Trang

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

27.08.2026: THỨ NĂM TUẦN XXI THƯỜNG NIÊN - THÁNH NỮ MÔNICA - Lễ Nhớ

 


27/08/2026

Thứ Năm tuần 21 thường niên

Thánh nữ Mônica.

Lễ nhớ.

 Bổn mạng Giới Hiền Mẫu

 


Thánh nữ MONICA sinh năm 331 tại Ta-gát, châu Phi trong một gia đình theo Kitô giáo. Lúc còn thanh xuân, thánh nữ đã kết hôn với anh Pa-tri-xi-ô và sinh được những người con, trong đó có thánh Âu-tinh. Khi Âu-tinh mất đức tin, thánh nữ đã dâng những dòng lệ tựa những lời cầu nguyện âm thầm lên Thiên Chúa. Khi thấy Âu-tinh trở lại, thánh nữ đã tràn ngập vui mừng. Người không còn gì để chờ đợi ở trần gian này nữa, Thiên Chúa đã gọi người về ở Ốt-ti-a, năm 387, khi người đang sửa soạn trở về châu Phi, quê hương của người. Thánh nữ là tấm gương sáng chói cho những người làm mẹ: nuôi dưỡng lòng tin bằng lời cầu nguyện và chiếu tỏa ra bên ngoài bằng các nhân đức.

 

Bài Ðọc I: (Năm II) 1 Cr 1, 1-9

“Trong mọi sự, anh em hãy nên giàu có trong Người”.

Khởi đầu thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Phaolô, do thánh ý Chúa, được kêu gọi làm Tông đồ của Chúa Giêsu Kitô, và Sôtênê, anh em chúng tôi, kính chào Hội Thánh Chúa ở Côrintô, những người được thánh hoá trong Chúa Giêsu Kitô, được kêu gọi nên thánh, làm một với tất cả mọi người khắp nơi đang kêu cầu thánh danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta: Nguyện xin ân sủng và bình an của Thiên Chúa là Cha chúng ta, và của Ðức Giêsu Kitô, ở cùng anh em.

Tôi hằng cảm tạ Chúa thay cho anh em, vì ơn đã ban cho anh em trong Chúa Giêsu Kitô. Vì chưng, trong Người, anh em được tràn đầy mọi ơn: ơn ngôn ngữ và ơn hiểu biết, đúng như Chúa Kitô đã minh chứng nơi anh em, khiến anh em không còn thiếu ơn nào nữa trong khi mong chờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta tỏ mình ra. Cũng chính Người sẽ ban cho anh em bền vững đến cùng, không có gì đáng khiển trách trong ngày Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta ngự đến. Thiên Chúa là Ðấng Trung Tín, đã kêu mời anh em hiệp nhất với Con của Người, là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 144, 2-3. 4-5. 6-7

Ðáp: Lạy Chúa, con sẽ chúc tụng danh Chúa tới muôn đời (c. 1b).

Xướng: Hằng ngày con sẽ chúc tụng Chúa, và con sẽ khen ngợi danh Chúa tới muôn đời, Chúa vĩ đại và rất đáng ngợi khen, sự vĩ đại của Chúa không thể đo lường được.

Xướng: Thế hệ này rao giảng cho thế hệ kia hay công việc Chúa, và thiên hạ loan tin quyền năng của Ngài. Người ta nói đến vinh quang cao cả oai nghiêm, và phổ biến những điều kỳ diệu của Chúa.

Xướng: Người ta nói tới quyền năng trong những việc đáng sợ, và kể ra sự vĩ đại của Ngài. Người ta lớn tiếng khen ngợi lòng nhân hậu bao la, và hân hoan vì đức công minh của Chúa.

 

Alleluia: Cl 3, 16a và 17c

Alleluia, alleluia! – Nguyện cho lời Chúa Kitô cư ngụ dồi dào trong anh em; anh em hãy nhờ Ðức Kitô mà tạ ơn Thiên Chúa Cha. – Alleluia.

(Hoặc đọc: Alleluia, alleluia! – Anh em hãy canh thức và hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến. – Alleluia.)

 

Phúc Âm: Mt 24, 42-51

“Các con hãy sẵn sàng”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến. Nhưng các con phải biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến.

