Trang

Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

Hiệu ứng Phanxicô và biến cố Caserta

Hiệu ứng Phanxicô và biến cố Caserta


Đức Phanxicô làm nhiều người ngạc nhiên và ngỡ ngàng khi gặp mục sư Giovanni Traettino và cộng đoàn Ngũ Tuần của ông tại Caserta vào hôm thứ Hai, 28 tháng 7 vừa qua. Nhận xét về biến cố này, Phil Lawler cho rằng Đức Phanxicô đã thay đổi cung cách thế giới nhìn ngôi vị giáo hoàng. 

Thực vậy, không cần chờ cuộc cải tổ nghiệp vụ truyền thông tại Vatican, một cuộc cải tổ vừa được phát động với việc đề cử cựu tổng toàn quyền Hồng Kông của Anh làm phối trí viên, và như thế, mới đang ở giai đoạn đặt kế sách, biến cố Caserta cho thấy Vatican đã thay đổi cung cách xử lý tin tức rồi. 

Chỉ cần nhìn cung cách đưa tin của Sở Thông Tin Vatican (VIS) về biến cố này cũng đủ chứng minh nhận định trên. Song song với việc tường trình các phát biểu của Đức Phanxicô tại Caserta, một điều dĩ nhiên VIS phải làm, cơ quan này cũng đã tường trình đầy đủ không kém các phát biểu của chủ nhà là mục sư Giovanni Traettino.

Lawler cho rằng ông đã đọc các bản tin của VIS cả 20 năm nay và thấy rằng trong suốt 20 năm này, khi nào Đức Giáo Hoàng là một trong hai hay ba diễn giả tại một biến cố công cộng, Vatican ít khi nào nhắc tới các diễn giả kia; tập chú bao giờ cũng chỉ là Đức Giáo Hoàng. Bài diễn văn của Thượng Phụ Đại Kết Constantinople hay của Đức HY Quốc Vụ Khanh may ra được tóm lược, nhưng không bao giờ đầy đủ như bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng. Nhưng ở đây, sở thông tin Vatican đã cung cấp một tóm lược hết sức chi tiết bài nói của vị mục sư Ngũ Tuần. 

Tường thuật của tờ L’Osservatore Romano cũng thế, dành cùng một không gian cho các nhận xét của Đức Phanxicô và của mục sư Traettino. Lawler cho rằng không phải vì Vatican đã sa vào chủ nghĩa dửng dưng tôn giáo, đặt vị mục sự Thệ Phản ngang hàng với Đức Giáo Hoàng. VIS là một cơ quan đưa tin, phục vụ các nhà báo. Lời tuyên bố của Đức Giáo Hoàng đương nhiên có thế giá hơn lời tuyên bố của một mục sư Thệ Phản, nhưng nó không nhất thiết phải có giá trị hơn về phương diện tin tức. Hiển nhiên, VIS muốn lưu ý tới lời lẽ Mục Sư Traettino chào mừng Đức Giáo Hoàng.

Phương thức đưa tin như trên, theo Lawler, cũng cho thấy một thay đổi đáng kể trong cung cách các viên chức Vatican quan niệm chức vụ giáo hoàng, một thay đổi mà chính Đức Phanxicô hết sức cố gắng cổ vũ. Phương thức “cũ” coi Đức Giáo Hoàng như nhà quân chủ thế kỷ 18, và muốn gợi ý để mọi người thấy: khi ngài có mặt ở đâu, mọi người khác phải biến thành vô nghĩa. Phương thức “mới” coi Đức Giáo Hoàng như một con người bình thường, tuy đang lãnh trách nhiệm phi thường và một thẩm quyền lớn lao, nhưng cũng đang nói chuyện với những con người khác rất có thể có những điều lý thú để nói. 

Rõ ràng Đức Giáo Hoàng đang phát động chiến dịch nhắc nhở thế giới, và dĩ nhiên cả các phụ tá của ngài tại Vatican, nhớ rằng: Giám Mục Rôma không phải là nhà chuyên chế thế tục, và thẩm quyền thiêng liêng của ngôi vị giáo hoàng không được ngụy trang bởi những mũ áo cân đai của nền quân chủ lỗi thời. Sứ điệp này đang bắt đầu được lắng nghe và thi hành. 

Cần một điển hình khác? Lawler cho rằng điển hình khác này cũng đã xẩy ra tại Caserta khi Đức Phanxicô gặp gỡ các linh mục của giáo phận. Tường trình của Đài Phát Thanh Vatican có kèm theo một bức hình: Đức Phanxicô ngồi bên cạnh Đức Cha Giovanni D’Alise, giám mục Caserta, chứ không ngồi trên ngai hay trên một chiếc ghế cao hơn. Ngài ngồi bên cạnh vị giám mục anh em như bất cứ ai khác cùng ngồi với đồng nghiệp trong một cuộc họp công vụ. Hết sức tự nhiên. Nhưng không hề tự nhiên trong hơn 20 năm qua. Lawler cho rằng trong các năm này, người ta không bao giờ thấy một sắp xếp chỗ ngồi giống như thế khi có sự hiện diện của Giám Mục Rôma. 

Xin lỗi thay cho các anh chị em Công Giáo thiếu hiểu biết

Theo tin Zenit ngày 29 tháng 7, hôm Thứ Hai vừa qua, tại Caserta, miền Nam nước Ý, Đức Phanxicô đã xin lỗi người Ngũ Tuần thay cho các người Công Giáo từng bách hại họ trong quá khứ, vì thiếu hiểu biết; đồng thời kêu gọi hợp nhất trong đa dạng. 

Sau khi gặp riêng người bạn lâu năm của mình là Mục Sư Giovanni Traettino, Đức Phanxicô đã nói chuyện với khoảng 200 người, phần lớn là Ngũ Tuần đến từ Ý, Mỹ và Á Căn Đình. Ngài bảo: cuộc đối thoại đại kết cần được tiếp tục bất kể một số người Công Giáo tìm cách trì hoãn nó. 

Trong một bầu khí vui tươi và thân mật, Mục Sư Traettino nói với bạn mình là Đức GH Phanxicô rằng :Với những người như ngài, người Kitô hữu chúng tôi có nhiều hy vọng”. 

Đáp lời Mục Sư Traettino rằng “sự hiện diện của Chúa Giêsu và việc bước đi trước nhan Người phải là tâm điểm đời ta”, Đức Phanxicô cho hay “Việc bước đi ấy chính là giới răn thứ nhất của Thiên Chúa truyền cho dân Người, được đại diện bởi Ápraham: ‘hãy trung thành bước đi trước mặt Ta và hãy vô tì vết!’”

Ngài nói tiếp: “tôi không hiểu được việc một Kitô hữu đứng im! Tôi không hiểu được việc một Kitô hữu mà lại không muốn bước đi! Kitô hữu là phải bước đi, vì nếu họ đứng im, họ làm sao tiến lên phía trước được, chắc chắn sẽ trở thành hủ hóa”. 

Đức Giáo Hoàng bảo rằng: khi ta bước đi trước nhan Thiên Chúa, ta sẽ tìm được tình huynh đệ. Còn nếu thay vào đó mà dừng lại, mà dò xét lẫn nhau, mà hành tỏi nhau, ta sẽ chia rẽ Giáo Hội. 

Đức Phanxicô quan niệm rằng hành tỏi bắt đầu từ giây phút đầu tiên Giáo Hội bị chia rẽ. Chúa Thánh Thần không tạo ra chia rẽ, Người chỉ tạo ra đa dạng trong Giáo Hội, “một đa dạng phong phú và tươi đẹp”. 

Cùng với đa dạng, Chúa Thánh Thần cũng dựng nên hợp nhất. Do đó, không những “Giáo Hội là một trong tính đa dạng của mình” mà còn có sự hợp nhất “với nhiều thành phần khác nhau, mỗi phần với tính đặc thù và đặc sủng của mình”. Ngài nói thêm: “Đây là sự hợp nhất trong đa dạng. Đây là con đường các Kitô Hữu cần đi, khi cho nó cái tên thần học là đại kết”.

Khi ghen tương và đố kị chia rẽ ta, ta phải trì chí trên con đường tiến tới hợp nhất này. Ngài nói: “một số những người ban hành các đạo luật này, và một số những người bách hại, tố cáo các anh em Ngũ Tuần là vì họ ‘quá hứng chí’, gần như ‘điên loạn’, chính họ làm hỏng cuộc thi đua”

Rồi Đức Phanxicô tỏ lời xin lỗi: “Tôi là một mục tử của người Công Giáo, nên tôi xin lỗi về việc này. Tôi xin lỗi nhân danh các anh chị em Công Giáo thiếu hiểu biết và bị ma qủy cám dỗ. Tôi cầu xin Chúa ban ơn biết nhìn nhận và tha thứ”. 

Đức Phanxicô nói thêm: “Chúng ta đang trên đường hợp nhất giữa anh em. Một số người sẽ ngạc nhiên nói ‘Đức Giáo Hoàng đi với người Tin Mừng! Ngài đi gặp anh em của ngài! Đúng! Vì, sự thật là họ đã đến với tôi trước, tại Buenos Aires. Và do đó, tình bạn này đã bắt đầu, sự gần gũi giữa các mục tử của Buenos Aires, và hôm nay ở đây”.

Sau đó, ngài cám ơn cộng đoàn và xin họ cầu nguyện cho ngài vì ngài rất cần lời cầu nguyện của họ. 

Ngài là người của hòa giải, đúng hơn, tiên tri của hòa giải

Đó là câu phát biểu của Mục Sư Giovanni Traettino, mục tử của cộng đoàn Ngũ Tuần tại Caserta dưới tên: Giáo Hội Tin Mừng Hòa Giải, ngỏ với Đức Phanxicô, trước khi ngài nói chuyện với cộng đoàn này. 

