành sẽ gặp nhau; công lý và hòa bình sẽ hôn nhau” (Tv 85:10). Khi tôi không đầu tư vào vũ khí và khôi phục con đường hy vọng cho một trong những anh chị em của mình, tôi góp phần khôi phục công lý của Thiên Chúa trên trái đất này và cùng với người đó, tôi tiến tới mục tiêu hòa bình. Như Thánh Gioan XXIII đã nhận xét, hòa bình thực sự chỉ có thể nảy sinh từ một trái tim “không còn lo lắng” và sợ hãi chiến tranh. [21]

13. Mong năm 2025 sẽ là năm mà hòa bình nở rộ! Một nền hòa bình thực sự và lâu dài vượt ra ngoài việc cãi vã về các chi tiết của các thỏa thuận và sự thỏa hiệp của con người. [22] Mong chúng ta tìm kiếm sự hòa bình thực sự mà Thiên Chúa ban cho những trái tim không còn lo lắng: những trái tim không còn tính toán điều gì là của tôi và điều gì là của bạn; những trái tim biến sự ích kỷ thành sự sẵn sàng vươn tới người khác; những trái tim tự thấy mình mắc nợ Thiên Chúa và do đó sẵn sàng tha thứ những món nợ áp bức người khác; những trái tim thay thế nỗi lo lắng về tương lai bằng hy vọng rằng mỗi cá nhân có thể là nguồn lực để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

14. Giải trừ vũ khí trái tim là công việc của tất cả mọi người, lớn và nhỏ, giàu và nghèo. Đôi khi, một điều gì đó khá đơn giản sẽ có tác dụng, chẳng hạn như "một nụ cười, một cử chỉ nhỏ của tình bạn, một cái nhìn tử tế, một đôi tai lắng nghe, một việc làm tốt". [23] Với những cử chỉ như vậy, chúng ta tiến tới mục tiêu hòa bình. Chúng ta sẽ đến đích nhanh hơn nữa nếu trong quá trình đồng hành cùng những người anh chị em của mình, chúng ta khám phá ra rằng chúng ta đã thay đổi so với lúc mới bắt đầu. Hòa bình không chỉ đến khi chiến tranh kết thúc mà còn đến khi một thế giới mới bắt đầu, một thế giới mà chúng ta nhận ra rằng chúng ta khác biệt, gần gũi và huynh đệ hơn chúng ta từng nghĩ là có thể.

15. Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sự bình an của Chúa! Đây là lời cầu nguyện của tôi với Chúa khi giờ đây tôi xin gửi lời chúc mừng năm mới chân thành nhất đến các Nguyên thủ quốc gia và Chính phủ, đến các nhà lãnh đạo của các Tổ chức quốc tế, đến các nhà lãnh đạo của nhiều tôn giáo khác nhau và đến mọi người có thiện chí. Xin Chúa tha thứ cho chúng con những lỗi lầm của chúng con, như chúng con tha thứ cho những kẻ đã xúc phạm đến chúng con. Trong chu kỳ tha thứ này, xin ban cho chúng con sự bình an của Chúa, sự bình an mà chỉ một mình Chúa mới có thể ban cho những ai để mình hạ vũ khí trong lòng, cho những ai hy vọng tha thứ cho những món nợ của anh chị em mình, cho những ai không sợ thú nhận món nợ của mình với Chúa, và cho những ai không bịt tai trước tiếng kêu của người nghèo.

Từ điện Vatican, ngày 8 tháng 12 năm 2024

FRANCIS

 

https://vietcatholic.net/News/Html/293535.htm

THEOTOKOS ĐÃ TRỞ THÀNH DANH HIỆU HOÀN HẢO CỦA ĐỨC TRINH NỮ MARIA NHƯ THẾ NÀO

 

Theotokos đã trở thành danh hiệu hoàn hảo của Đức Trinh Nữ Maria như thế nào

Vũ Văn An  31/Dec/2024

 

 


VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI. Public Domain

 

Philip Kosloski của Aleteia hôm nay, lễ Mẹ Thiên Chúa, suy gẫm về tước hiệu Theotokos:

Giáo hội sơ khai đã tóm tắt thiên chức làm mẹ của Đức Maria bằng một từ tiếng Hy Lạp duy nhất.

