Trang

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2014

Thư Gửi Thượng Hội Đồng: Đừng quá mềm về hôn nhân

Thư Gửi Thượng Hội Đồng: Đừng quá mềm về hôn nhân

Càng gần tới ngày khai mạc Thượng Hội Đồng, khóa đặc biệt, về hôn nhân và gia đình, càng có những phát biểu hết sức tha thiết muốn tôn kính truyền thống lâu đời của Giáo Hội trong lãnh vực này. Theo hai Đức HY Pell và Scola, năng lực của cộng đồng Giáo Hội không nên phí phạm vào những vấn đề chỉ liên quan đến một số nhỏ các tín hữu ở những nước dư cơm áo gạo tiền nhưng rất tự ý xa rời Giáo Hội,mà nên chú trọng tới việc đề cao giá trị chân thực của hôn nhân Kitô Giáo mà nét cao cả nhất chính là tính bất khả tiêu. Đức HY Scola nhấn mạnh tới việc đề cao các nhân chứng, các chứng từ trung thành với giáo huấn truyền thống mà theo kinh nghiệm mục vụ của ngài có rất nhiều nơi Dân Thiên Chúa, không nên sa vào cơn cám dỗ chỉ biết nhìn những gì tiêu cực. 

Bốn mươi tám nhà trí thức và mục tử của nhiều Giáo Hội Kitô Giáo, chứ không riêng gì Công Giáo, đã đáp lại lời kêu gọi của hai vị Hồng Y trên, cùng ký vào một lá thư gửi Thượng Hội Đồng sắp khai diễn. Trong số các nhà trí thức và mục tử này có Rick Warren, vị mục sư nổi tiếng từng được Tổng Thống Mỹ mời đọc lời cầu nguyện nhân dịp ông khai mở “triều đại Obama”. 

Lá thư ngỏ của họ, gửi tới Thượng Hội Đồng qua ngả ngoại giao vào cuối tháng Chín này và được đăng tải trên Liên Mạng, không chuyên biệt bàn tới những vấn đề nóng hổi mà nhiều người cho rằng THĐ sẽ dành nhiều thì giờ và năng lực để bàn thảo, như hôn nhân đồng tính hoặc việc cho phép người ly dị và tái hôn được rước lễ. Tuy nhiên, thông điệp mặc nhiên của nó thì khá rõ ràng: nay là lúc không nên quá mềm. 

Giáo huấn truyền thống của Kitô Giáo về hôn nhân, theo những người ký thự, “đại biểu cho tình yêu chân thực, chứ không phải ‘loại trừ’ hay ‘thiên kiến’ hay bất cứ cáo buộc nào khác mà [xã hội] ngày nay đem ra chống lại hôn nhân”. Lá thư tựa là “Cam Kết Đối Với Hôn Nhân”, có chữ ký của những người, ngoài mục sư Rick Warren ra còn có những nhà trí thức bảo thủ như Robert George và Robert Royal; Giáo Sư Luật tại Harvard Mary Ann Glendon, cựu đại sứ Mỹ bên cạnh Tòa Thánh và hiện là thành viên của hội đồng cố vấn cho Ngân Hàng Vatican; Marcello Pera, cựu chủ tịch Thượng Viện Ý rất gần gũi với Đức Bênêđíctô XVI, và Rafael Navarro-Valls, một nhà luật học Tây Ban Nha và là em trai của cựu phát ngôn viên Tòa Thánh Joaquin Navarro-Valls.

Lá thư dài 3 trang này được soạn thảo bởi hai nhà khoa bảng Hoa Kỳ, mà một trong hai là Thomas Farr, nguyên giám đốc đầu tiên của Văn Phòng Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, thời TT Bush. Người kia là Hillary Towers, một nhà tâm lý học phát triển tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn và là mẹ của 5 đứa con. 

Nguyên văn lá thư 

Trọng kính Đức Thánh Cha, qúy Đức Hồng Y, Quí Đức Cha,

Chúng con hân hoan vì Đức Thánh Cha đã thu hút được sự chú ý của thế giới và rất nhiều thiện chí đối với đức tin Kitô Giáo! Giống những người khác, chúng con hết sức xúc động bởi các lời phát biểu của Đức Thánh Cha về tình yêu và lòng thương xót, làm vang dội lại tình yêu và lòng thương xót của Chúa Kitô, đặc biệt đối với những người không ai bênh vực và bị bỏ rơi. 

Chính trong ngữ cảnh ấy chúng con hân hoan chào đón quyết định triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục Đặc Biệt để khảo sát các thách đố đối với hôn nhân và gia đình. Giống mỗi vị trong qúy vị, chúng con tin rằng gia đình, cùng với Giáo Hội, chính là biểu hiện vĩ đại nhất có tính định chế cho tình yêu của Chúa Kitô. Đối với những người muốn yêu thương như Người muốn chúng ta yêu thương, hôn nhân và gia đình là những điều không thể thiếu được, cả như những cỗ xe chuyên chở cứu rỗi lẫn như những thành trì của xã hội loài người.

Các Đức Giáo Hoàng gần đây đã hết sức làm cho những điểm trên được rõ ràng. Thí dụ, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI từng viết rằng “Hôn nhân thực sự là một phương thế cứu rỗi, không riêng cho các người kết hôn mà còn cho cả xã hội nữa”. Và, trong Niềm Vui Tin Mừng, Đức Thánh Cha từng viết rằng “sự đóng góp cần thiết của hôn nhân cho xã hội vượt trên các cảm xúc và nhu cầu thoáng qua của vợ chồng”

Thượng Hội Đồng này là một cơ hội để nói lên các sự thật vượt thời gian về hôn nhân. Tại sao những sự thật này lại quan trọng? Chúng đại diện ra sao cho tình yêu chân thực, chứ không phải ‘loại bỏ’ hay ‘thiên kiến’ hay bất cứ cáo buộc nào khác mà [xã hội] ngày nay đem ra chống lại hôn nhân? Các người đàn ông và đàn bà rất cần được nghe sự thật trước hết về việc tại sao họ nên kết hôn. Và, một khi đã kết hôn, thì tại sao Chúa Kitô và Giáo Hội lại muốn họ tiếp tục trung thành với nhau suốt cuộc sống trên dương thế của họ. [Họ cũng muốn được nghe] rằng, khi cuộc hôn nhân trở nên khó khăn (như đối với phần lớn các cặp vợ chồng), thì Giáo Hội sẽ là một nguồn trợ lực, không chỉ cho các cặp vợ chồng cá thể, mà còn cho chính hôn nhân nữa. 

Trọng kính Đức Thánh Cha, Đức Thánh Cha đã từng viết một cách hết sức mạnh mẽ về sự quan trọng của việc tân phúc âm hóa bên trong Giáo Hội: “một cộng đồng rao giảng Tin Mừng tham dự bằng lời và bằng việc làm vào đời sống hàng ngày của người ta; cộng đồng này bắc cầu nối liền xa cách, sẵn sàng hạ thấp mình xuống nếu cần và ôm ẵm sự sống con người, đụng chạm tới thân xác đau thương của Chúa Kitô nơi người khác”.

Chúng con khiêm hạ xin đề nghị rằng trong ngữ cảnh cuộc sống hôn nhân và gia đình, lời lẽ của qúy vị là lời mời gọi lãnh trách nhiệm bản thân, không phải chỉ đối với người phối ngẫu và con cái chúng con, mà còn đối với cuộc hôn nhân của những người mà Thiên Chúa đặt để bên cạnh chúng con nữa: các thân nhận và bằng hữu của chúng con, những người trong các Giáo Hội và trong các học đường của chúng con.

Giá đánh cược quả rất cao. Theo một phúc trình quốc tế năm 2013 về các khuynh hướng con cái, “sự gia tăng đáng kể về sống chung, ly dị, và có thai ngoài hôn nhân tại Mỹ, Âu Châu và Đại Dương Châu, trong bốn thập niên qua, cho thấy định chế hôn nhân đang bị coi là không thích đáng tại các vùng này của thế giới”. Tại Hiệp Chúng Quốc, tỷ lệ kết hôn được ghi là thấp nhất xưa nay, việc sống chung không cheo cưới đang nhanh chóng trở thành một phương thức chấp nhận được để thay thế cho hôn nhân, và hơn phân nửa các vụ sinh nở của các phụ nữ dưới 30 tuổi diễn ra bên ngoài hôn nhân. Trong số man vàn liên kết tiêu cực, mỗi khuynh hướng này đều được liên kết với tính di động thấp về kinh tế, với nghèo đói, và phúc lợi, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em. 

Trong số các cuộc hôn nhân hiện nay, nhiều cuộc hết sức mỏng dòn và căng thẳng. Từ 40 tới 50 phần trăm các cuộc hôn nhân lần đầu tại Hiệp Chúng Quốc được dự phóng sẽ kết liễu trong ly dị. Tỷ lệ này gia tăng khá rõ nét với mỗi cuộc tái hôn sau đó và các nghiên cứu cho thấy lý do không hẳn là vì tồi trong phẩm chất hôn nhân cho bằng vì yếu trong cam kết. 