Ông thưa với ngài bằng những từ ngữ thân thương nhất: “Đức Giáo Hoàng Phanxicô rất thân mến, người anh em yêu dấu của tôi”. Ông cho rằng cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng là niềm vui cho bản thân ông, cho gia đình ông và cho toàn thể cộng đoàn và cho toàn bộ gia đình thiêng liêng “của chúng tôi”… “Chúng tôi yêu ngài rất nhiều. Và có một điều ngài cần biết là: ngay nơi người Tin Mừng chúng tôi, người ta hết sức âu yếm con người của ngài, và rất nhiều người chúng tôi cầu nguyện cho ngài hàng ngày… Dù sao, yêu ngài rất nhiều cũng là điều dễ dàng. Một ít người trong chúng tôi còn tin rằng việc bầu ngài làm Giám Mục Rôma là do chính Chúa Thánh Thần thực hiện. Một hồng ân trước nhất cho toàn thể Kitô Giáo trong việc đương đầu với thế giới: đó là điều bản thân tôi vẫn nghĩ. Với nghĩa cử hôm nay của ngài, một nghĩa cử hoàn toàn không ai ngờ và gây ngạc nhiên lớn, ngài đã đem lại tính hữu hình và tính cụ thể cho điều xem ra càng ngày càng là lý do hàng đầu đối với cuộc đời ngài và do đó, đối với thừa tác vụ của ngài, vì sự sống luôn đi trước thừa tác vụ. Chỉ bằng một nghĩa cử, ngài đã vượt qua mọi cái phức tạp của nghi lễ, ngài biết cách đi thẳng vào trái tim sự sống và các tương quan nhân bản và cách riêng, vào mối tương quan với người ngài nhận là anh em: gặp gỡ người anh em của mình, gặp gỡ người này ngay tại nơi họ ở, họ có thế nào gặp gỡ họ thế ấy. Rồi, trong trường hợp của chúng tôi, để thăm chúng tôi, ngài thực sự đã phải chịu cực tới hai ngày. Chúng tôi hết sức biết ơn ngài!”

Chưa hết, mục sư nói tiếp: “Đối với ngài, tín thác một văn kiện hay một thông điệp là điều không đủ… Hiển nhiên, ngài đã suy niệm nhiều về việc Nhập Thể của Chúa Giêsu Kitô: ngài muốn đụng tới chúng tôi, ngài muốn đích thân tới, đích thân ôm lấy chúng tôi. Ngài đã tỏ một lòng can đảm lớn lao, tự do và can đảm! Và ngài vốn hiến mình, trong đơn sơ và yếu đuối, cho sự đa dạng của chúng ta, nhưng còn cho cả việc chúng ta ôm lấy nhau nữa. Thưa Đức Giáo Hoàng Phanxicô yêu dấu, với những người như ngài, các Kitô hữu chúng tôi có nhiều hy vọng. Cho tất cả! Với chỉ một nghĩa cử, ngài đã mở rộng cánh cửa, ngài đã gia tốc việc thể hiện giấc mơ của Thiên Chúa. Ngài đã trở thành thành phần của lời Chúa Giêsu cầu xin: cho chúng tất cả nên một. Và ngài làm thế với sự vinh quang mà Tin Mừng Gioan đoạn 17 từng nói tới: với sự vinh quang mà không có nó ta không thể xây đắp hợp nhất. Tôi muốn nói tới sự vinh quang của lòng khiêm nhường. Như một ai đó vốn nói, lòng khiêm nhường nằm ở tâm điểm của vinh quang…”

Mục sư không quên nhắc tới bài giảng hàng ngày của Đức Phanxicô tại Nhà Thánh Mácta, trong đó có nói tới “chân lý là một gặp gỡ”, gặp gỡ trước nhất với Chúa Giêsu Kitô. Ông cho rằng: “sự thật này nằm ở tâm điểm cuộc sống của ngài, là chất sống cho cuộc hiện sinh thiêng liêng của ngài, là động lực gây hứng cho cuộc đời ngài. Đối với tôi, người quan sát ngài, không thể nào khác thế. Nó làm tôi tràn đầy hân hoan vì Chúa Kitô cũng là viên ngọc qúy, xin lỗi, Người là viên ngọc qúy của mọi Kitô Hữu, của cả người Tin Mừng chúng tôi nữa…”.

Theo Mục Sư Traettino, chính nhờ thế, người Tin Mừng “chúng tôi cũng đang sống và trải nghiệm cách mới mẻ bản sắc Tin Mừng của mình, một bản sắc không còn được nuôi dưỡng bằng chủ nghĩa bài Công Giáo, như từng có trước đây, nữa, nhưng là một bản sắc biết thừa nhận gốc rễ của mình trong thân cây lịch sử của Kitô Giáo, trong đó, có cả Công Giáo lẫn Cải Cách”. 

Mục Sư cho rằng đấy cũng là phương thức của Đức Phanxicô: “Ngài đã học được cách liên hệ một cách xây dựng và đầy cứu vớt với những người ngài thừa nhận là cha và là anh em của ngài và lấy ra được từ kho báu của ngài điều cũ điều mới, như Sách Tin Mừng vốn nói. Ngài đã học được rằng cần phải mua cả cánh đồng, như lời Chúa Giêsu dạy ở một chỗ khác, để có thể chiếm hữu được trọn của qúy. Ta phải có trọn cánh đồng mới có thể khám ra châu báu, không bỏ qua việc biện phân bằng Lời Thiên Chúa, nhưng phải khảo sát mọi sự để chỉ giữ lấy điều tốt. Nhờ phương thức này, ta ít bị nguy cơ coi thường các đóng góp của anh em, giập tắt Thần Khí hay ngay cả gán cho các nguồn khác những điều vốn là của Thiên Chúa, như Thánh Phaolô từng khuyên nhủ ta trong thư gửi tín hữu Texalônica: “Đừng giập tắt Thần Khí, đừng khinh thường ơn nói tiên tri, nhưng hãy khảo sát mọi sự và giữ lấy điều tốt. Và một lần nữa, mỗi người phải xa lánh mọi thứ xấu xa” (xem 1Tx 5:19-22).

Mục Sư cho rằng tâm điểm lời giảng của người Tin Mừng cũng là cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, nó là sứ điệp chính, là hạt nhân, là DNA của Phúc Âm; nó là “lãnh địa trên đó đắp xây mọi cuộc đối thoại có thể có giữa chúng ta và là con đường hợp nhất giữa các Giáo Hội”. Mục sư cho rằng những vị như Cha Raniero Cantalamessa, Đức Hồng Y Piovanelli của Florence và Đức HY Kaspers cũng có cùng những tâm tư như thế. 

Dĩ nhiên đó là bình diện đức tin. Nhưng ta cũng sống trong bình diện lịch sử, bình diện cảm nghiệm, “trong đó chúng ta trải nghiệm nỗi nhục của chia rẽ, của chiến tranh giữa các Kitô hữu, của thù nghịch, của bách hại, ngay tại Ý: bất hạnh thay, trong nhiều năm, chúng ta đã chịu bách hại, đặc biệt là người Ngũ Tuần, trong các năm từ thập niên 35 tới thập niên 55, thời gian khét tiếng… Ở giữa là thời gian của hòa giải, thời gian của đạo đức, nếu ngài muốn, là thời gian yêu thương, thời gian trách nhiệm, cần được chu toàn bởi những người nam nữ của hòa giải. Bằng cuộc thăm viếng của ngài ở đây, một cuộc thăm viếng chứng minh rằng ngài coi rất trọng việc hòa giải, ngài đã cho thấy ngài là người của hòa giải, tôi muốn nói, là tiên tri của hòa giải”. 

Liên Minh Tin Mừng Thế Giới xin lỗi

Hiệu ứng Phanxicô không chỉ có thế. Theo tin Zenit ngày 30 tháng 7, Tổng Thư Ký của Liên Minh Tin Mừng Thế Giới, Mục Sư Tunnicliffe, vừa lên tiếng ca ngợi cuộc viếng thăm người Ngũ Tuần tại Caserta hôm thứ Hai vừa qua của Đức Phanxicô và đáp lại lời ngài xin lỗi về sự thiếu hiểu biết của người Công Giáo bằng cách xin người Công Giáo tha thứ cho người Tin Mừng về các kỳ thị của họ đối với người Công Giáo.

Trong một cuộc phỏng vấn của Đài Phát Thanh Vatican vào Thứ Tư hôm qua, Mục Sư Tunnicliffe đã trình bày một số suy tư về nghĩa cử viếng thăm hơn 200 thành viên của Giáo Hội Hoà Giải Ngũ Tuần Caserta. Được hỏi về tác động của cuộc gặp gỡ này, Mục Sư trả lời: “tôi nghĩ việc Đức Giáo Hoàng Phanxicô bắt tay với người Tin Mừng là điềm báo rất hay cho những cuộc đàm thoại tương lai, vì nó sẽ giúp chúng ta đi sâu hơn vào các tương tác của chúng ta với nhau”. 

Mục Sư nói thêm: “Trong ít năm qua, Liên Minh Tin Mừng Thế Giới, một liên minh đại diện cho khoảng 650 triệu Kitô hữu khắp thế giới, càng ngày càng có nhiều tương tác hơn với Vatican và Giáo Hội Công Giáo. Chúng tôi vừa kết thúc cuộc đối thoại thần học chính thức lần thứ hai; cuộc đối thoại này nhận diện được nhiều phạm vi hai bên cùng quan tâm và các phạm vi hai bên hiện còn khác biệt”. 