Vào năm 431, đã có một cuộc tranh luận dữ dội diễn ra trong Giáo Hội Công Giáo về danh hiệu cụ thể của Đức Trinh Nữ Maria. Cuộc tranh luận đòi hỏi một Công đồng chung hiếm hoi tại thành phố Ephesus để giải quyết vấn đề này.

Hai lập luận khác nhau đã được đưa ra, một của Giám mục Nestorius thành Constantinople và một của Thánh Cyril thành Alexandria.

Nestorius tin chắc rằng Đức Maria nên được gọi là Christotokos, "Người sinh ra Chúa Kitô" (cũng được dịch là "Người mang Chúa Kitô"). Cha Dwight Longnecker giải thích rằng "Nestorius đã sử dụng ngôn ngữ được coi là khẳng định rằng có hai ngôi vị riêng biệt kết hợp trong Chúa Giêsu Kitô. Do đó, Đức Trinh Nữ Maria khi ban cho Chúa Giêsu xác thịt con người có thể là 'Người mang Chúa Kitô' nhưng không phải là 'Người mang Thiên Chúa'".

Mặt khác, Thánh Cyril và rất nhiều giám mục tin rằng Đức Maria nên được gọi là Theotokos, "Người sinh ra Thiên Chúa" (cũng được dịch là "Người mang Thiên Chúa" hoặc "Mẹ Thiên Chúa"). Thuật ngữ này khẳng định rằng Chúa Giêsu là "một ngôi vị trong hai bản chất hợp nhất".

Phần lớn mọi người đều xác định rằng Theotokos là danh hiệu chính xác của Đức Maria, và sau đó Nestorius đã bị cách chức giám mục Constantinople.

Mẹ Thiên Chúa

Danh hiệu "Mẹ Thiên Chúa" không có nghĩa là Đức Maria bằng cách nào đó đã tồn tại trước Thiên Chúa hoặc tạo ra Thiên Chúa, mà là Đức Maria đã sinh ra Chúa Giêsu, người hoàn toàn là Thiên Chúa và hoàn toàn là con người.

Sách Giáo lý Công Giáo giải thích như sau, "Trên thực tế, Đấng mà ngài thụ thai thành người bởi Chúa Thánh Thần, người thực sự trở thành Con của ngài theo xác thịt, không ai khác chính là Con vĩnh cửu của Chúa Cha, ngôi thứ hai của Chúa Ba Ngôi. Do đó, Giáo hội tuyên xưng rằng Đức Maria thực sự là 'Mẹ Thiên Chúa' (Theotokos)" (SGLCGHCG 495).

Truyền thống Chính thống giáo và Byzantine của Kitô giáo tiếp tục sử dụng danh hiệu này của Đức Maria, thích nó hơn bất cứ danh hiệu nào khác của ngài. Một bài thánh ca cổ trong phụng vụ của họ đã tóm tắt một cách đầy chất thơ về chân lý phức tạp này, "Đấng mà toàn thể vũ trụ không thể chứa đựng được đã được chứa đựng trong cung lòng của Mẹ, Ôi Theotokos."

Quyết định gọi Đức Maria là Theotokos là một điểm then chốt trong lịch sử của Giáo hội. Nó làm sáng tỏ đức tin của Giáo hội vào Chúa Giêsu Kitô và đưa ra sự xác nhận thêm về bản chất của sự nhập thể của Chúa Kitô. Những gì Giáo hội tin về Chúa Giêsu kể từ thời các tông đồ đã được phê chuẩn tại Công đồng Êphêsô.

Hơn nữa, việc ban tặng danh hiệu này đã xác nhận vai trò đặc quyền của Đức Maria trong lịch sử cứu độ và làm sâu sắc thêm sự hiểu biết về mầu nhiệm lớn lao đã xảy ra trong lòng ngài.

Để tôn vinh ký ức về công đồng này, vào năm 1931, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã thiết lập lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa vào ngày 11 tháng 10, sau Công đồng Vatican II, lễ này được chuyển sang ngày 1 tháng 1 và đổi tên thành Lễ trọng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa.

 

https://vietcatholic.net/News/Html/293517.htm