Các hậu quả của ly dị và sống chung đối với con cái và người trưởng thành thì rất nhiều và đa dạng, từ nghèo đói và thành đạt thấp về giáo dục tới sức khỏe thể lý yếu kém; từ cam kết hôn nhân thấp lúc trưởng thành tới nạn chết yểu. Và dù mọi quốc gia đều có tính độc đáo, song các cuộc nghiên cứu cho thấy tác động của các khuynh hướng này hiện trải khắp mặt địa cầu. Các cuộc nghiên cứu này lấy mẫu tại một số quốc gia: Trung Quốc, Phần Lan, Thụy Điển, Uruguay, Mễ Tây Cơ, Hy Lạp, Châu Phi và các nước vùng Đông Á Thái Bình Dương. 

Các thiệt hại do nạn khiêu dâm gây ra cho các xã hội quả là điều đáng kể. Các nghiên cứu về tác động của nạn khiêu dâm đối với các mối liên hệ cho thấy nó là yếu tố đóng góp chính vào việc phá hủy hôn nhân. Bất hạnh thay, việc nghiên cứu lâu dài về hậu quả của khiêu dâm đối với hôn nhân gần như không có. 

Các đạo luật gọi là “ly dị không cần có lỗi” ở Hiệp Chúng Quốc và nhiều quốc gia khác đã cấp giấy phép cho một hệ thống trong đó các chánh án và luật sư biến việc tiêu hủy hôn nhân trở thành dễ dàng, đôi khi chống lại cả ý của các cặp vợ chồng muốn kiên vững trong cam kết hôn nhân của họ. 

Bất chấp tính ảm đạm của những khuynh hướng này, chúng con vẫn được khích lệ và trở thành cương quyết nhờ lời khuyên của Đức Thánh Cha “Các thách đố có đó để được khắc phục! Chúng ta hãy là những người thực tiễn, nhưng không được đánh mất niềm vui, sự mạnh dạn và cam kết đầy hy vọng của ta”. 

Có lẽ cách mới mẻ và mạnh dạn hơn cả để chúng ta phúc âm hóa các cặp vợ chồng (và qua họ, các cuộc hôn nhân trong tương lai của con cái họ) là xây dựng các cộng đồng nhỏ gồm các cặp vợ chồng để họ nâng đỡ nhau một cách vô điều kiện trong ơn gọi sống cuộc sống hôn nhân của họ. Những cộng đồng này sẽ cung cấp các mạng lưới trợ giúp đặt cơ sở trên các dây nối kết đức tin và gia đình, trên cam kết đối với hôn nhân mãn đời, và trên trách nhiệm đối với nhau và cho nhau.

Sau đây, chúng con xin đề nghị một số phương cách thực tế nhằm tạo ra và nâng đỡ các cộng đồng này: 

* Ủy nhiệm cho Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình tiến hành một cuộc nghiên cứu đa khoa, theo chiều dọc về vai trò của khiêu dâm và ly dị “không cần có lỗi” trong cuộc khủng hoảng hôn nhân.

* Giáo dục các chủng sinh. Cung cấp cho họ những khóa học bắt buộc bao gồm các chứng cớ của khoa học xã hội về các phúc lợi của hôn nhân, các đe dọa đối với hôn nhân, và các hậu quả của ly dị và sống chung đối với con cái và xã hội.

* Huấn luyện các linh mục để các ngài dùng các bài giảng lễ biểu tỏ giá trị thiêng liêng và xã hội của hôn nhân, các thách đố hiện nay đối với nó, và sự giúp đỡ của giáo xứ đối với các cuộc hôn nhân đang gặp trở ngại. Một cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy: 72% phụ nữ Công Giáo Hoa Kỳ cho biết bài giảng lễ hàng tuần là nguồn đệ nhất đẳng để họ học biết về đức tin. 

* Tạo ra các mạng lưới nhỏ nhưng sinh động các cặp vợ chồng vững mạnh để họ trở thành các cố vấn dầy kinh nghiệm ở bình diện giáo xứ, sẵn sàng cung cấp cho các cặp vợ chồng các phương thế để họ duy trì các cuộc hôn nhân lành mạnh, mãn đời của họ. 

* Giáo dục giáo dân trong giáo xứ về ảnh hưởng phi thường họ có thể có đối với các cuộc hôn nhân của bằng hữu và của gia đình. Các dữ kiện của khoa học xã hội cho thấy sự hiện diện của một gia đình hay của bằng hữu ly dị gia tăng nguy cơ ly dị của người khác. Ngược lại, các dữ kiện này cũng cho hay: các thành viên gia đình và bằng hữu có thể gia tăng cam kết hôn nhân của những người họ yêu thương qua gương sáng và sự hỗ trợ của họ. 

* Khuyến khích và hỗ trợ việc hòa giải của các cặp vợ chồng ly thân hay đã ly dị ở tòa dân sự. 

* Thỉnh cầu các giám mục khắp thế giới khởi diễn các lời nguyện thường xuyên trong Thánh Lễ Chúa Nhật cầu cho các cuộc hôn nhân vững mạnh và trung thành. 

* Các cố gắng hỗ trợ để bảo tồn những gì là chính trực và công bằng trong các luật lệ hiện nay về hôn nhân, cưỡng lại bất cứ thay đổi nào đối với các luật lệ này nhằm làm suy yếu thêm định chế này, và phục hồi các điều khoản luật nhằm bảo vệ hôn nhân như là một kết hợp phu thê giữa một người đàn ông và một người đàn bà, bước vào với một cởi mở đối với hồng phúc con cái, và được sống cách trung thành và vĩnh viễn như là nền tảng của hôn nhân tự nhiên. 

* Ủng hộ tự do tôn giáo tại các tòa lý dị. Nhiều người không biết rằng tự do tôn giáo thường xuyên bị vi phạm bởi các chánh án ly dị; họ không lưu ý hay coi thường các quan điểm của người phối ngẫu muốn tìm cách cứu vãn cuộc hôn nhân, giữ các con lại ở trường tôn giáo, hay ngăn cản người phối ngẫu bỏ rơi họ khỏi đặt con cái vào thế nguy hiểm bị người tình mới của họ lạm dụng. Nên bắt đầu tổ chức các tổ hợp luật sư và nhà làm luật để tranh đấu trong vấn đề này. 

Thực hiện một trong các mục tiêu trên theo qui mô quốc tế là một bước tiến lớn đối với hôn nhân và gia đình. Thực hiện được tất cả các mục tiêu này có thể đảo ngược được cuộc khủng hoảng hôn nhân có tính hoàn cầu hiện nay. 

Với tài lãnh đạo của qúy vị, chúng ta sẽ trợ giúp để các cuộc hôn nhân thành công và nở rộ bằng cách đặt lên cam kết hôn nhân một giá trị lớn nhất: ở mọi bình diện của xã hội, ở mọi ngõ ngách của thế giới. Chúng con cảm ơn Đức Thánh Cha, qúy Đức Hồng Y và qúy Đức Cha đã đảm nhiệm trách vụ sinh tử này, xin qúy vị tin chắc ở lời cầu nguyện của chúng con cho sự thành công lớn lao của nó.

Vũ Văn An9/29/2014(vietcatholic)



Vấn đề ly dị và tái hôn trong Đạo Công Giáo (14)

Vấn đề ly dị và tái hôn trong Đạo Công Giáo (14)
Phần II: Cuộc tranh luận hiện nay về ly dị tái hôn: đề xuất của Đức HY Kasper


Ai cũng biết trong mật nghị hội Hồng Y mới đây, để chuẩn bị cho THĐ bất thường vào tháng Mười này bàn về mục vụ gia đình, Đức HY Kasper đã được Đức Phanxicô đích thân mời trình bày một đề xuất. Nhiều người lo sợ rằng quan điểm của Đức HY sẽ được Đức Giáo Hoàng Phanxicô chấp nhận, do đó, dự định tổ chức một cuộc chống đối công khai. Nhưng không thiếu người bình chân như vại, coi chuyện đó không thể xẩy ra được. Những người này cho rằng dù được Đức Giáo Hoàng khuyến khích thảo luận, đề xuất của Đức HY Kasper bị nhiều chống đối ngay trong mật nghị hội. Vả lại cảm thức đức tin luôn hỗ trợ tính bất khả tiêu của hôn nhân, nên họ cho rằng đề xuất này đơn thuần chỉ phản ảnh “cảm thức bất tín” mà thôi. Nhưng như thế, chả lẽ cố gắng của Đức GH Phanxicô và của Đức HY Kasper là công cốc cả sao?

Thực hư vấn đề thế nào, thiển nghĩ cũng nên vào sâu chút nữa. 

Âu Châu, Bắc Mỹ và các nơi khác

Sandro Magister của tờ L’Espresso trước nhất lưu ý tới sự chia rẽ rõ rệt khi đụng tới các vấn đề nóng bỏng về luân lý giữa “ý kiến đa số ở một số khu vực thuộc Âu Châu và Bắc Mỹ, nơi ngự trị của chính sách dửng dưng đối với phá thai, tiêu hủy hôn nhân, và ý thức hệ phái tính, và sự mẫn cảm ngược lại của những khu vực mênh mông khác trên thế giới, nhất là thuộc Phi và Á Châu, là những khu vực dù sao cũng có những vấn đề nghiêm trọng của riêng họ, từ hôn nhân sắp xếp tới đa hôn”. Khi THĐ Giám Mục họp vào tháng Mười sắp tới, Giáo Hội chắc chắn sẽ được nghe các giám mục Phi Châu lên tiếng cho hay các cộng đoàn của các vị không thể nào chịu được bất cứ hàm hồ nào về tính độc hữu của hôn nhân. Các vị giám mục Á Châu sẽ nhấn mạnh tới tính vĩnh viễn của nó. Người ta mong rằng một số vị giám mục Âu Châu và Bắc Mỹ sẽ có can đảm dám nói tới các tai hại của việc người Công Giáo coi thường giáo huấn của Giáo Hội. 