Nhận định về lời xin lỗi của Đức Phanxicô đối với người Tin Mừng và Ngũ Tuần, Mục Sư Tunnicliffe cho rằng lời xin lỗi này hợp với Thánh Kinh và “phản ảnh sứ điệp của Chúa Kitô”. Sau khi hy vọng rằng nghĩa cử này của Đức Giáo Hoàng sẽ gửi “một thông điệp mạnh mẽ ra khắp thế giới , nhất là các nước vẫn còn nhiều căng thẳng đáng kể giữa người Công Giáo và người Tin Mừng”, nhà lãnh đạo Tin Mừng này đã ngỏ lời xin lỗi như sau: “Tôi cũng cần nói điều này: Tôi nhìn nhận rằng trong lịch sử từng có những tình huống trong đó, người Thệ Phản, trong đó có người Tin Mừng, đã kỳ thị chống lại các Kitô hữu Công Giáo và tôi thực sự đau buồn về các loại hành động như thế, vì dù ta có thể bất đồng về thần học, nhưng việc này không bao giờ nên dẫn ta tới kỳ thị hay bách hại người khác. Tất cả chúng ta cần thừa nhận các sai sót của mình” và theo gương Đức Phanxicô, Mục Sư nói “hãy yêu cầu từng người khác tha thứ”.

Vũ Văn An7/30/2014(vietcatholic)


Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014

JULY 31, 2014 : MEMORIAL OF SAINT IGNATIUS OF LOYOLA, PRIEST

Memorial of Saint Ignatius of Loyola, Priest
Lectionary: 404

Reading 1JER 18:1-6
This word came to Jeremiah from the LORD:
Rise up, be off to the potter’s house;
there I will give you my message.
I went down to the potter’s house and there he was, 
working at the wheel.
Whenever the object of clay which he was making
turned out badly in his hand, 
he tried again,
making of the clay another object of whatever sort he pleased.
Then the word of the LORD came to me:
Can I not do to you, house of Israel,
as this potter has done? says the LORD.
Indeed, like clay in the hand of the potter,
so are you in my hand, house of Israel.
Responsorial Psalm PS 146:1B-2, 3-4, 5-6AB
R. (5a) Blessed is he whose help is the God of Jacob.
or:
R. Alleluia.
Praise the LORD, O my soul;
I will praise the LORD all my life;
I will sing praise to my God while I live.
R. Blessed is he whose help is the God of Jacob.
or:
R. Alleluia.
Put not your trust in princes,
in the sons of men, in whom there is no salvation.
When his spirit departs he returns to his earth;
on that day his plans perish.
R. Blessed is he whose help is the God of Jacob.
or:
R. Alleluia.
Blessed he whose help is the God of Jacob,
whose hope is in the LORD, his God.
Who made heaven and earth,
the sea and all that is in them.
R. Blessed is he whose help is the God of Jacob.
or:
R. Alleluia.
Gospel MT 13:47-53
Jesus said to the disciples:
“The Kingdom of heaven is like a net thrown into the sea,
which collects fish of every kind.
When it is full they haul it ashore
and sit down to put what is good into buckets.
What is bad they throw away.
Thus it will be at the end of the age.
The angels will go out and separate the wicked from the righteous
and throw them into the fiery furnace,
where there will be wailing and grinding of teeth.”

“Do you understand all these things?”
They answered, “Yes.”
And he replied,
“Then every scribe who has been instructed in the Kingdom of heaven
is like the head of a household who brings from his storeroom
both the new and the old.”
When Jesus finished these parables, he went away from there.


Meditation: Ready to receive the kingdom of heaven

What can a story of a dragnet and a great catch of fish tell us about God's kingdom? The two most common ways of fishing in Jesus' time was with a casting-net (or hand-net) which was thrown from the shore and the drag-net or trawl which was let down or cast into the waters from a boat. As the boat moved through the waters the dragnet was drawn into the shape of a great cone which indiscriminately took in all kinds of fish and flotsam and jetsam swept in its path. It usually took several men to haul such a net to shore.
Reward and judgment at the end of the age
What is Jesus' point here? Just as a drag-net catches every kind of fish in the sea, so the church acts as God's instrument for gathering in all who will come. Just as the drag-net does not or cannot discriminate, so the church does not discriminate between the good and the bad, the useless and the useful. God's kingdom is open to all who will accept and believe. But there will come a time of separation, at the close of the age, when the angels will send the good and the bad to their respective destinations. Our duty is to gather in all who will come.
God, in the end of this age, will give the good (those who accept God's word and obey it) and the bad (those who reject God and his word) the reward they deserve. God offers the treasure of his kingdom to all who believe in him and who accept his only begotten Son, the Lord Jesus Christ as their Savior. Do you hunger for God and for his everlasting kingdom of righteousness, peace, and joy?
Trained for the kingdom of heaven
What is the point of Jesus' parable about a "scribe who has been trained for the kingdom of heaven" (Matthew 13:52)? Scribes were specially devoted to the study and practice of God's word entrusted to Moses (the first five books of the Bible) and in instructing others in how to live according to it. In the Old Testament Ezra was called "the ready scribe of the law of the God of heaven" (Book of Ezra 7:6,21). He received this title because he "had prepared his heart to seek the law of the LORD, and to do it, and to teach in Israel statutes and judgments" (Ezra 7:10). Ezra's heart was set on the kingdom of heaven because he revered God's word and he taught others through example and instruction to love and obey God's word.
The old and new treasure of God's word
Why does Jesus compare a "trained scribe" with a "householder who brings out of his treasure what is new and what is old" (Matthew 13:52)? Some people love to store up old prized possessions along with their newly acquired prizes. Others are eager to get rid of the old to make room for the new. So why does Jesus seem to emphasize keeping the old along with the new? Why not replace the old, especially if the new seems to be better or more useful? Wouldn't a person want to throw away an old pair of shoes and replace them with a new pair - especially if the old pair became well-worn or torn beyond repair? But, who in his right mind would throw away an old precious jewel or some old gold coins simply because they were ancient and maybe tarnished a bit? Precious gems and gold do not lose their value with age!
Like choice vintage wine they increase in value. Jesus' parable of the "old" and the "new" certainly points to the "older covenants" which God made with his covenanted people of the Old Testament, beginning with Abraham, Isaac, and Jacob, and with Moses on Mount Sinai, and with King David the precursor of the Messiah (Psalm 89:3 and Psalm 110:1). Jesus' parable also points to the "new covenant" which he came to establish through the shedding of his blood on the cross and the anointing of his Holy Spirit who seals the new covenant on the day of Pentecost. Jesus did not come to abolish the Old Covenant but to fulfill it. The Lord calls us to treasure all of his word - all of his commandments, promises, precepts, and teaching (Psalm 119:14,72,127,162). Do you promise to keep all of God's commands? The Lord gives strength, blessing, and joy to those who treasure all of his word.
We would be impoverished today if we only possessed the treasures of the word of God in the "Old Testament" Scriptures or if we only knew the treasures of the "New Testament" Scriptures. Both the Old and New Testament Scriptures are given by the same eternal Father, inspired by the same eternal Holy Spirit, and fulfilled by the same eternal Word, the Lord Jesus Christ, who was with the Father from the beginning and who was sent from heaven to take on human flesh for our salvation (John 1:1-3,14).
Unity of the Old and New Testaments
There is a profound unity between the Old and New Testaments. Both are divinely inspired by one and the same Spirit (2 Timothy 3:16). The Old Testament prepares for the New and the New Testament fulfils the Old - the two shed light on each other. The Old Testament prepared the way for the coming of Jesus Christ as the redeemer of all who would be saved through his sacrifice on the cross. The New Testament lies hidden in the Old and the Old Testament is unveiled in the New. That is why Jesus interpreted the Old Testament Scriptures for his disciples and explained how he came to fufill what was promised and foreshadowed in the Old (Luke 24:27). That is why we read the Old Testament in the light of Christ’s saving death and resurrection. Do you revere the word of God in the Scriptures - both old and new - and see their fulfillment in the Lord Jesus Christ?
"Lord Jesus, may your word take deep root in my heart and transform my way of thinking, discerning, and acting. May your Spirit open my ears to hear and understand the word of God in the Scriptures that I may revere and treasure both the Old and the New Testaments which God has prepared for all who desire to enter his kingdom of righteousness, peace, and joy. Help me to be a diligent student and faithful disciple of your word."


Powerful Net
July 31, 2014, Memorial of Saint Ignatius of Loyola, priest
Matthew 13: 47-53
Jesus said to his disciples: "The Kingdom of heaven is like a net thrown into the sea, which collects fish of every kind. When it is full they haul it ashore and sit down to put what is good into buckets. What is bad they throw away. Thus it will be at the end of the age. The angels will go out and separate the wicked from the righteous and throw them into the fiery furnace, where there will be wailing and grinding of teeth. "Do you understand all these things?" They answered, "Yes." And he replied, "Then every scribe who has been instructed in the Kingdom of heaven is like the head of a household who brings from his storeroom both the new and the old." When Jesus finished these parables, he went away from there.
Introductory Prayer: Lord, I believe in your power. I know that you are the Lord of all history. I trust that you are guiding my life. Thank you for showing me that you will triumph. Thank you for the triumph you have already achieved in my heart and in the hearts of so many people. I want to allow you to have total control over my life.
Petition: Lord, help me to have confidence in the triumph of your Kingdom.
1. Nothing Escapes the Kingdom: Christ is reminding us that all souls and all human history are encompassed in the vision of the Father. Both the good and the bad will be brought before him. He is able to see what good and evil has been done. His power extends over all the failures and successes of human history. I should live with a confidence that God sees the good I do and will make my efforts to spread his love bear eternal fruit.
2. Evil Does Not Have the Last Word: I should live with the confidence that evil does not have the last word. The mercy of God has imposed a limit on evil and the Lord will come one day to take away the power of evil. I should use my short time on earth – which I should use today – to sow all the good I can, aware that this is what will stand steady at the coming of the eternal kingdom. I should not be so impressed by evil that it paralyzes me from doing good.
3. Already Home: The Eucharist is an anticipation of God’s triumph. There we learn to trust that God holds the strings of human history. There his “net of love” brings his children together to feed and strengthen them. When I participate in the Mass my confidence in the Lord’s providence should grow. I should strive to bring others to the Eucharist as well, so they can experience the peace and happiness of anticipating heaven here on earth.
Conversation with Christ: Lord, I know you are all powerful. I believe that your Kingdom will triumph. I believe that you will come to judge the living and the dead. Help me to do all I can to bring others into your Kingdom so they can experience the joy that comes from knowing you and from living ready for the coming of your Kingdom.
Resolution: I will invite someone who is struggling in their faith or who has fallen away from the sacraments to join me this Sunday at Mass.

THURSDAY, JULY 31. MATTHEW 13:47-53
(Jeremiah 18:1-6, Psalm 146)

KEY VERSE: "Then every scribe who has been instructed in the kingdom of heaven is like the head of a household who brings from his storeroom both the new and the old" (v 53).
READING: Some of Jesus' disciples were fishermen, and so he used illustrations from fishing to speak of God's reign. In Palestine there were two main ways of fishing. One was with the casting-net, which was thrown from the shore. The second way was with the dragnet, a large square net that was weighted and hung from the side of a boat. The net was drawn into the shape of a cone and the fish were swept into it. The net was then pulled to land, and the worthwhile fish were separated from the useless. Jesus used this image to say that good and evil would flourish alongside one another until the end of the age. Jesus' disciples must be like wise scribes (teachers of Judaism's traditions) who were able to understand things both "new and old." (Some scholars see this as Matthew's personal signature, v 52). As future leaders of the Church, Jesus' disciples must be able to interpret the ancient truths in the light of the gospel. When Jesus was assured that they understood his message, he was ready to move on in his journey.
REFLECTING: Do I submit myself to the teachings of Jesus?
PRAYING: Lord Jesus, help me to discern your truth in everything I hear.
Memorial of Ignatius of Loyola, priest

Born in 1491 at Loyola, Spain, Ignatius was wounded in the leg by a cannonball at the siege of Pampeluna in 1521, an injury that left him partially crippled for life. During his recuperation the only books he had access to were The Golden Legend, a collection of lives of the saints, and The Life of Christ. These books, and the time spent in contemplation, changed him. Upon his recovery he took a vow of chastity, hung his sword before the altar of the Virgin of Montserrat, and donned a pilgrim's robe. He journeyed to Rome and the Holy Land where he worked to convert Muslims. His meditations, prayers, visions and insights led to forming the Constitutions of the Society of Jesus (Jesuits) on 15 August 1534. He traveled to Europe and the Holy Lands, then settled in Rome to direct the Jesuit order. His health suffered in later years, and he was nearly blind at death. The Jesuits today have over 500 universities and colleges, 30,000 members, and teach over 200,000 students each year.
"Teach us to be generous, good Lord; teach us to serve You as You deserve; to give and not to count the cost, to fight and not to heed the wounds, to toil and not to seek for rest, to labor and not to ask for any reward save that of knowing we do Your will." - Prayer, Ignatius of Loyola


MINUTE MEDITATIONS
Feed the Hungry
Jesus’s humanity and His biological need to be fed Himself gives power and personal force to His teaching that when we feed the hungry and give drink to the thirsty, we do it to Him.
— from Epic Food Fight 

 Blessed are those whose help is the God of Jacob
‘This is how it will be at the end of time.’
Using the familiar image of fishermen sorting their catch, Jesus draws attention to the fact that we must all some day render an account of how we have lived our lives. Michelangelo’s Last Judgment in the Sistine Chapel is a startling visual reminder of this truth. One way of responding to this teaching is to practise what, in Jesuit spirituality, is called the Examen. In this daily act of discernment and reflective decision-making we see more clearly how we stand in our relationship with God and one another. With the psalmist let us pray: ‘Search me, O God, and know my heart! Try me and know my thoughts! And see if there be any wicked way in me, and lead me in the way everlasting!’ (Ps 139:23-24)

July 31
St. Ignatius of Loyola
(1491-1556)

The founder of the Jesuits was on his way to military fame and fortune when a cannon ball shattered his leg. Because there were no books of romance on hand during his convalescence, Ignatius whiled away the time reading a life of Christ and lives of the saints. His conscience was deeply touched, and a long, painful turning to Christ began. Having seen the Mother of God in a vision, he made a pilgrimage to her shrine at Montserrat (near Barcelona). He remained for almost a year at nearby Manresa, sometimes with the Dominicans, sometimes in a pauper’s hospice, often in a cave in the hills praying. After a period of great peace of mind, he went through a harrowing trial of scruples. There was no comfort in anything—prayer, fasting, sacraments, penance. At length, his peace of mind returned.
It was during this year of conversion that Ignatius began to write down material that later became his greatest work, the Spiritual Exercises.
He finally achieved his purpose of going to the Holy Land, but could not remain, as he planned, because of the hostility of the Turks. He spent the next 11 years in various European universities, studying with great difficulty, beginning almost as a child. Like many others, his orthodoxy was questioned; Ignatius was twice jailed for brief periods.
In 1534, at the age of 43, he and six others (one of whom was St. Francis Xavier, December 2) vowed to live in poverty and chastity and to go to the Holy Land. If this became impossible, they vowed to offer themselves to the apostolic service of the pope. The latter became the only choice. Four years later Ignatius made the association permanent. The new Society of Jesus was approved by Paul III, and Ignatius was elected to serve as the first general.
When companions were sent on various missions by the pope, Ignatius remained in Rome, consolidating the new venture, but still finding time to found homes for orphans, catechumens and penitents. He founded the Roman College, intended to be the model of all other colleges of the Society.
Ignatius was a true mystic. He centered his spiritual life on the essential foundations of Christianity—the Trinity, Christ, the Eucharist. His spirituality is expressed in the Jesuit motto, ad majorem Dei gloriam—“for the greater glory of God.” In his concept, obedience was to be the prominent virtue, to assure the effectiveness and mobility of his men. All activity was to be guided by a true love of the Church and unconditional obedience to the Holy Father, for which reason all professed members took a fourth vow to go wherever the pope should send them for the salvation of souls.


Comment:

Luther nailed his theses to the church door at Wittenberg in 1517. Seventeen years later, Ignatius founded the Society that was to play so prominent a part in the Catholic Reformation. He was an implacable foe of Protestantism. Yet the seeds of ecumenism may be found in his words: “Great care must be taken to show forth orthodox truth in such a way that if any heretics happen to be present they may have an example of charity and Christian moderation. No hard words should be used nor any sort of contempt for their errors be shown.” One of the greatest 20thh-century ecumenists was Cardinal Bea, a Jesuit.
Quote:

Ignatius recommended this prayer to penitents: “Receive, Lord, all my liberty, my memory, my understanding and my whole will. You have given me all that I have, all that I am, and I surrender all to your divine will, that you dispose of me. Give me only your love and your grace. With this I am rich enough, and I have no more to ask.”
Patron Saint of:

Retreats

LECTIO DIVINA: MATTHEW 13,47-53
Lectio: 
 Thursday, July 31, 2014  
Ordinary Time

1) Opening prayer
God our Father and protector,
without you nothing is holy,
nothing has value.
Guide us to everlasting life
by helping us to use wisely
the blessings you have given to the world.
We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son,
who lives and reigns with you and the Holy Spirit,
one God, for ever and ever. Amen.

2) Gospel Reading - Matthew 13,47-53
Jesus said to the people: 'Again, the kingdom of Heaven is like a dragnet that is cast in the sea and brings in a haul of all kinds of fish. When it is full, the fishermen bring it ashore; then, sitting down, they collect the good ones in baskets and throw away those that are no use. This is how it will be at the end of time: the angels will appear and separate the wicked from the upright, to throw them into the blazing furnace, where there will be weeping and grinding of teeth. 'Have you understood all these?' They said, 'Yes.'
And he said to them, 'Well then, every scribe who becomes a disciple of the kingdom of Heaven is like a householder who brings out from his storeroom new things as well as old.' When Jesus had finished these parables he left the district.

3) Reflection
• The Gospel today presents the last parable of the Discourse of the Parables, the story of the dragnet thrown into the sea. This parable is found only in the Gospel of Matthew without any parallel in the other three Gospels.

• Matthew 13,47-48: The parable of the dragnet cast into the sea. The Kingdom of Heaven is like a dragnet that is cast into the sea and brings in a whole haul of all kinds of fish. When it is full, the fishermen haul it ashore; then sitting down; they collect the good ones in baskets and throw away those that are no use”. This story is well known by the people of Galilee who live around the lake. This is their work. The story shows clearly the end of a day of work. The fishermen go fishing with only one purpose: to cast the net and to catch a great number of fish, to haul the net ashore and to choose the good fish to take home and to throw away those that are no good. Describe the satisfaction of the fishermen, at the end of the day of a day, being very tired having worked hard. This story must have brought a smile of satisfaction on the face of the fishermen who listened to Jesus. The worse thing is to arrive to the shore at the end of the day without having caught anything (Jn 21,3).

• Matthew 13,49-50: The application of the parable. Jesus applies the parable, or better still gives a suggestion in order that persons can discuss and apply the parable to their life: “This is how it will be at the end of time, the angels will appear and separate the wicked from the upright, to throw them into the blazing furnace where there will be weeping and grinding of teeth”. How are we to understand this blazing furnace? These are very strong images to describe the destiny of those who separate themselves from God or who do not want to know anything about God. In every city there is a place where to throw the garbage every day. There is a permanent furnace nourished every day by the garbage of every day. The garbage place in Jerusalem was located in a valley called geena, where, at the time of the kings, there was a furnace even to sacrifice to the false gods of Molok. For this reason, the furnace of geena becomes the symbol of exclusion and of condemnation. God is not the one who excludes. God does not want the exclusion and the condemnation of anyone; he wants that all may have life and life in abundance. Each one of us excludes himself/herself.