Tác giả này hỏi rằng: ta có nên phớt lờ các vị giám mục trên đây để chiều theo nhu cầu của những người Công Giáo luôn chỉ biết đến mình ở Tây Phương hay không? Làm thế, theo ông, là vi phạm mục tiêu chủ yếu của triều giáo hoàng này. Vì Đức Phanxicô luôn khuyên ta không nên chỉ khép mình trong các vành đai địa dư và văn hóa của riêng mình, mà phải mở cửa hướng tới những “vùng ngoại biên” của thế giới. 

Người ta có quyền hy vọng như Magister. Trong khi ấy, có những người như Michael Brendan Dougherty đi xa hơn bảo rằng không nghe các vị giám mục trên là tự mâu thuẫn với chính mình: giảng một đàng làm một nẻo. Giảng rằng phải sạch tội trọng mới được rước lễ, nhưng lại cho những người đang mang tội trọng được rước lễ vì rõ ràng ly dị và tái hôn mà chưa được tuyên bố vô hiệu là mang tội trọng. 

Thực ra Đức HY Kaspers đã nói những gì?

Theo nguồn tin chính thức, bài nói chuyện của Đức HY Kasper tại mật nghị hội Hồng Y hồi đầu năm nay sẽ không được công bố cho công chúng. Không hẳn vì sợ gây hoang mang, cho bằng bài nói chuyện này có đối tượng chuyên biệt, tức các vị có nhiệm vụ đưa ra các đề cương cho hai thượng hội đồng giám mục thế giới sắp tới về gia đình. Chính vì thế, mặc dù có lời yêu cầu công khai của Đức HY Reinhard Marx của Munich, bài diễn văn này vẫn chưa được chính thức công bố cho dân chúng. 

Về việc này, ta thấy có nhiều điều đáng ghi nhận: Đức HY Marx là một trong các thành viên của Hội Đồng Hồng Y cố vấn cho Đức GH về việc cải tổ Tòa Thánh. Ngài cho rằng giữ mật bài diễn văn này là điều vô dụng vì gần 200 bản của nó đã được phân phối, do đó, chắc chắn bài diễn văn này sẽ được phổ biến rộng rãi. 

Có lẽ vì thế, một tờ báo Ý đã cho đăng nguyên văn bài diễn văn của này bằng tiếng Ý. Và chính Đức HY Kasper cũng cho đăng tải nội dung bài diễn văn này trong cuốn “Gospel of the Family” xuất bản hồi tháng Ba vừa qua. 

Trong cuốn sách nhỏ trên đây, phần 5 nói đến “Vấn Đề Về Người Ly Dị Và Tái Hôn”. Đức HY Kasper khởi đầu bằng cách cho rằng: vấn đề này là “một vấn đề phức tạp và gai góc”. Nên không thể chỉ rút gọn nó vào việc cho những người này rước lễ mà thôi, vì đây là “việc chăm sóc mục vụ đối với đời sống hôn nhân và gia đình trong tính toàn bộ của chúng”. Việc chăm sóc này vốn bắt đầu với tuổi trẻ và việc chuẩn bị hôn nhân, sau đó là cùng đồng hành với những người đã kết hôn và các gia đình. Việc chăm sóc này trở nên nhất thiết và tức khắc khi hôn nhân hay gia đình gặp khủng hoảng: phải làm những gì có thể về mục vụ để hàn gắn và hòa giải hôn nhân hay gia đình. 

Nhưng có những tình huống trong đó, mọi cố gắng hợp lý để cứu vãn hôn nhân đã tỏ ra vô hiệu. Người ta thán phục và hỗ trợ sự anh hùng của những người phối ngẫu bị bỏ rơi, vẫn tiếp tục ở một mình và một mình tiếp tục chiến đấu. Tuy nhiên, nhiều người phối ngẫu bị bỏ rơi khác, vì lợi ích của con cái, đã phải lệ thuộc một cuộc chung sống mới và một cuộc hôn nhân dân sự, “một cuộc hôn nhân mà họ không thể bỏ một lần nữa mà không bị mặc cảm tội lỗi. Trong các nối kết mới này, họ thường cảm nhận được hạnh phúc nhân bản - gần như một hồng phúc từ trời – sau các cảm nhận đắng cay trước đây”. 

Và Đức HY Kasper đặt câu hỏi: “Trong những tình huống như thế, Giáo Hội có thể làm gì?”. Rồi ngài vội minh định: “Giáo Hội không thể đề xuất một giải pháp bên ngoài hay ngược với lời dạy của Chúa Giêsu. Tính bất khả tiêu của một cuộc hôn nhân bí tích và việc không thể kết ước một cuộc hôn nhân bí tích thứ hai lúc sinh thời của người phối ngẫu kia là thành phần bó buộc trong truyền thống đức tin của Giáo Hội, một truyền thống mà ta không thể bãi bỏ hay gia giảm được bằng cách nại tới một cảm thức nhân từ (mercy) theo nghĩa phiến diện và rẻ tiền”.

Ngài tiếp liền sau đó rằng “Lòng trung thành của Thiên Chúa, xét cho cùng, là lòng trung thành của Người với chính Người và với tình yêu của Người. Vì Thiên Chúa trung thành, nên Người cũng nhân từ, và trong lòng nhân từ của Người, Người trung thành, ngay cả lúc chúng ta bất trung (2Tm 2:13). Nhân từ và trung thành luôn đi đôi với nhau. Cho nên, không thể có tình huống nào của con người mà lại tuyệt đối vô vọng và tuyệt vọng cả. Bất kể con người nhân bản xuống thấp đến đâu, họ cũng không xuống sâu đến nỗi lòng nhân từ của Thiên Chúa không với tới được”. 

Thành thử “câu hỏi là Giáo Hội, trong thực hành mục vụ của mình đối với người ly dị và tái hôn dân sự, có thể tuân thủ ra sao sự cố kết bất khả phân giữa lòng trung thành và lòng nhân từ này?” Đây là một câu hỏi tương đối mới có đây, xuất hiện lần đầu kể từ ngày Napoléon đưa ra đạo luật hôn nhân dân sự năm 1804 và sau đó, được nhiều quốc gia khác mô phỏng. 

Đối với câu hỏi trên, Đức HY Kasper cho hay: Giáo Hội đã có những ứng phó tiệm tiến theo chiều tích cực. Thực vậy, Bộ Giáo Luật năm 1917, điều 2356, vẫn coi những người ly dị và tái hôn dân sự là song hôn, một việc tiền kết (ipso facto) bị coi là bất xứng và tùy theo mức độ, còn có thể bị tuyệt thông. Nhưng Bộ Giáo Luật 1983, điều 1093, không còn những hình phạt như thế nữa, các giới hạn cũng đã được nới lỏng. Trong khi ấy, tông huấn Familiaris consortio (số 84) và tông huấn Sacramentum caritatis (số 29), nói tới các Kitô hữu này một cách gần như âu yếm, nhắc nhở họ rằng họ vẫn thuộc về Giáo Hội và được mời gọi tham dự vào sinh hoạt của Giáo Hội. 

Cùng một chiều tích cực ấy đã đồng thời được Giáo Hội áp dụng trong các phạm vi khác. Thí dụ phạm vi đại kết và tự do tôn giáo chẳng hạn: Giáo Hội vốn có những thông điệp và quyết định gây khó khăn cho chúng. Nhưng Vatican II đã mở nhiều cánh cửa cho 2 vấn đề này tuy không đi ngược lại truyền thống tín lý có tính bó buộc của Giáo Hội. Bởi thế, ta có quyền đặt câu hỏi: có thể áp dụng cùng một chiều hướng phát triển này vào trường hợp ly dị rồi tái hôn dân sự đang bàn ở đây hay không?

Hai tình huống cần xem sét

Đức HY Kasper ngầm cho thấy rằng có, có thể áp dụng được, nhưng phải áp dụng một cách “có sắc thái” (nuanced) vì các tình huống ở đây rất khác nhau và cần được dị biệt hóa một cách thận trọng (FC số 84). Nghĩa là không thể có một giải pháp chung cho mọi trường hợp. Chỉ có hai trường hợp có thể áp dụng mà thôi, và ở cả hai, “tôi chỉ muốn đặt câu hỏi và ấn định ra phương hướng cho các giải đáp có thể có mà thôi. Thượng Hội Đồng sẽ phải đưa ra giải đáp dứt khoát”.

Chủ quan tin rằng cuộc hôn nhân trước vô hiệu

Điều đó đương nhiên. Trường hợp thứ nhất, theo Familiaris consortio, một số người ly dị và tái hôn xác tín một cách chủ quan trong lương tâm của họ rằng cuộc hôn nhân đổ vỡ vô phương cứu chữa trước của họ chưa bao giờ thành sự cả (FC 84). Trên thực tế, “nhiều vị mục tử xác tín rằng nhiều cuộc hôn nhân tuy được kết ước theo hình thức của Giáo Hội, nhưng vẫn không được kết ước một cách thành sự. Vì là một bí tích của đức tin, nên hôn nhân tiền giả định phải có đức tin và việc ưng thuận các đặc tính chủ yếu của nó, tức tính đơn hôn và tính bất khả tiêu”.