• Matthew 13,51-53: The end of the discourse of the Parables. At the end of the discourse of the Parables, Jesus concludes with the following question: "Have you understood these things?” They answered: “Yes”. And Jesus finishes the explanation with another comparison which describes the result which he wants to obtain through the parables: “Well, then, every Scribe who becomes a disciple of the Kingdom of Heaven is like a householder who brings out from his storeroom new things as well as old”.
Two points to clarify:

(a) Jesus compares the doctor of the law to the father in the family. What does the father of the family do? “He brings out from his treasure new things and old things”. Education at home takes place through the transmission to the sons and daughters of what the parents have received and learnt along the time. It is the treasure of the family wisdom where the richness of faith is enclosed, the customs of life and many other things that the children learn with time. Now Jesus wants that in the community the persons who are responsible for the transmission of faith be as the father in the family. Just like the parents are responsible for the life of the family, in the same way, these persons who are responsible for the teaching should understand the things of the Kingdom and transmit it to the brothers and sisters in the community.

(b) Here there is the question of a doctor of the law who becomes a disciple of the Kingdom. Therefore, there were doctors of the law who accepted Jesus, and saw in him the one who revealed the Kingdom. Is this what happened to a doctor when he discovers the Messiah in Jesus, the Son of God? Everything which he has studied to be able to be a doctor of the law continues to be valid, but it receives a deeper dimension and a broader purpose. A comparison can clarify what has just been said. In a group of friends one shows a photo, where one sees a man with a severe face, with his finger up, almost attacking the public. Everybody thinks that it is a question of an inflexible person, demanding, who does not allow for any intimacy. At that moment a young boy arrives, he sees the photo and exclaims: “He is my father!” The others look at him and comment: “A severe Father, true?” He answers: “No, and no! He is very affectionate. My father is a lawyer. That photo was taken in the tribunal, while he was denouncing the crime of a great landowner who wanted a poor family to abandon their home where they had lived for many years! My father won the cause. And the poor family remained in the house!” All looked at him again and said: “What a pleasant person!” Almost like a miracle the photo enlightened from within and assumed a different aspect. That very severe face acquired the features of great tenderness! The words of the son, the result of his experience of being the son, changed everything, without changing anything! The words and the gestures of Jesus, result of his experience as a Son, without changing a letter or a comma, enlightened from within the wisdom accumulated by the doctor of the law. And thus, God who seemed to be so far away and so severe acquired the features of a good Father and of enormous tenderness!

4) Personal questions
• Has the experience of Son entered in you and changed your look, making you discover the things of God in a different way?

• What has the Discourse of the Parables revealed to you about the Kingdom?

5) Concluding Prayer
Praise Yahweh, my soul!
I will praise Yahweh all my life,
I will make music to my God as long as I live. (Ps 146,1-2)


31-07-2014 : THỨ NĂM TUẦN XVII MÙA THƯỜNG NIÊN - Thánh I-Nha-Xi-ô Lôi-ô-la, Linh Mục (Lễ Nhớ)

31/07/2014
Thứ Năm sau Chúa Nhật 17 Quanh Năm
Thánh Ignatio Loyola

Bài Ðọc I: (Năm II) Gr 18, 1-6
"Như hòn đất nơi tay thợ gốm thế nào, thì các ngươi ở trong tay Ta cũng như vậy".
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Có lời Chúa phán cùng Giêrêmia rằng: "Ngươi hãy chỗi dậy, đi xuống nhà thợ gốm, và ở đấy ngươi sẽ nghe lời Ta". Tôi liền xuống nhà thợ gốm, và đây anh đang nắn đồ trên bàn quay. Cái bình đất do tay anh nắn đã vỡ nát, anh lại nắn cái khác theo như ý anh muốn làm. Và có lời Chúa phán cùng tôi rằng: "Chúa phán: Hỡi nhà Israel, nào Ta chẳng làm được cho các ngươi như người thợ gốm này sao? Hỡi nhà Israel! Ðây, như hòn đất trong tay người thợ gốm thế nào, thì các ngươi ở trong tay Ta cũng như vậy".
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 145, 2abc. 2d-4. 5-6
Ðáp: Phúc thay người được Thiên Chúa nhà Giacóp phù trợ (c. 5a).
Xướng: 1) Linh hồn tôi ơi, hãy khen ngợi Thiên Chúa; tôi sẽ khen ngợi Thiên Chúa trong cả cuộc đời; bao lâu còn có thân tôi, tôi còn ca ngợi Chúa. - Ðáp.
2) Ðừng tin cậy vào những vị quân vương, vào con người phàm không thể ban ơn cứu độ. Lúc y tắt thở, y sẽ trở về bụi đất; bấy giờ những lời bàn của y cũng tiêu tan. - Ðáp.
3) Phúc thay người được Thiên Chúa nhà Giacóp phù trợ, người đặt hy vọng vào Chúa là Thiên Chúa của mình: Người là Ðấng đã tạo thành trời đất, biển khơi và muôn vật chúng đang chứa đựng. Người là Ðấng giữ trung tín muôn đời. - Ðáp.
  
Alleluia: Tv 24, 4c và 5a
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Chúa và xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 13, 47-53
"Người ta lựa cá tốt bỏ vào giỏ, còn cá xấu thì ném ra ngoài".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Nước trời lại giống như lưới thả dưới biển, bắt được mọi thứ cá. Lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi đó mà lựa chọn: cá tốt thì bỏ vào giỏ, còn cá xấu thì ném ra ngoài. Ðến ngày tận thế cũng như vậy: các thiên thần sẽ đến mà tách biệt kẻ dữ ra khỏi người lành, rồi ném những kẻ dữ vào lò lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Các ngươi có hiểu những điều đó không?" Họ thưa: "Có".
Người liền bảo họ: "Bởi thế, những thầy thông giáo am tường về Nước trời cũng giống như chủ nhà kia, hay lợi dụng những cái cũ, mới trong kho mình". Khi Chúa Giêsu phán các dụ ngôn đó xong, thì Người rời khỏi nơi ấy.
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm: Thái Ðộ Bao Dung

Có một Bác sĩ nọ tìm đến với một vị Giám mục cao niên và tuyên bố: "Thưa Ðức Cha, con đến để thông báo cho Ðức Cha biết con đang nghĩ đến chuyện ra khỏi Giáo Hội, Ðức Cha nghĩ sao?".
Vị Giám mục yêu cầu ông cho biết một vài lý do khiến ông có ý định đó. Viên Bác sĩ nhìn thẳng vào mắt vị Giám mục và nói: "Thưa Ðức Cha, Ðức Cha nghĩ coi: Giáo Hội đã có mặt trên trần gian này 2,000 năm nay, thế mà con người có khá hơn không?".
Vị Giám mục bình tĩnh trả lời: "Bác sĩ nói thật chí lý, nhưng Bác sĩ hãy thử nghĩ lại: nước đã xuất hiện trên mặt đất này từ bao nhiêu triệu năm nay, vậy mà ngày nào Bác sĩ cũng như tôi, ai cũng phải rửa tay".
Nghe thế, viên Bác sĩ thinh lặng ra về, ông không còn nghĩ đến chuyện rời bỏ Giáo Hội nữa.
Với bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy có thái độ kiên nhẫn bao dung hơn đối với Giáo Hội của Ngài. Qua hình ảnh chiếc lưới thả xuống biển, kéo lên với đủ loại cá, trong đó người ta giữ lại những con cá tốt và ném đi những con cá xấu, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người chỉ được thực hiện trọn vẹn vào ngày cánh chung mà thôi, trong khi chờ đợi, thì người môn đệ của Ngài cần có thái độ kiên nhẫn, bao dung.
Giáo Hội là Thân Thể của Chúa Kitô. Tự bản chất, Giáo Hội là thánh thiện, như chúng ta vẫn tuyên xưng trong Kinh Tin Kính, nhưng Giáo Hội thánh thiện ấy lại gồm những con người tội lỗi. Ý thức cơ bản và quan trọng nhất của người Kitô hữu chính là luôn nhận biết mình là tội nhân, để từ đó kêu cầu lòng thương xót của Chúa và sự tha thứ của anh em. Thiếu ý thức ấy, người Kitô hữu sẽ rơi vào thái độ kiêu căng giả hình của những người Biệt phái bị Chúa Giêsu lên án gắt gao. Ðồng hành với nhân loại, mang đến cho nhân loại Tin Mừng cứu rỗi, cũng như Chúa Giêsu, Ðấng cứu độ, Giáo Hội chỉ có thể thực thi sứ mệnh của mình với thái độ kiên nhẫn, cảm thông, yêu thương, tha thứ mà thôi. Không ngôn ngữ nào hùng hồn hơn, không sứ điệp nào có tính thuyết phục hơn lòng nhân từ, sự khoan dung và tha thứ. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá là tuyệt đỉnh của hành động cứu rỗi của Ngài và lôi kéo mọi người lên với Ngài.
Luôn ý thức về thân phận tội lỗi yếu hèn của mình, không ngừng cảm thông với những thiếu sót bất toàn trong Giáo Hội, cố gắng thực thi lòng nhân từ bao dung với mọi người, đó là thách đố đang đặt ra cho người Kitô hữu chúng ta hơn bao giờ hết. Xin Chúa khơi dậy trong tâm hồn chúng ta lòng yêu mến Giáo Hội được thể hiện bằng những cử chỉ cảm thông bao dung, kiên nhẫn mỗi ngày.
Veritas Asia


Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Năm Tuần 17 TN2
Bài đọc: Jer 18:1-6; Mt 13:47-52

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Cần biết mình trong mối tương quan với Thiên Chúa.
Khi con người càng giàu có và tiến bộ văn minh, con người càng xa Thiên Chúa; ngược lại, ở những nước nghèo khổ và chậm phát triển, con người dễ tin tưởng vào Thiên Chúa hơn. Một ví dụ dẫn chứng: Đức Giáo Hoàng Benedict đã hơn một lần cảnh cáo các nước Âu Châu đang mất dần đi đức tin, gia sản Kitô giáo của mình; đang khi đó ở Phi Châu và Á Châu, số tín hữu và linh mục lại gia tăng rất nhiều. Lý do nào đã đưa con người xa Thiên Chúa khi họ trở nên giàu có và thụ hưởng một nếp sống văn minh hơn? Có phải khi con người giàu có và tiến bộ, Thiên Chúa không còn chỗ đứng trong cuộc đời của họ nữa?
Các bài đọc hôm nay cho chúng ta một cái nhìn xác thực về vấn đề này. Trong bài đọc I, ngôn sứ Jeremiah được Thiên Chúa mặc khải sự khôn ngoan khi ông chứng kiến người thợ gốm làm việc. Như nắm đất sét trong tay thợ gốm, ông có thể nặn ra những chiếc bình khác nhau; nếu có chiếc bình nào không đúng ý, ông có thể loại bỏ hoặc sửa lại cho vừa ý. Thiên Chúa cũng thế, Ngài có thể sáng tạo nên những con người khác nhau; nếu một người trở nên không đúng ý Thiên Chúa, Ngài có thể loại bỏ hay sửa chữa cho hợp với thánh ý của Ngài. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đưa ra hai hình ảnh để mời gọi con người suy nghĩ. Thứ nhất, như chiếc lưới thả xuống biển và bắt lên mọi cá tốt cũng như cá xấu, người ngư phủ ngồi lựa cá tốt cho vào giỏ, cá xấu quăng đi; thiên thần của Thiên Chúa cũng gom nhặt tất cả mọi người, người công chính cho vào Nước Trời, trong khi những người xấu nết bị quăng ra ngoài. Thứ hai, như một quản gia tích trữ trong kho cả những cái cũ lẫn cái mới, Nước Trời cũng bao gồm cả cái cũ lẫn cái mới, chứ không phải chỉ có những cái mới mà thôi.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Đất sét ở trong tay người thợ gốm thế nào, các ngươi ở trong tay Ta cũng như vậy.
Mặc khải của Thiên Chúa cho con người không chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng hình ảnh, vì chúng giúp con người dễ cảm nhận hơn. Những thị kiến các ngôn sứ nhìn thấy, không nhất thiết phải từ trời; nhưng có thể từ những kinh nghiệm nhìn thấy hằng ngày. Thiên Chúa ban ơn linh hứng cho các ngôn sứ, để ông có thể hiểu một chân lý cao sâu đàng sau những gì đang thấy, trước khi loan truyền lại cho dân chúng.
1.1/ Hình ảnh đất sét ở trong tay người thợ gốm: Trình thuật hôm nay muốn diễn tả: Đất sét chỉ là chất liệu. Nó không thể đòi người thợ gốm tạo thành chiếc bình thay vì cái nồi. Óc sáng tạo là ở nơi người thợ gốm, ông có thể nặn lên bất cứ hình ảnh nào ông muốn. Khi nặn một đồ vật bị hỏng, ông có thể vứt đi, hoặc nhồi đất sét để nặn lại. Đất sét không có một chút uy quyền gì đối với người thợ gốm.
Bàn xoay (obnayim) chỉ tìm thấy ở đây, là hai cối đá được nối kết với nhau bằng một trục đứng. Cối đá ở dưới được điều khiển bằng chân; trong khi cối đá ở trên được điều khiển bằng tay (Sir 38:29-30). Chiếc bình bị hỏng vì nhiều lý do, nhưng lý do chính yếu là nó không theo đúng ý của người thợ gốm. Khi thấy không hợp ý, người thợ gốm có quyền vứt đi để nặn chiếc bình khác hay sửa chữa cho đúng ý. Đây chính là ý chính của thị kiến.
1.2/ Con người ở trong tay Thiên Chúa: Trình thuật hôm nay có ý muốn nói: Thiên Chúa chính là người thợ gốm. Israel chính là đất sét trong tay Ngài. Thiên Chúa có thể (yasar), có nghĩa “nặn” hay “sáng tạo” nên những con người khác nhau. Ý tưởng con người là đất sét rất phổ thông trong vùng Cận Đông, và nguồn gốc của nó liên quan với thợ gốm.
Ý chính của trình thuật là con người hoàn toàn tùy thuộc vào Thiên Chúa cho sự hiện hữu của họ. Thiên Chúa có thể làm cho con người trở thành một thọ tạo tốt đẹp nhất, như người thợ gốm làm một chiếc bình đẹp nhất. Chiếc bình không thể nói với thợ gốm: Tự tôi làm ra chiếc bình đẹp này. Như đất sét không thể truyền cho người thợ gốm nặn mình thành cái gì mình muốn hay đừng nặn những gì mình không muốn; con người cũng không thể yêu cầu Thiên Chúa tạo họ thành những gì họ muốn, và họ cũng không thể trở thành những gì mà Thiên Chúa không muốn.
Trong thực tế, khi vật chất tương đối đầy đủ hay hưởng thụ các văn minh tiến bộ, con người thường có khuynh hướng kiêu hãnh: coi như tất cả những gì mình sở hữu là do chính mình tạo nên. Vì quên nguồn gốc nên họ coi họ như chủ nhân và làm bất cứ điều gì họ muốn. Họ khinh thường những điều răn Chúa dạy và coi những điều này như là dây xích giới hạn sự tự do của họ.
2/ Phúc Âm: Nước Trời giống như lưới cá thả xuống biển gom được đủ thứ cá.
2.1/ Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính: Chúa Giêsu dùng hình ảnh người ngư phủ ngồi lựa cá để nhắc nhở cho dân chân lý này: Chẳng có ngư phủ nào dại dột bỏ chung cá tốt với cá xấu. Trái lại, ông sẽ ngồi chọn lựa: cá tốt bỏ vào giỏ, cá xấu quăng ra ngoài. Cũng vậy, trong Ngày Phán Xét, Chúa sẽ sai các thiên thần của Ngài lựa những người tội lỗi ra khỏi những người công chính, và quăng họ vào lò lửa, ở đó họ sẽ phải khóc lóc và nghiến răng! Nếu con người biết họ sẽ không thể vào Nước Trời nếu cứ mang trong mình đủ mọi tội lỗi, họ phải biết ăn năn trở lại và tập sống thành người tốt hơn.
2.2/ Nước Trời giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ: Chúa dùng hình ảnh của người luật sĩ đã được học hỏi thông thạo về Nước Trời: Ông giống như người quản gia, mang ra từ kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ. Qua hình ảnh này, Chúa cho dân chúng thấy Nước Trời không chỉ toàn cái cũ, cũng không chỉ toàn cái mới; mà là cả cũ lẫn mới. Nếu hiểu Nước Trời là chính Chúa Giêsu, từ nơi Ngài tập trung cả cái cũ lẫn cái mới, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Ngài đến để làm trọn những gì Cựu Ước đã nói về Ngài.
Một trong những thái độ vô cùng nguy hiểm của con người thời đại là thái độ “có mới nới cũ.” Những người này chủ trương phải đạp đổ hay ít nhất xét lại tất cả quá khứ và xây dựng lại từ đầu. Họ quên đi rằng không phải tất cả những gì cũ là dở và những gì mới đều hay; chưa chắc cái mới đã tốt bằng cái cũ, và rất nhiều lần cái mới là kiện toàn của cái cũ. Những tiến bộ của khoa học không nên làm con người xa Thiên Chúa; nhưng phải là lý do để con người tiến gần Chúa hơn, vì Thiên Chúa đã cho con người có khôn ngoan để khám phá ra những trật tự mà Thiên Chúa đã cho tiềm ẩn trong thế giới.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Con người do Thiên Chúa tạo dựng và điều khiển. Chúng ta không bao giờ được kiêu hãnh coi mình trên Thiên Chúa hay không cần đến Ngài. Trái lại, chúng ta cần khiêm nhường nhìn nhận mình chỉ là loài thụ tạo trước mặt Chúa và không thể sống thiếu Ngài.
- Chúng ta sẽ chết và bị phán xét trong Ngày Tận Thế. Ngày Tận Thế không phải do trí tưởng tượng nhưng do chính Con Thiên Chúa đã mạc khải. Trong ngày này, chúng ta sẽ phải trả giá tất cả các việc mình đã làm khi còn sống nơi thế gian, và sẽ được vào Nước Trời hay bị quăng ra ngoài là do hậu quả của các việc làm này.
- Vì những chân lý này mà chúng ta phải sống rất khôn ngoan đang khi còn sống trên thế gian. Chúng ta phải cẩn thận tuân giữ luật Chúa, càng văn minh bao nhiêu càng cần giữ luật nghiệm nhặt bấy nhiêu. Chúng ta đừng sống như không có nguồn gốc và cũng đừng sống như không có ngày mai.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP

31/07/14 THỨ NĂM TUẦN 17 TN
Th. I-nha-xi-ô Lôi-ô-la, linh mục
Mt 13,47-53

Suy niệm: Người ta cho rằng Giáo Hội là trại cải huấn cho các tội nhân, chứ không phải là nhà bảo tàng dành cho các thánh. Thật ra, Giáo Hội bao gồm cả thánh nhân lẫn tội nhân, người tốt bên cạnh kẻ xấu. Đức Giê-su không lập một Giáo Hội chỉ gồm những người tinh tuyền, tốt lành, hay chỉ gồm những con người xấu xa, tội lỗi cần hoán cải. Tựa như chiếc lưới gom được đủ mọi thứ cá, Nước Trời cũng đón nhận đủ mọi hạng người. Ngài nhân lành chấp nhận sự chung đụng, ngô khoai, vàng thau lẫn lộn. Bao lâu chưa đến ngày cánh chung, ta đừng vội lên án hay xét xử ai. Qua dụ ngôn này, ta học được tấm lòng nhân hậu của Đức Giê-su, Ngài ban nhiều cơ hội và chờ đợi người xấu hoán cải.
Mời Bạn: Bạn thường bực tức vì có những thành phần không tốt trong cộng đoàn, trong Giáo Hội. Thay cho thái độ loại trừ khắt khe, bạn hãy học lấy tâm tình khoan dung và nhẫn nại của Đức Giê-su: cầu nguyện, nâng đỡ và chờ đợi những người anh em ấy hoán cải. Bạn có chấp nhận quan điểm này và nỗ lực sống như vậy không?
Sống Lời Chúa: Tôi sẽ không khó chịu, bực tức và đòi loại trừ những anh em không tốt ra khỏi cộng đoàn hay đoàn thể. Trái lại, tập khoan dung và kiên nhẫn như Đức Giêsu.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, dù chúng con có nhiều điểm khác biệt, nhưng xin hiệp nhất chúng con trong tình yêu. Xin cho chúng con biết yêu thương nhau thật tình, chia sẻ cho nhau mọi nỗi buồn vui, nâng nhau dậy khi vấp ngã, phấn khởi trước những thành công, thẳng thắn góp ý cho nhau để cùng nhau tiến bộ. Amen. (Rabbouni).