Câu hỏi của Đức HY Kasper là: “Nhưng, trong tình huống này, liệu ta có thể giả thiết một cách không vẽ vời rằng các cặp đính hôn có cùng một niềm tin vào mầu nhiệm được bí tích chỉ về và họ thực sự hiểu được và khẳng định được các điều kiện giáo luật để cuộc hôn nhân của họ thành sự hay không? Há sự suy đoán thành hiệu (praesumptio juris) mà từ đó giáo luật tiến hành thường không phải là một hư cấu luật pháp (fictio juris) đó sao?”

Trả lời cho 2 câu hỏi trên, Đức HYKasper cho rằng “Vì hôn nhân, trong tư cách một bí tích, vốn có đặc tính công cộng, nên việc quyết định về tính thành sự của một cuộc hôn nhân không thể nào để mặc cho phán đoán chủ quan của các bên liên hệ. Tuy nhiên, người ta có thể hỏi liệu con đường luật pháp, một con đường trên thực tế vốn không phải là thiên luật (jure divino), nhưng đã được phát triển trong dòng lịch sử, có phải là con đường duy nhất để giải quyết vấn đề, hay liệu có thể quan niệm được các thủ tục khác, có tính mục vụ và thiêng liêng hơn hay không? Một cách khác, ta có được phép tưởng tượng điều này: giám mục có thể ủy thác nhiệm vụ này cho một linh mục có nhiều kinh nghiệm về thiêng liêng và mục vụ làm đại diện xá giải hay đại diện giám mục”.

Đến đây, Đức HY nhắc tới bài diễn văn của Đức Phanxicô đọc trước Tòa Thượng Thẩm Rôma ngày 24 tháng Giêng, 2014 trong đó có đoạn nói tới việc hai chiều kích luật pháp và mục vụ không đối nghịch nhau, “ngược lại, hệ thống giáo luật vốn có đặc điểm chủ yếu là mục vụ”. 

Nhưng mục vụ có nghĩa gì? “Chắc chắn không đơn thuần là dung thứ (indulgence), vốn hiểu sai cả chăm sóc mục vụ lẫn lòng nhân từ. Nhân từ không loại bỏ công lý; nhân từ không phải là ơn thánh giá rẻ hay một loại hàng bán tống bán táng (clearance sale). Chăm sóc mục vụ và nhân từ không mâu thuẫn với công lý, nhưng có thể nói, là sự công chính cao hơn vì phía sau mọi cuộc kháng án luật lệ cá thể nào không những chỉ là một vụ án có thể xem sét bằng lăng kính qui luật tổng quát, mà còn là một con người nhân bản, một con người không những chỉ là một vụ án mà đúng hơn là một hữu thể có một phẩm giá bản vị độc đáo. Điều này khiến ta cần tới một nền giải thích vừa có tính luật pháp vừa có tính mục vụ và là một nền giải thích áp dụng luật lệ tổng quát một cách thận trọng và khôn ngoan, theo đức công bằng và thẳng thắn (fairness), vào một tình huống cụ thể, đôi khi phức tạp. Hay như Đức GH Phanxicô từng nói: một nền giải thích được linh hứng bởi tình yêu của Đấng Chăn Chiên Lành và là lối giải thích thấy phía sau mọi diễn trình là những con người đang chờ mong công lý”. 

Với phương thức trên, Đức HY cho ta hiểu nếu chỉ dựa vào hồ sơ nghĩa là dựa vào giấy tờ, và sau hai hay ba phiên tòa, người ta khó có thể đưa ra được quyết định đúng đắn phản ảnh vui buồn hay thăng trầm của một con người mà không biết gì tới con người và tình huống của họ. 

Không nên nới rộng thủ tục tuyên bố vô hiệu

Tìm giải pháp bằng cách nới rộng diễn trình tuyên bố vô hiệu là điều lầm lẫn. Vì điều này sẽ gây ấn tượng tai hại là Giáo Hội cư xử một cách bất trung thực bằng cách chấp nhận ly dị trên thực tế. Theo Đức HY, ta cũng cần nhớ rằng ở đây ta đang nói tới cuộc hôn nhân đã thành sự và hoàn hợp giữa những người đã chịu phép rửa nhưng rồi cuộc hôn nhân của họ đổ vỡ một cách vô phương cứu chữa và một người trong số họ kết ước cuộc hôn nhân thứ hai ở tòa đời.

Ngài cho rằng năm 1994, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin tuyên bố, và điều này được Đức Bênêđíctô XVI nhắc lại trong Đại Hội Gia Đình Thế Giới năm 2012 tại Milan, rằng người ly dị và tái hôn nhất định không thể rước lễ theo bí tích, nhưng có thể rước lễ thiêng liêng. Như thế, vấn đề nêu ra là: Chịu lễ thiêng liêng vẫn là được nên một với Chúa Kitô và do đó đâu có đi ngược lại lệnh truyền của Người, thì tại sao họ lại bị cấm không được rước lễ theo bí tích cũng là việc để nên một với Người? Nếu ta loại các Kitô hữu ly dị và tái hôn có ý hướng tốt ra khỏi các bí tích và bảo họ tìm đến phương cách cứu rỗi ngoài bí tích (extrasacramental), chẳng hóa ra ta nghi vấn cơ cấu bí tích nền tảng của Giáo Hội? Như thế thì cần Giáo Hội để làm gì? Như thế, há ta đã không trả một giá quá cao hay sao?”

Hỏi như thế rồi, Đức HY Kasper cho rằng một số người lý luận rằng chính sự kiện không tham dự vào việc rước lễ đã chứng minh tính thánh thiêng của bí tích. Nhưng “câu hỏi ngược lại là: há việc đó không phải là một bóc lột đối với con người nhân bản sao, nếu ta biến họ thành dấu chỉ cho một điều gì khác khi họ kêu xin giúp đỡ? Có phải ta đang để cho họ chết đói về phương diện bí tích để người khác được sống không?”

Rồi Ngài dẫn chứng: Giáo Hội sơ khai cho ta một gợi ý có thể chỉ đường cho ta ra khỏi thế lưỡng nan, một gợi ý mà Giáo Sư Joseph Ratzinger đã nhắc đến năm 1972. Đó là chính sách chào đón người bỏ đạo (lapsi) trở về: bằng thủ tục thống hối hợp giáo luật, giống phép rửa thứ hai, không bằng nước mà bằng nước mắt, một thứ phao cấp cứu cho người bị đắm tầu. 

Dẫn chứng thứ hai: phản ứng của các giáo phụ đối với những người ly dị và tái hôn. Phản ứng này không thống nhất. Nhưng ở một số Giáo Hội địa phương có luật phong tục (customary law) theo đó, các Kitô hữu đang sống trong mối liên hệ thứ hai lúc người phối ngẫu trước vẫn còn sống, sau một thời kỳ thống hối, được quyền, nhất định không phải là kết hôn lần thứ hai, mà là rước lễ. Origen coi việc này “không vô lý”. Thánh Basilêô Cả và Thánh Grêgôriô thành Nazianzus cũng đề cập tới thực hành này. Ngay Thánh Augustinô, người vốn ngặt nghèo về vấn đề này, xem ra không loại bỏ giải pháp này. 

Theo Đức HY Kasper, “vì quan tâm mục vụ, ‘để tránh điều tệ hại hơn’, các giáo phụ trên sẵn sàng dung thứ một điều tự nó không thể nào chấp nhận được. Do đó, về phương diện mục vụ, quả có việc thực hành dung thứ, nhân từ và kiên nhẫn và có đủ lý do vững chãi để cho rằng thực hành này đã được Công Đồng Nixêa (325) xác nhận, chống lại chủ nghĩa khắt khe của phái Nôvatiônô (cấm tha tội trọng). 

Vì các nhà chuyên môn còn đang tranh luận về các chi tiết có tính lịch sử trong các vấn đề trên, nên Giáo Hội chưa chấp nhận chủ trương nào. Nhưng điều rõ ràng là Giáo Hội luôn tìm cách vượt lên trên cả chủ nghĩa khắt khe lẫn chủ nghĩa lỏng lẻo và sẵn sàng sử dụng tới thẩm quyền tha và buộc đã được chính Chúa ủy thác (Mt 16:19; 18:18; Ga 20:23). Trong Kinh Tin Kính, ta tuyên xưng: tôi tin phép tha tội. Nghĩa là với những ai thống hối, tha thứ là điều khả hữu. Nếu tha thứ là điều khả hữu đối với kẻ giết người, thì nó cũng khả hữu đối với kẻ ngoại tình. Thống hối và phép giải tội là cách nối kết cả hai khía cạnh lại với nhau: nghĩa vụ đối với lời Chúa và nghĩa vụ đối với lượng nhân từ vô tận của Người. Hiểu như thế, lòng nhân từ của Thiên Chúa không phải là một ơn thánh rẻ tiền, được thông ban mà không cần hồi tâm. Đàng khác, các bí tích không phải là phần thưởng dành cho tác phong tốt hay cho một thành phần ưu tú mà loại bỏ những kẻ cần đến chúng hơn hết (EG 47). 