Cá tốt cho vào giỏ
Gia nhập Hội Thánh không phải là một bảo đảm để được cứu độ. Còn cần sống hoàn thiện như Cha trên trời.


Suy niệm:
Dụ ngôn chiếc lưới được coi là dụ ngôn cuối cùng
trong một chuỗi bảy dụ ngôn của chương 13 theo Tin Mừng Mátthêu.
Dụ ngôn này có nhiều điểm tương đồng với dụ ngôn lúa và cỏ lùng.
Cả hai đều nói đến sự tách biệt kẻ xấu và người tốt vào ngày tận thế,
và kẻ xấu sẽ bị Thiên Chúa luận phạt nghiêm minh (cc. 42. 50).
Đức Giêsu đã dùng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi để nói về Nước Trời.
Có khi là hình ảnh nông nghiệp như dụ ngôn người gieo giống,
dụ ngôn lúa và cỏ lùng, hay dụ ngôn hạt cải.
Có khi là hình ảnh về chăn nuôi như dụ ngôn về người mục tử.
Có khi là hình ảnh về ngư nghiệp như trong dụ ngôn chiếc lưới.
Một số môn đệ của Ngài đã sống bằng nghề chài lưới ở hồ Galilê.
Thời xưa việc đánh cá ở hồ này cũng đơn giản như ở quê ta ngày nay.
Những ngư phủ đi trên những chiếc thuyền nhỏ.
Họ quăng lưới vào những nơi thấy dấu hiệu có cá đang đi.
Lưới với những hòn chì nặng sẽ chụp xuống đàn cá và họ chỉ cần kéo vào bờ.
Một chi tiết đáng chú ý ở đây là họ gom được mọi loại cá, cả tốt lẫn xấu.
Hình ảnh này gợi cho ta về việc mọi người, bất luận tốt xấu,
đều được mời gọi tham dự bàn tiệc Nước Trời (Mt 22, 9-10).
Trong Hội Thánh, cũng có sự pha trộn giữa người tốt, kẻ xấu,
như được ám chỉ trong dụ ngôn lúa và cỏ lùng.
Ở các tỉnh ven hồ Galilê, ta dễ thấy cảnh tượng các ngư phủ ngồi trên bờ,
gom cá đánh được trong ngày, giữ lại cá tốt, quăng đi cá xấu.
Chỉ khi lưới đầy, họ mới làm công việc lựa cá như vậy (c. 48).
Tương tự như trên, chỉ khi đến ngày tận thế, các thiên thần mới xuất hiện
để tách biệt kẻ xấu ra khỏi người công chính (c. 49).
Như thế tình trạng hiện nay của Hội Thánh vẫn là chưa hoàn hảo.
Không phải mọi Kitô hữu đều đã sống tinh thần Bài Giảng trên núi.
Có những Kitô hữu không sinh trái, vì hạt giống nhận được đã bị thui chột,
bởi thử thách gian nan hay mối lo toan vật chất (Mt 13, 18-22).
Có những Kitô hữu tuy vẫn kêu Đức Giêsu là Lạy Chúa ! (Mt 7, 21-23),
vẫn nhân danh Ngài mà nói tiên tri, trừ quỷ hay làm phép lạ,
nhưng lại không thi hành ý muốn của Cha trên trời và làm điều gian ác.
Có những Kitô hữu dự tiệc cưới mà không mặc áo cưới (Mt 22, 11-13).
Có những Kitô hữu là muối nhạt, đã trở thành vô dụng (Mt 5, 13).
Như thế gia nhập Hội Thánh không phải là một bảo đảm để được cứu độ.
Còn cần sống hoàn thiện như Cha trên trời (Mt 5, 48).
Thời nay chúng ta không thích nghĩ đến những chuyện bị coi là xa xôi,
như chuyện tận thế, chuyện Thiên Chúa phán xét và luận phạt.
Chúng ta thích sống yên ổn với một Thiên Chúa nhân hậu vô cùng,
đến độ có vẻ như hỏa ngục chỉ là chuyện viển vông để dọa con nít.
Nhưng dù sao cũng không tránh được ngày cỏ lùng bị tách khỏi lúa,
cá xấu bị tách khỏi cá tốt, kẻ bất lương bị tách khỏi người lành.
Cuối cùng Nước Trời sẽ không còn chút bóng dáng của sự dữ,
và Thiên Chúa sẽ là mọi sự cho mọi người (1 Cr 15, 28).
Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
xin thương nhìn đến Hội Thánh
là đàn chiên của Chúa.
Xin ban cho Hội Thánh
sự hiệp nhất và yêu thương,
để làm chứng cho Chúa
giữa một thế giới đầy chia rẽ.

Xin cho Hội Thánh
không ngừng lớn lên như hạt lúa.
Xin đừng để khó khăn làm chúng con chùn bước,
đừng để dễ dãi làm chúng con ngủ quên.

Ước gì Hội Thánh trở nên men
được vùi sâu trong khối bột loài người
để bột được dậy lên và trở nên tấm bánh.
Ước gì Hội Thánh thành cây to bóng rợp
để chim trời muôn phương rủ nhau đến làm tổ.

Xin cho Hội Thánh
trở nên bàn tiệc của mọi dân nước,
nơi mọi người được hưởng niềm vui và tự do.

Cuối cùng xin cho chúng con
biết xây dựng một Hội Thánh tuyệt vời,
nhưng vẫn chấp nhận cỏ lùng trong Hội Thánh.

Ước gì khi thấy Hội Thánh ở trần gian,
nhân loại nhận ra Nước Trời ở gần bên. Amen.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
31 THÁNG BẢY
Ngay Cả Sự Chết Cũng Phục Vụ Cho Sự Sống
Chúng ta nhận thấy Cựu Ước – trong khi nhìn nhận sự có mặt của nhiều loại sự dữ và đau khổ trong đời – đã làm chứng hùng hồn rằng sự khôn ngoan và lòng từ ái của Thiên Chúa (biểu hiện qua sự quan phòng thần linh của Ngài) tất thắng trên mọi sự dữ và đau khổ.
Cảm nhận này được trình bày trong Sách Gióp, cuốn sách xoáy trọn vào chủ đề sự dữ và tiếng kêu ai oán thất vọng. Cuốn sách quan trọng này (về chủ đề sự dữ) đôi khi được thấy như một kiểm nghiệm hùng hồn ‘đo lòng’ người công chính. Nhưng đây chỉ là một khía cạnh phụ thuộc của quyển sách mà thôi. Cốt lõi của quyển sách chính là sự đúc kết vừa rõ ràng vừa công phu của tác giả rằng Thiên Chúa là Đấng tốt lành. Qua Sách Gióp, chúng ta nắm bắt những giới hạn và bản chất phù du của mọi tạo vật. Chúng ta nhận ra rằng một số hình thức của sự dữ thể lý có thể là do bản chất sa ngã của thế giới gây ra.
Chúng ta cũng ý thức rằng tất cả những gì thuộc vật chất đều ở trong một mối quan hệ hỗ tương gần gũi nhau – như câu nói xưa: “Đây chết thì kia sống”. Như vậy, xét một mức nào đó, ngay cả sự chết cũng phục vụ cho sự sống. Qui luật này cũng không loại trừ con người – vì con người vừa là xác thịt vừa là tinh thần, vừa khả diệt vừa bất tử.
Trong chiều hướng này, những ý tưởng của Thánh Phao-lô càng vén mở các chân trời rộng hơn nữa: “Dù con người bên ngoài chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới” (2Cr 4,16). Rồi ngài nói thêm: “Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời” (2Cr 4,17).
- suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II -
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations by Pope John Paul II


Lời Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 31-7
Thánh Ignatiô Loyôla, linh mục
Gr 18, 1-6; Mt 13, 47-53.