Thành thử, câu hỏi đang thách thức ta là: phải chăng con đường vượt trên chủ nghĩa khắt khe và chủ nghĩa lỏng lẻo, con đường hồi tâm vốn phát xuất từ bí tích nhân từ này, tức bí tích giải tội, cũng là con đường ta có thể theo trong vấn đề này? 

Hỏi như thế rồi, Đức HY Kasper nêu ra các điều kiện cho một câu trả lời tích cực. Theo ngài, chắc chắn không phải cho mọi trường hợp. Nhưng 1) nếu người ly dị và tái hôn thực sự thống hối vì đã sai phạm trong cuộc hôn nhân đầu; 2) Nếu các cam kết của cuộc hôn nhân đầu đã được minh giải và việc trở lại cuộc hôn nhân ấy nhất quyết không được đặt ra; 3) nếu một trong hai người không thể cởi bỏ các cam kết giả thiết phải có trong cuộc hôn nhân dân sự thứ hai mà không cảm thấy mặc cảm tội lỗi mới; 4) nếu một trong hai người cố gắng hết sức mình trong việc sống cuộc hôn nhân dân sự thứ hai cho phù hợp với đức tin và dưỡng dục con cái trong đức tin; 5) nếu một trong hai người mong được lãnh nhận các bí tích làm nguồn sức mạnh cho tình huống của mình, thì liệu ta có phải từ khước hay có thể từ khước, không cho họ lãnh nhận bí tích giải tội và rước lễ, sau một thời gian tái định hướng không? 

Một dè chừng: giải pháp trên, nếu có, không thể là giải pháp chung, áp dụng cho quần chúng nói chung, nhưng là con đường hẹp chỉ dành cho một số người ly dị và tái hôn trung thực tha thiết lãnh nhận bí tích. 

Một cảnh cáo: không nhận giải pháp trên, một điều tệ hại hơn có thể xẩy ra: con cái người ly dị và tái hôn, khi thấy cha mẹ không lãnh nhận các bí tích, cũng sẽ không xưng tội và rước lễ nữa. Nếu thế, không những ta đánh mất thế hệ kế tiếp, mà còn nhiều thế hệ tiếp theo nữa. Phải chăng triết lý thực hành mà ta ra công duy trì xưa nay hóa ra lại phản hữu dụng đến thế sao?

Một đóng góp: Về phần Giáo Hội, con đường trên đòi discretio, sự phân biệt thiêng liêng, sự thận trọng mục vụ, và đức khôn ngoan. Đối với Thánh Bênêđíctô, thánh phụ đời sống đơn tu, discretio hay biện phân là mẹ của mọi nhân đức và là nhân đức nền tảng của vị viện phụ. Và dĩ nhiên của cả vị giám mục nữa. Sự biện phân này không hề là một thoả hiệp rẻ tiền giữa những cực đoan của chủ nghĩa khắt khe và chủ nghĩa lỏng lẻo, mà đúng hơn, cũng giống như mọi nhân đức khác, là con đường trung dung đầy trách nhiệm và là biện pháp đúng dắn. 

Đức HY mong rằng loại discretio, loại biện phân này, sẽ là đường đi của THĐ sắp tới, giúp ta tìm được một giải pháp vừa làm chứng một cách đáng tin rằng trong các hoàn cảnh khó khăn của con người, Lời Thiên Chúa vừa là sứ điệp tín trung vừa đồng thời là sứ điệp nhân từ, đem lại sự sống và hân hoan. 

Các phản ứng

Bản tin Catholic World News ngày 21 tháng Ba, 2014 tường thuật “phát súng” đầu tiên phản bác đề xuất của Đức HY Kasper là của Đức HY Raymond Burke. Xuất hiện trên chương trình “The World Over” (Khắp Thế Giới) của EWTN/TV, vị Hồng Y này nói với người hướng dẫn chương trình là Raymond Arroyo rằng đề xuất của Đức HY Kasper nói trên dường như đi ngược lại tín lý và giáo luật cố cựu của Giáo Hội Công Giáo. 

Ngài bảo: “theo lượng giá của tôi trong tư cách một nhà giáo luật học, tôi không nghĩ đề xuất này khả hữu’. Đức HY Burke hiện là chủ tịch Toà Án Tối Cao (apostolic signatura) của Giáo Hội. Ngài nói thêm: “tôi tin rằng trong những ngày tới… sự lầm lẫn của phương thức này sẽ trở nên rõ ràng hơn”. 

Vị Hồng Y người Hoa Kỳ này cho biết lý do tại sao ngài lên tiếng: thoạt đầu, bài diễn văn của Đức HY Kasper được bảo mật vì chỉ dành cho các vị Hồng Y thảo luận mà thôi. Nhưng sau đó, nó đã “bị” quảng bá sâu rộng, nên buộc lòng ngài phải lên tiếng. 

Phản kiến thứ hai: chiều kích đích thực của lòng từ bi. Một trong các lời ca ngợi của Đức Phanxicô đối với Đức HY Kasper là các cái nhìn thông sáng của ngài về lòng từ bi thương xót, điều được ngài nhấn mạnh nhiều trong phương thức mới đối với người ly dị tái hôn. Một lòng từ bi bị Đức HY Burke coi là lầm lẫn, rẻ tiền. Ta thử xem thêm quan điểm của Đức Hồng Y Gerhard Ludwig Müller, bộ trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, về lòng từ bi trong ngữ cảnh cuộc tranh luận hiện nay về người ly dị tái hôn.

Tháng Sáu vừa qua, Carlos Granados, giám đốc Tủ Sách Các Tác Giả Kitô Giáo ở Madrid, có phỏng vấn Đức HY Muller. Trong cuộc phỏng vấn này, Đức HY trả lời nhiều câu hỏi liên quan tới đề tài đang bàn ở đây. 

Trước nhất, được hỏi có thể có thay đổi trong huấn quyền về người ly dị tái hôn hay không, Đức Hồng Y cho hay: “ngay một công đồng cũng không thể thay đổi tín lý của Giáo Hội… Chúng ta đã có một tín lý được khai triển và có cấu trúc đàng hoàng về hôn nhân, dựa trên lời Chúa Giêsu mà ta phải trình bày một cách trọn vẹn. Tính bất khả tiêu tuyệt đối của một cuộc hôn nhân thành sự không phải chỉ là một học thuyết, mà đúng hơn là một tín điều thần thánh đã được Giáo Hội định tín. Trước việc đổ vỡ trên thực tế của một cuộc hôn nhân thành sự, cuộc hôn nhân dân sự mới không thể được chấp nhận. Nếu chấp nhận, ta sẽ đối diện với một mâu thuẫn, vì nếu cuộc kết hợp trước, cuộc hôn nhân “thứ nhất”, thực sự là một cuộc hôn nhân, thì cuộc kết hợp sau không phải là “hôn nhân”… 

Được hỏi hiện người ta đang nói tới khả thể cho phép các người phối ngẫu “bắt đầu sống trở lại một lần nữa”. Người ta cũng đang nói rằng tình yêu giữa các người phối ngẫu Kitô Giáo có thể “chết”. Điều ấy có đúng không? Đức HY Muller trả lời rằng: những lý thuyết này đều lầm cả. Người ta không thể viện cớ tình yêu giữa hai người phối ngẫu "đã chết" để tuyên bố một cuộc hôn nhân không còn nữa. Tính bất khả tiêu của hôn nhân không tùy thuộc tình cảm của con người, nó là một đặc tính do chính Thiên Chúa dự kiến… Cho nên, có thể ngưng hiệp thông thể lý qua việc sống chung và yêu thương, một điều ta vốn gọi là ly thân, nhưng không được phép tái hôn bao lâu người phối ngẫu của mình còn sống. 

Thế còn lòng cảm thương? Có thể lấy nó làm luật trừ cho luật luân lý chăng? Đức HY Muller trả lời nguyên văn như sau: “Nếu ta mở Tin Mừng, ở đoạn đối thoại với Biệt Phái về ly dị, ta sẽ thấy cả Chúa Giêsu cũng đã có ý đặt một song hành giữa “ly dị” và “cảm thương” (xem Mt 19:3-12). Người tố cáo Biệt Phái không có lòng cảm thương, vì theo lối giải thích Lề Luật tinh vi của họ, họ kết luận rằng chính Môsê đã cho phép rẫy vợ. Nhưng Chúa Giêsu nhắc ta nhớ rằng lòng cảm thương của Thiên Chúa đã chống lại các yếu đuối nhân bản của ta. Thiên Chúa ban cho ta ơn thánh của Người để ta có thể sống trung thành. 

“Đấy mới là chiều kích đích thực của lòng cảm thương của Thiên Chúa. Thiên Chúa tha thứ cả thứ tội nặng nề như ngoại tình; nhưng Người không cho phép một cuộc hôn nhân khác khiến người ta hoài nghi cuộc hôn nhân bí tích đang hiện hữu, là cuộc hôn nhân thực sự mới nói lên sự trung thành của Thiên Chúa. Nại tới điều được coi là lòng cảm thương tuyệt đối của Thiên Chúa như kể trên cũng giống như việc chơi chữ không giúp ta được gì trong việc làm sáng tỏ vấn đề. Trên thực tế, đối với tôi, dường như đấy là cách khiến người ta không chịu tìm hiểu sự sâu xa của lòng thương xót chân thực nơi Thiên Chúa. 

“Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy một số nhà thần học sử dụng cùng một lối suy luận như trên về lòng cảm thương để lấy cớ cho phép những người ly dị và nay kết hôn ở ngoài dân sự được lãnh nhận các bí tích. Tiền đề là vì Chúa Giêsu đứng về phía với người đau khổ, tỏ tình yêu đầy cảm thương đối với họ, nên lòng cảm thương là dấu chỉ đặc biệt lên đặc điểm cho mọi hình thức làm môn đệ. Điều này đúng một phần. Tuy thế, nhắc tới lòng cảm thương một cách lầm lẫn sẽ có nguy cơ trầm trọng là tầm thường hóa hình ảnh Thiên Chúa, theo đó, Thiên Chúa không có tự do, mà đúng hơn bị buộc phải tha thứ. Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi tỏ lòng thương xót ta: vấn đề là ta mệt mỏi không xin tha thứ nữa, không khiêm nhường nhìn nhận tội lỗi ta, như Đức GH Phanxicô luôn nhắc nhở trong một năm rưỡi đầu tiên của triều giáo hoàng của ngài. 

“Các sự kiện trong Thánh Kinh cho ta thấy rằng ngoài lòng cảm thương, sự thánh thiện và đức công chính cũng thuộc mầu nhiệm Thiên Chúa. Nếu ta cố tình làm mờ nhạt các phẩm tính này của Thiên Chúa và tầm thường hóa thực tại của tội lỗi, thì đâu còn cần phải nhân danh Người mà khẩn cầu Thiên Chúa xót thương làm gì nữa. Điều này khiến ta hiểu tại sao sau khi xử sự một cách hết sức cảm thương đối với người đàn bà ngoại tình, Chúa Giêsu đã nói thêm một biểu hiệu nữa của tình yêu nơi Người: ‘Hãy đi và đừng phạm tội nữa’ (Ga 8:11). Lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là miễn chước ta khỏi thi hành các giới răn của Người và các lời dạy của Giáo Hội. Nó hoàn toàn trái ngược với điều đó: Trong lòng xót thương vô biên của Người, Thiên Chúa ban cho ta sức mạnh của ơn thánh để ta chu toàn các giới răn của Người và nhờ thế tái lập trong ta hình ảnh hoàn hảo của Người như Cha Trên Trời, sau khi ta sa ngã”. 

Trả lời một câu hỏi khác, Đức HY Muller cho rằng rước lễ nói lên mối liên hệ bản thân và cộng đoàn với Chúa Giêsu Kitô. Không như anh em Thệ Phản, đối với người Công Giáo, có một kết hợp hoàn toàn giữa Kitô học và Giáo Hội học: ta không thể có mối liên hệ bản thân với Chúa Kitô và với Thân Thể đích thực của Người trong bí tích bàn thờ mà lại đồng thời mâu thuẫn với cùng một Chúa Kitô và nhiệm thể của Người hiện diện trong Giáo Hội và trong sự hiệp thông Giáo Hội. Cho nên, ta có thể quả quyết mà không sợ sai lầm rằng nếu ai thấy mình trong tình trạng tội trọng, thì không thể và đừng nên rước lễ.

Điều trên không chỉ áp dụng vào trường hợp người ly dị và tái hôn, mà đúng hơn còn áp dụng vào mọi trường hợp trong đó có việc khách quan bác bỏ những gì Thiên Chúa muốn cho ta. Theo định nghĩa, đó là sợi dây được thiết lập trong các bí tích. Chính vì thế, ta phải cẩn trọng chống lại quan niệm duy nội tại (immanentist) về bí tích Thánh Thể, một chủ trương đặt nền tảng trên một chủ nghĩa duy cá nhân thái quá, biến việc lãnh nhận các bí tích hay tham dự vào hiệp thông Giáo Hội tùy thuộc nhu cầu hay khiếu thẩm mỹ của cá nhân.

Đối với một số người, chìa khóa của vấn đề là ước muốn được rước lễ theo bí tích, như thể ước muốn này là một quyền lợi. Với nhiều người khác, rước lễ đơn thuần chỉ là cách nói lên tư cách thành viên của mình trong cộng đồng. Lẽ dĩ nhiên, không thể quan niệm bí tích Thánh Thể theo lối giản lược coi nó như biểu thức của một quyền lợi hay căn tính cộng đồng: Thánh Thể không thể là “một cảm nhận xã hội”!

Đôi khi có người gợi ý rằng quyết định rước lễ nên dành cho lương tâm cá nhân của người ly dị và tái hôn. Luận điểm này cũng nói lên một quan niệm sai lầm về “lương tâm”, từng bị Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin bác bỏ năm 1994. Trước khi lên rước lễ, tín hữu biết họ phải xét lương tâm, một việc cũng buộc họ phải không ngừng đào tạo lương tâm này và do đó phải sốt sắng đi tìm sự thật. 

Nhưng còn vấn đề phải thích nghi tín lý vào “thực tế mục vụ”, tuy không thay đổi nó, thì sao? Đức Hồng Y cho rằng việc tách biệt đời sống khỏi tín lý là một trong các đặc điểm của chủ nghĩa nhị nguyên ngộ đạo. Giống như việc tách biệt công lý ra khỏi cảm thương, Thiên Chúa ra khỏi Chúa Kitô, Đức Kitô Thầy Dạy ra khỏi Đức Kitô Chăn Dắt, hay Đức Kitô ra khỏi Giáo Hội. Chỉ có một Đức Kitô. Đức Kitô bảo đảm sự hợp nhất giữa Lời Thiên Chúa, tín lý, và chứng từ đời sống. Mọi Kitô hữu đều biết rằng chỉ nhờ tín lý vững vàng, ta mới đạt tới đời sống vĩnh cửu. 

Nhưng có nhiều lý thuyết hiện nay nhằm biến tín lý Công Giáo thành một thứ bảo tàng viện trưng bày các học thuyết Kitô Giáo, một thứ khu bảo tồn chỉ được một ít chuyên viên lưu tâm. Đời sống sẽ không có gì liên quan tới Chúa Giêsu Kitô như Người vốn là và như Giáo Hội vốn dạy về Người. Kitô Giáo đúng nghĩa trở thành một thứ tôn giáo dân sự mới, chính xác về chính trị và bị rút gọn vào một số giá trị được xã hội khoan dung. Điều này sẽ giúp một số người đạt được mục tiêu ngầm của họ: loại bỏ Lời Chúa, nhường chỗ cho ý thức hệ trong cố gắng kiểm soát toàn bộ xã hội. 

Chúa Giêsu không trở thành xác phàm để trình bày một số lý thuyết đơn giản nhằm làm cho lương tâm thanh thản và cuối cùng để mặc sự việc ở nguyên trạng. Sứ điệp của Chúa Giêsu là cuộc sống mới. Ai đó nếu nghĩ và sống bằng cách tách biệt đời sống ra khỏi tín lý, không những đã làm méo mó tín lý của Giáo Hội bằng cách biến nó thành một thứ ngụy triết lý duy lý tưởng mà còn tự lừa dối chính mình. Sống làm Kitô hữu là sống trên căn bản đức tin vào Thiên Chúa. Giả mạo sự sắp xếp này là thực hiện một thỏa hiệp dơ bẩn giữa Thiên Chúa và ma qủy. 

Trả lời một câu hỏi khác nói rằng một số Giáo Phụ có khuynh hướng khoan dung đối với những cuộc hôn nhân thứ hai trong khi người phối ngẫu đầu vẫn còn sống, Đức HY Muller cho hay: trong khoa giáo phụ học, quả có những giải thích hay thích ứng vào đời sống cụ thể, tuy nhiên, vẫn không có chứng từ giáo phụ nào ngả về phía chấp nhận cuộc hôn nhân thứ hai khi người phối ngẫu đầu còn sống. 

Dĩ nhiên, tại Phương Đông Kitô Giáo, một số mơ hồ lẫn lộn diễn ra giữa luật dân sự của hoàng đế và luật lệ của Giáo Hội, từ đó, phát sinh ra nhiều tập tục mà trong một vài vụ quả có đưa tới việc chấp nhận ly dị. Nhưng dưới sự lãnh đạo của giáo hoàng, Giáo Hội Công Giáo trong nhiều thế kỷ qua đã khai triển ra một truyền thống khác được đưa vào bộ giáo luật hiện hành và vào nhiều qui định khác của Giáo Hội, một truyền thống minh nhiên chống lại bất cứ mưu toan nào nhằm thế tục hóa hôn nhân. Điều này cũng xẩy ra trong một số cộng đồng Kitô Giáo Phương Đông. 

Đức HY cũng cho rằng đôi khi ta thấy một số trích dẫn Giáo Phụ tuy khá chính xác nhưng ra ngoài ngữ cảnh nhằm hỗ trợ khả thể ly dị và tái hôn. Ngài không tin rằng điều đó đúng theo cái nhìn của phương pháp học khi cô lập hóa một bản văn, lấy nó ra khỏi ngữ cảnh, biến nó thành một trích dẫn biệt lập, tách biệt khỏi bức tranh toàn diện của truyền thống. Trọn bộ truyền thống thần học và huấn quyền phải được giải thích dưới ánh sáng Tin Mừng, và liên quan tới hôn nhân, ta tìm thấy những lời dạy tuyệt đối rõ ràng của chính Chúa Giêsu. Ngài không nghĩ ta có thể đưa ra một giải thích khác với lời giải thích đã được trình bày trong thánh truyền và huấn quyền của Giáo Hội mà không bất trung với Lời nhập thể.

Vũ Văn An9/29/2014(vietcatholic)


Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

SEPTEMBER 30, 2014 : MEMORIAL OF SAINT JEROME, PRIEST AND DOCTOR OF THE CHURCH

Memorial of Saint Jerome, Priest and Doctor of the Church
Lectionary: 456

Job opened his mouth and cursed his day.
Job spoke out and said:

Perish the day on which I was born,
the night when they said, “The child is a boy!”

Why did I not perish at birth,
come forth from the womb and expire?
Or why was I not buried away like an untimely birth,
like babes that have never seen the light?
Wherefore did the knees receive me?
or why did I suck at the breasts?

For then I should have lain down and been tranquil;
had I slept, I should then have been at rest
With kings and counselors of the earth
who built where now there are ruins
Or with princes who had gold
and filled their houses with silver.

There the wicked cease from troubling,
there the weary are at rest.

Why is light given to the toilers,
and life to the bitter in spirit?
They wait for death and it comes not;
they search for it rather than for hidden treasures,
Rejoice in it exultingly,
and are glad when they reach the grave:
Those whose path is hidden from them,
and whom God has hemmed in!
Responsorial Psalm PS 88:2-3, 4-5, 6, 7-8
R. (3) Let my prayer come before you, Lord.
O LORD, my God, by day I cry out;
at night I clamor in your presence.
Let my prayer come before you;
incline your ear to my call for help.
R. Let my prayer come before you, Lord.
For my soul is surfeited with troubles
and my life draws near to the nether world.
I am numbered with those who go down into the pit;
I am a man without strength.
R. Let my prayer come before you, Lord.
My couch is among the dead,
like the slain who lie in the grave,
Whom you remember no longer
and who are cut off from your care.
R. Let my prayer come before you, Lord.
You have plunged me into the bottom of the pit,
into the dark abyss.
Upon me your wrath lies heavy,
and with all your billows you overwhelm me.
R. Let my prayer come before you, Lord.
Gospel LK 9:51-56
When the days for Jesus to be taken up were fulfilled,
he resolutely determined to journey to Jerusalem,
and he sent messengers ahead of him.
On the way they entered a Samaritan village
to prepare for his reception there,
but they would not welcome him
because the destination of his journey was Jerusalem.
When the disciples James and John saw this they asked,
“Lord, do you want us to call down fire from heaven
to consume them?”
Jesus turned and rebuked them,
and they journeyed to another village.


Meditation: "Jesus' face was set toward Jerusalem"
Are you surprised to see two of Jesus' disciples praying for the destruction of a Samaritan village? The Jews and Samaritans had been divided for centuries. Jewish pilgrims who passed through Samaritan territory were often treated badly and even assaulted. Jesus did the unthinkable for a Jew. He not only decided to travel through Samaritan territory at personal risk, but he also asked for hospitality in one of their villages! 
Jesus faced rejection and abuse in order to reconcile us with God and one another
Jesus' offer of friendship was rebuffed. Is there any wonder that the disciples were indignant and felt justified in wanting to see retribution done to this village? Wouldn't you respond the same way? Jesus, however, rebukes his disciples for their lack of toleration. Jesus had "set his face toward Jerusalem" to die on a cross that Jew, Samaritan and Gentile might be reconciled with God and be united as one people in Christ.
Jesus seeks our highest good - friend and enemy alike
Tolerance is a much needed virtue today. But aren't we often tolerant for the wrong thing or for the wrong motive? Christian love seeks the highest good of both one's neighbor and one's enemy. When Abraham Lincoln was criticized for his courtesy and tolerance towards his enemies during the American Civil War, he responded: "Do I not destroy my enemies when I make them my friends?" How do you treat those who cross you and cause you trouble? Do you seek their good rather than their harm?
"Lord Jesus, you are gracious, merciful, and kind. Set me free from my prejudice and intolerance towards those I find disagreeable, and widen my heart to love and to do good even to those who wish me harm or evil."


The Real Fight until the End
The Real Fight until the End
When the days for Jesus to be taken up were fulfilled, he resolutely determined to journey to Jerusalem, and he sent messengers ahead of him. On the way they entered a Samaritan village to prepare for his reception there, but they would not welcome him because the destination of his journey was Jerusalem. When the disciples James and John saw this they asked, "Lord, do you want us to call down fire from heaven to consume them?" Jesus turned and rebuked them, and they journeyed to another village.
Introductory Prayer: In you, Lord, I find all my joy and happiness. How could I offend you by chasing after fleeting success and lifeless trophies? I believe in you because you are truth itself. I hope in you because you are faithful to your promises. I love you because you have loved me first. I am a sinner; nevertheless, you have given me so many blessings. I humbly thank you.
Petition: Lord Jesus, make me meek and humble of heart.
1. An Unpopular Strategy: military term: “resolutely”. Nevertheless, even though he was engaged in fierce combat, Jesus didn’t show it in a way the world understood. Our Lord approached his battle in Jerusalem like a sheep being led to the slaughter. His strategy was humility. Humility was the atomic bomb that he would drop on Satan’s designs and plans. He thus undid the pride and arrogance of Lucifer.
2. A Lesson in Humility: St. John the Evangelist is an active participant in this passage. He himself knew that Jesus’ purpose was to wage war (see 1 John 3:8), and he and his brother dreamed of being well-decorated in Jesus’ battalion. They sought places at his right and left hand in the Kingdom (see Mark 10:35-37), and now they seek to use their rank as apostles to bring down revenge on their opponents. Jesus rebuked them, redefining for them the idea of kingship in his reign. They learned quickly that the weapons of attack were kindness, gentleness, charity and humility.
3. Mission Oriented: In military standards, a commander-in-chief might have considered the incident in Samaria a defeat. Christ was uprooted from their presence, so humanly speaking, he lost. This however, is not the case. Had Jesus complained or retaliated against the fanaticism of the Samaritans, that would have been a defeat. Instead, the Gospel tells us: “They journeyed to another village.” Simple as that! Christ won victory because he didn’t waste time on fickle, whimsical and capricious expectations; rather as a true soldier, he forgave, forgot and continued to the next town.
Conversation with Christ: Lord Jesus, allow me to understand the bumps and bruises of your “boot camp.” It is hard to understand why life is so taxing for my weak nature, but I know that we are at war with the forces of evil. Seeing you die for this war and winning it gives me greater courage to commit my bit to the war effort. Help me to prefer the virtue of humility over my pride.
Resolution: Today, I will be to the one who does an everyday chore in my house. I will make the coffee for all or wash the dishes to demonstrate to the Lord (and myself) that I can be humble. 

TUESDAY, SEPTEMBER 30, LUKE 9:51-56
(Job 3:1-3, 11-17, 20-23; Psalm 88)

KEY VERSE: "Lord, do you want us to command fire to come down from heaven and consume them?" (v 54).
READING: The hostility between the Jews and the Samaritans arose in the eighth century BC when the Assyrians conquered the northern kingdom of Samaria and deported most of the citizens. The land was resettled with pagan foreigners who intermarried with the remaining Jews (2 Kings 17:6, 24). This mixed ethnic and religious group was looked down upon by the Jews. When Jesus began his journey to Jerusalem where he would face suffering and death, he sent messengers ahead to prepare for his arrival at a Samaritan village. Samaritans often refused hospitality to Jews who were on pilgrimage to Jerusalem, and they refused to welcome Jesus. James and John responded angrily, such as Elijah did to the prophets of Baal to "call down fire from heaven to consume them" (v. 54; 1 Kgs 18:38). Jesus reprimanded his disciples for their narrow-mindedness. He had come to save all people, regardless of race or religion.
REFLECTING: Do I work for racial and religious tolerance?
PRAYING: Lord Jesus, open my mind and heart to all your people.
Memorial of Jerome, priest and doctor of the Church 

Born to a rich pagan family, Jerome misspent his youth. After his conversion, he was baptized in 365 and began his study of theology. He lived for years as a hermit in the Syrian deserts. Ordained a priest, he was a student of St. Gregory of Nazianzen, and secretary to Pope Damasus who commissioned him to revise the Latin text of the Bible, translating most of the Old Testament from the Hebrew. The result of his 30 years of work was the Vulgate translation, which was in common use until the Vatican II Council. He also wrote commentaries which are a great source of scriptural inspiration for us today. He was an avid student, a thorough scholar, a prodigious letter-writer and a consultant to monk, bishop and pope. St. Augustine (August 28) said of him, "What Jerome is ignorant of, no mortal has ever known." Jerome was a friend and teacher of St. Paula, St. Marcella, and St. Eustochium. He lived his last 34 years in the Holy Land as a semi-recluse.

Let my prayer come before you, Lord
Pain and grief often close us off from others.
We curl in on ourselves, wishing from the depths of our being that things were different. Job knew this experience and was honest in his feelings. He allowed pain and anguish to surface and named them for what they were. Similarly, Jesus heads towards Jerusalem. ‘Resolutely’ is Luke’s word. Jesus knows what is coming. He doesn’t wish for it, but neither does he flee from it. He names it for what it is and moves towards it. When he does not receive support from the villagers in Samaria, he doesn’t seek revenge. He simply and resolutely moves on. Jesus allowed nothing to stand in the way of what was to come and remained focused upon it. Jesus and Job—each of them name it, know it, do it, prayerfully and trusting in God.