LỜI SUY NIỆM: “Nước Trời lại còn giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài.”
Chúng ta là những Kitô hữu, chúng ta như là những con cá đang ở trong lưới Nước Trời. Chắc chắn chúng ta phải chết đi vì tội lỗi của mình, để được tái sinh, trở thành một tạo vật mới. Điều quan trọng đối với mỗi người chúng ta ngay từ bây giờ và từng ngày một, đừng bao giờ quay trở lại cuộc sống bên ngoài lưới của Giáo Hội, lưới Nước Trời.
Lạy Chúa Giêsu. Chúng con tạ ơn Chúa đã thương cho chúng con đang ở trong Giáo Hội của Chúa. Xin cho mọi thành viên trong gia đình chúng con luôn trung thành sống đức tin, đức cậy và đức mến.
Mạnh Phương


Gương Thánh Nhân
Ngày 31-07: Thánh IGNATIÔ LOYOLA
Linh Mục (1491 - 1556)

Don Inigo Lopez de Recalde sinh khoảng năm 1481 tại miền đồi núi Basque gần làng Azpeytia. Ngài là con út trong số 11 người con của một gia đình quí tộc. Được rửa tội với tên Inigo, một vị thánh Tây Ban Nha dòng thánh Bênêdictô, nhưng sau này Ngài thường dùng tên Ignatiô thành Antiokia. Hồi còn niên thiếu, người giúp việc cho một người bạn quí tộc của một gia đình là Giuan Velasquez. Sau khi Velasquez từ trần, Ngài lại phục vụ bá tước Najera, phó vương miền Navarre. Ngài được giáo dục một cách hời hợt. Thời đó, Ngài chỉ ham chơi, thích những chuyện hào hùng, nhất là những ngày lễ duyệt binh.
Trong cuộc chiến Pháp, Tây Ban Nha tháng năm 1521 quân đội pháp đã vượt núi Pyrênê và tới phong tỏa Pampeluna. Nhiều người đã tính chuyện đầu hàng, nhưng Ignatiô quyết cầm cự. Trong cơn bão tố tại pháo đài Ignatiô bị trúng đạn pháo ở đùi, Ngài được chuyển về lâu đài ỏ Loyola. Nơi dây người ta khám phá ra rằng xương đùi đã bị xếp trật, phải mổ ra và sắp xếp lại. Ngài đã can đảm chịu đựng cơn đau.
Thời gian dưỡng bệnh lâu dài tiếp theo sau đó, không có sách vở gì khác, Ignatiô dùng thời gian để đọc hạnh các thánh. Gương mẫu đời sống các thánh làm mủi lòng Ignatiô. Ngài nói: - Tôi có phải thực hiện điều mà thánh Phaxicô và Dominico đã làm chăng ?
Năm 1522, sau khi bình phục, Ngài đi hành hương kính Đức bà Montserrat. Nơi đây Ngài đã thực hiện cuộc xưng tội trong ba ngày, trao tặng đồ hiệp sĩ cho một kẻ ăn xin, đặt gươm trên bàn thờ Đức Mẹ và tới thành Manresa kế cận để phục vụ trong một nhà thương. Đã một thời Ngài bị nguy hiểm rơi vào một cuộc khổ hạnh quá độ. Ngài Ngài đã thoát hiểm nhờ sự vâng phục hoàn tòan đối với cha giải tội. Chính tại Manresa, Ngài được Thiên Chúa soi sáng, sự soi sáng hứơng dẫn trọn những ngày còn lại của cuộc đời Ngài. Ngài viết cuốn linh thao, trong đó vạch ra những nguyên tắc mà một người công giáo phải theo để "điều khiển đời sống mình" một đời sống nhằm ca tụng Chúa, tôn kính và phụng sự Ngài, để được cứu rỗi. Ngài phác họa một giáo thuyết của mình về sự chọn lựa và đòi hỏi để làm mọi sự để "vinh danh Chúa" (Ad Majorem dei gloriam)
Thánh nhân ở lại Manresa khoảng một năm và từ đó hành hương đi Palestina, trên đường đi có dừng lại ở Roma. Sau khi đã kính viếng các nơi thánh ở Palestina, Ngài trở về Barcelona. Nơi đây, dầu đã 30 tuổi, Ngài vẫn đến trường, ngồi chung ghế với các em nhỏ, để sữa chữa lại kẽ hở trong việc học hành, cho tới khi Ngài có thể dự lớp tại đại học Alcala và Salamanca. Tại cả hai nơi này, đã Ngài bị truy tố ra tòa án tôn giáo và bị tống giam ít ngày. Nhưng cuối cùng giáo thuyết của Ngài đã thắng.
Năm 1528, Ngài bỏ Salamanca đi Paris và Sorbonne. Ngài ở Paris 7 năm, nơi đây Ngài tụ họp được sáu môn sinh đầu tiên. Vào ngày lễ Mông Triệu năm 1534 bảy anh em đã long trọng hiến thân phụng sự Thiên Chúa, khấn giữ đức nghèo khó và trong sạch, tại đền thờ thánh Denis tại Montmartre. Lúc đó, họ dự định đi Giêrusalem và hiến thân cho việc cứu rỗi các linh hồn trong các miền còn ngoại giáo.
Ignatiô trở về Tây Ban Nha. Năm 1535, tu hội đã lên tới 10 người. Họ gặp nhau ở Venitia, định cùng đáp tàu đi hành hương thánh địa. Nhưng tình hình miền Đông Địa Trug Hải không cho phép. Bù lại một số đi Roma, để Ignatiô tại Venitia. Đức giáo hoàng Phaolô III ưu ái tiếp họ. Trở lại Ventia, họ mang theo phép của Đức Giáo hoàng cho Ignatiô và 6 anh em được thụ phong linh mục.
Một năm sau, thấy rằng: không thể tới thánh địa được, Ignatiô kết luận rằng ý Chúa không muốn cuộc hành hương này. Thay vào đó, Ngài đặt tu hội dưới danh hiệu "dòng Chúa Giêsu" dưới quyền xử dụng của toà thánh. Họ đi Roma và Ignatiô dâng thánh lễ đầu tiên ở đầu vào dịp lễ Giáng sinh năm 1538 tại đền thờ Đức Bà cả, Ngài soạn thảo hiến pháp của dòng mới và đến trình diện Đức giáo hoàng Phaolô III. Đức giáo hoàng đã phát biểu khi gặp họ: - Đây là bàn tay Thiên Chúa.
Và trong sắc lệnh Regimini Militantis Ecclesioe, ban hành tháng 9 năm 1540 Ngài đã chính thức công nhận hội dòng. Hội dòng thêm vào đó 3 lời khấn: nghèo khó, vâng lời, trong sạch, lời khấn đặc biệt vâng phục Đức giáo hoàng.
Trong hiến pháp đầu tiên, hội dòng giới hạn con số có 60 tu sĩ. Ignatiô được đồng thanh bầu làm bề trên ngày 7 tháng 4 năm 1541. Luật hạn định tu sĩ vào số 60 được rút lại bởi sắc lệnh của Đức giáo hoàng ngày 15 tháng 3 năm 1543.
Ignatiô khó rời bỏ Roma cho đến cuối đời. Nhưng hội dòng đã lan rộng tới mọi miền trên thế giới, dưới quyền hướng dẫn của Ngài như một phép lạ, khi Ngài từ trần vào ngày 3 tháng 7 năm 1556, hội dòng đã có 12 tỉnh dòng với 101 nhà và gần 1000 phần tử.
Thánh Ignatiô được suy tôn hiển thánh ngày 12 tháng 3 năm 1622.
(daminhvn.net)


31 Tháng Bảy
Tiếng Kêu Của Ếch
Một vị ẩn sĩ đạo đức nọ nổi tiếng là người có thể sai khiến được thú vật.
Một buổi tối nọ, ông đang tịnh niệm cầu nguyện, một con ếch không biết từ đâu cất tiếng kêu lên inh ỏi. Vị ẩn sĩ cố gắng tập trung ý chí vào lời cầu nguyện để không còn nghe tiếng ếch kêu nữa. Nhưng ông càng cố gắng, tiếng ếch càng kêu to. Không còn tự chế được nữa, vị ẩn sĩ quát lên: "Hãy câm miệng cho ta cầu nguyện được không?".
Mệnh lệnh đầy uy lực của nhà ẩn sĩ đã bịt miệng được chú ếch. Thinh lặng trở lại với không gian. Nhưng cũng chính lúc đó, nhà ẩn sĩ như nghe vang vọng trong tâm hồn ông một tiếng kêu khác. Ông nghe như có người nói với ông rằng: "Có lẽ Chúa cũng ưa thích tiếng kêu của ếch như lời cầu kinh của ngươi". Vị ẩn sĩ hỏi vặn lại: "Tiếng kêu của ếch mà cũng làm cho lỗ tai của Chúa vui được sao?". Tiếng kêu trong tâm hồn ông đáp trả: "Vậy thì ngươi có biết tại sao Chúa tạo ra âm thanh không?".
Vị ẩn sĩ chợt hiểu được bài học từ trong nội tâm... Ông đến bên cửa sổ và ra lệnh cho chú ếch: "Nào, hãy hát lên đi". Tiếng kêu của chú ếch vang lên, mấy chú ếch xung quanh cũng hòa theo một nhịp tạo thành một bài ca lúc trầm lúc bổng, lúc dặt dìu, lúc tha thiết... Ðêm vắng bỗng trở nên vui hơn.
Với sự khám phá trên đây, trái tim của nhà ẩn sĩ bỗng trở nên hài hòa với vũ trụ và lần đầu tiên trong đời, ông hiểu được thế nào là cầu nguyện.
Sự cầu nguyện thường cần phải có một khung cảnh thích hợp. Có một không gian đặc biệt dành cho cầu nguyện, có một quãng thời gian đặc biệt dành cho cầu nguyện, có một bầu khí đặc biệt dành cho cầu nguyện. Ðó là điều thiết yếu dành cho cuộc sống con người... Ðó là lý do hiện hữu của một bàn thờ nhỏ trong nhà, đó là mục đích của các ngôi thánh đường.
Tuy nhiên, sự cầu nguyện sẽ đánh mất của nó, nếu con người đóng khung nó trong một khung cảnh và bầu khí đặc biệt. Cầu nguyện là một gặp gỡ với Chúa và đồng thời cũng là một giao kết với tha nhân. Thiên Chúa, chúng ta không thể đóng khung trong bốn bức tường vắng lặng của nhà thờ. Con người, chúng ta phải gặp gỡ ngay trên chợ đời.
Thành ra, lời cầu nguyện đích thực phải là lời cầu nguyện mà con người có thể dâng lên Thiên Chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong bất cứ lúc nào, bằng tất cả cuộc sống. Lời cầu nguyện đích thực là lời cầu nguyện được thốt lên trong thời thuận tiện cũng như không thuận tiện. Lời cầu nguyện đích thực là cả một cuộc sống tuân phục ý Chúa, một cuộc sống hài hòa với tha nhân, một cuộc sống "xin vâng" trong từng phút giây.
(Lẽ Sống)