MINUTE MEDITATIONS 
Mad With Love
O fire of love! Was it not enough to gift us with creation in your image and likeness, and to create us anew to grace in your Son’s blood, without giving us yourself as food, the whole of divine being, the whole of God? What drove you? Nothing but your charity, mad with love as your are! –St. Catherine of Siena

September 30
St. Jerome
(345-420)

Most of the saints are remembered for some outstanding virtue or devotion which they practiced, but Jerome is frequently remembered for his bad temper! It is true that he had a very bad temper and could use a vitriolic pen, but his love for God and his Son Jesus Christ was extraordinarily intense; anyone who taught error was an enemy of God and truth, and St. Jerome went after him or her with his mighty and sometimes sarcastic pen.
He was above all a Scripture scholar, translating most of the Old Testament from the Hebrew. He also wrote commentaries which are a great source of scriptural inspiration for us today. He was an avid student, a thorough scholar, a prodigious letter-writer and a consultant to monk, bishop and pope. St. Augustine (August 28) said of him, "What Jerome is ignorant of, no mortal has ever known."
St. Jerome is particularly important for having made a translation of the Bible which came to be called the Vulgate. It is not the most critical edition of the Bible, but its acceptance by the Church was fortunate. As a modern scholar says, "No man before Jerome or among his contemporaries and very few men for many centuries afterwards were so well qualified to do the work." The Council of Trent called for a new and corrected edition of the Vulgate, and declared it the authentic text to be used in the Church.
In order to be able to do such work, Jerome prepared himself well. He was a master of Latin, Greek, Hebrew and Chaldaic. He began his studies at his birthplace, Stridon in Dalmatia (in the former Yugoslavia). After his preliminary education he went to Rome, the center of learning at that time, and thence to Trier, Germany, where the scholar was very much in evidence. He spent several years in each place, always trying to find the very best teachers. He once served as private secretary of Pope Damasus (December 11).
After these preparatory studies he traveled extensively in Palestine, marking each spot of Christ's life with an outpouring of devotion. Mystic that he was, he spent five years in the desert of Chalcis so that he might give himself up to prayer, penance and study. Finally he settled in Bethlehem, where he lived in the cave believed to have been the birthplace of Christ. On September 30 in the year 420, Jerome died in Bethlehem. The remains of his body now lie buried in the Basilica of St. Mary Major in Rome.


Comment:

Jerome was a strong, outspoken man. He had the virtues and the unpleasant fruits of being a fearless critic and all the usual moral problems of a man. He was, as someone has said, no admirer of moderation whether in virtue or against evil. He was swift to anger, but also swift to feel remorse, even more severe on his own shortcomings than on those of others. A pope is said to have remarked, on seeing a picture of Jerome striking his breast with a stone, "You do well to carry that stone, for without it the Church would never have canonized you" (Butler's Lives of the Saints).
Quote:

"In the remotest part of a wild and stony desert, burnt up with the heat of the scorching sun so that it frightens even the monks that inhabit it, I seemed to myself to be in the midst of the delights and crowds of Rome. In this exile and prison to which for the fear of hell I had voluntarily condemned myself, I many times imagined myself witnessing the dancing of the Roman maidens as if I had been in the midst of them: In my cold body and in my parched-up flesh, which seemed dead before its death, passion was able to live. Alone with this enemy, I threw myself in spirit at the feet of Jesus, watering them with my tears, and I tamed my flesh by fasting whole weeks. I am not ashamed to disclose my temptations, but I grieve that I am not now what I then was" ("Letter to St. Eustochium").
Patron Saint of:

Librarians

LECTIO DIVINA: LUKE 9,51-56
Lectio: 
 Tuesday, September 30, 2014
Ordinary Time

1) Opening prayer
Father,
you show your almighty power
in your mercy and forgiveness.
Continue to fill us with your gifts of love.
Help us to hurry towards the eternal life your promise
and come to share in the joys of your kingdom.
We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son,
who lives and reigns with you and the Holy Spirit,
one God, for ever and ever. Amen.
2) Gospel Reading - Luke 9,51-56
It happened that as the time drew near for him to be taken up, he resolutely turned his face towards Jerusalem and sent messengers ahead of him.
These set out, and they went into a Samaritan village to make preparations for him, but the people would not receive him because he was making for Jerusalem.
Seeing this, the disciples James and John said, ‘Lord, do you want us to call down fire from heaven to burn them up?’ But he turned and rebuked them, and they went on to another village.
3) Reflection
• The Gospel today narrates and tells us how Jesus decides to go to Jerusalem. It also describes the first difficulties which he finds along this road. He presents us the beginning of the long and hard way of the periphery toward the capital city. Jesus leaves Galilee and goes toward Jerusalem. Not all can understand him. Many abandon him, because the demands are enormous. Today, the same thing happens. Along the way of our community there are misunderstandings and abandonment.
• “Jesus decides to go to Jerusalem”. This decision marks the hard and long way of Jesus from Galilee to Jerusalem, from the periphery to the capital city. This journey occupies more than one third part of the Gospel of Luke (Lk 9, 51 to 19, 28). This is a sign that the voyage to Jerusalem was of great importance in the life of Jesus. The long walk is the symbol, at the same time, of the journey that the community is making. They seek to go through a difficult passage from the Jewish world toward the world of the Greek culture. This also symbolized the tension between the New and the Ancient which was closing more and more in itself. It also symbolizes the conversion which each one of us has to carry out, trying to follow Jesus. During the journey, the disciples try to follow Jesus, without returning back; but they do not always succeed. Jesus dedicates much time to instruct those who follow him closely. We have a concrete example of this instruction in today’s Gospel. At the beginning of the journey, Jesus leaves Galilee and takes with him the disciples to the territory of the Samaritans. He tries to form them in order that they may be ready to understand the openness to the New, toward the other, toward what is different.
• Luke 9, 51: Jesus decides to go to Jerusalem. The Greek text says literally: “Now it happened that as the time drew near for him to be taken up, he resolutely turned his face towards Jerusalem”. The expression assumption or being snatched recalls the Prophet Elijah snatched to heaven (2 K 2, 9-11). The expression turned his face recalls the Servant of Yahweh who said: “I have set my face like flint and I know I shall not be put to shame” (Is 50, 7). It also recalls an order which the Prophet Ezekiel received from God: “Turn your face toward Jerusalem!” (Ez 21, 7). In using these expressions Luke suggests that while they were walking toward Jerusalem, the most open opposition of Jesus began against the project of the official ideology of the Temple of Jerusalem. The ideology of the Temple wanted a glorious and nationalistic Messiah. Jesus wants to be a Messiah Servant. During the long journey, this opposition will increase and finally, it will end in the getting hold of Jesus. The snatching of Jesus is his death on the Cross, followed by his Resurrection.
• Luke 9, 52-53: The mission in Samaria failed. During the journey, the horizon of the mission is extended. After the beginning, Jesus goes beyond the frontiers of the territory and of the race. He sends his disciples to go and prepare his arrival in a town of Samaria. But the mission together with the Samaritans fails. Luke says that the Samaritans did not receive Jesus because he was going to Jerusalem. But if the disciples would have said to the Samaritans: “Jesus is going to Jerusalem to criticize the project of the Temple and to demand a greater openness”, Jesus would have been accepted, because the Samaritans were of the same opinion. The failure of the mission is, probably, due to the disciples. They did not understand why Jesus “turned the face toward Jerusalem”. The official propaganda of the glorious and nationalistic Messiah prevented them from perceiving... The disciples did not understand the openness of Jesus and the mission failed!
• Luke 9, 54-55: Jesus does not accept the request of vengeance. James and John do not want to take home the defeat. They do not accept that some one is not in agreement with their ideas. They want to imitate Elijah and use fire to revenge (2 K 1, 10). Jesus rejects the proposal. He does not want the fire. Some Bibles add: “You do not know what spirit is moving you!” This means that the reaction of the disciples was not according to the Spirit of Jesus. When Peter suggests to Jesus not to follow the path of the Messiah Servant, Jesus turns to Peter calling him Satan (Mk 8, 33). Satan is the evil spirit who wants to change the course or route of the mission of Jesus. The Message of Luke for the communities: those who want to hinder the mission among the pagans are moved by the evil spirit!
• In the ten chapters which describe the journey up to Jerusalem (Lk 9, 51 to 19, 28), Luke constantly reminds us that Jesus is on the way toward Jerusalem (Lk 9, 51.53.57; 10, 1.38; 11, 1; 13, 22.33; 14, 25; 17,11; 18, 31; 18, 37; 19, 1.11.28). He rarely says through where Jesus passed. Only at the beginning of the journey (Lk 9, 51), in the middle (Lk 17, 11), and at the end (Lk 18, 35; 19, 1), something is known concerning the place where Jesus was going by. This refers to the communities of Luke and also for all of us. The only thing that is sure is that we have to continue to walk. We cannot stop. But it is not always clear and definite the place where we have to pass by. What is sure, certain, is the objective: Jerusalem.
4) Personal questions
• Which are the problems which you have to face in your life, because of the decision which you have taken to follow Jesus?
• What can we learn from the pedagogy of Jesus with his disciples who wanted to revenge of the Samaritans?
5) Concluding Prayer
All the kings of the earth give thanks to you, Yahweh,
when they hear the promises you make;
they sing of Yahweh’s ways,
‘Great is the glory of Yahweh!’ (Ps 138,4-5)