“Vậy các con nghĩ ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan mà chủ đã đặt lên coi sóc gia nhân, để cứ giờ mà phân phát lương thực cho họ? Phúc cho đầy tớ ấy, khi chủ nó đến thấy nó đang làm như vậy. Thầy bảo thật các con, chủ sẽ đặt người ấy lên coi sóc tất cả gia sản ông. Nhưng nếu đầy tớ ấy xấu, nghĩ trong lòng rằng: “Chủ tôi về muộn”, rồi nó đánh đập các bạn đầy tớ, lại còn chè chén với lũ say sưa: chủ đầy tớ ấy trở về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết, ông sẽ xé xác nó ra, và cho nó chung số phận với những kẻ giả hình: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng”.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về 1 Cô-rin-tô 1,1-9

Hôm nay, chúng ta bắt đầu đọc Thư thứ nhất của Phao-lô gửi các tín hữu tại Cô-rin-tô, một thành phố ở miền nam Hy Lạp. Phao-lô đã đến đó sau thất bại ê chề khi rao giảng cho những cư dân Athens vốn tự hào về sự uyên bác của mình. Tại Cô-rin-tô—một thành phố có dân cư đa dạng và không mấy tiếng tăm tốt đẹp về mặt đạo đức—ông đã đạt được kết quả khả quan hơn nhiều. Bức thư này là một trong những văn bản quan trọng nhất của Tân Ước và chứa đựng những giáo huấn cốt lõi của Phao-lô. Vì vậy, chúng ta sẽ cùng suy niệm về bức thư này cho đến cuối Tuần 24—tổng cộng là ba tuần rưỡi.

Theo thông lệ của các bức thư thời bấy giờ, Phao-lô bắt đầu bằng việc giới thiệu bản thân và liệt kê mình vào hàng ngũ các Tông đồ được Thiên Chúa kêu gọi. Theo nghĩa gốc, từ "tông đồ" (apostle) có nghĩa là "người được phái đi thực hiện một sứ mệnh hoặc truyền đạt một thông điệp". Trong Tân Ước, từ này có thể được dùng theo nghĩa chung để chỉ bất kỳ ai được sai đi làm nhiệm vụ (từ động từ tiếng Hy Lạp *apostello*). Cụ thể hơn, từ này được dùng để chỉ Nhóm Mười Hai mà chúng ta gặp trong các sách Tin Mừng, nhưng sau đó cũng được áp dụng cho Phao-lô (người tự gọi mình là "kẻ hèn mọn nhất trong các Tông đồ"). Danh hiệu này đôi khi cũng được dành cho một nhóm rộng hơn, bao gồm Ba-na-ba, Gia-cô-bê ("anh em của Chúa") và có thể là An-đrô-ni-cô cùng Giu-ni-a—những người được nhắc đến trong Thư gửi tín hữu Rô-ma.

Phao-lô sử dụng danh hiệu này trong hầu hết các bức thư của mình để khẳng định thẩm quyền của ông với tư cách là sứ giả của Đấng Ki-tô—một thẩm quyền đôi khi bị người khác thách thức. Tại đây, ông củng cố lời khẳng định của mình bằng cách thêm cụm từ "theo ý muốn của Thiên Chúa". Nói cách khác, ông không tự phong cho mình chức vị này.

Lời chào đầu thư cũng nhắc đến tên Sốt-then; có thể ông chính là vị trưởng hội đường từng bị chính đồng bào Do Thái tại Cô-rin-tô hành hung khi lời tố cáo của họ chống lại Phao-lô bị quan tổng trấn Ga-li-ô bác bỏ (Ga-li-ô là quan tổng trấn cai quản tỉnh A-khai-a). (Câu chuyện này được ghi lại trong sách Công vụ Tông đồ chương 18 và là một phần của Bài Đọc 1 vào ngày Thứ Sáu của Tuần 6 Mùa Phục Sinh). Nếu đó thực sự là cùng một người, thì hẳn ông đã trở thành Kitô hữu vào thời điểm Phao-lô đang rao giảng tại Cô-rin-tô hoặc trong giai đoạn A-pô-lô thi hành sứ vụ tại đây.

Phao-lô gửi bức thư này cho "Hội Thánh của Thiên Chúa tại Cô-rin-tô". “Hội Thánh của Thiên Chúa” là một trong những cụm từ ông ưa thích và chỉ riêng ông sử dụng. Cụm từ này chỉ cộng đoàn các Kitô hữu quy tụ lại với nhau, thường là tại tư gia của họ. Tương ứng với nó trong Cựu Ước là “cộng đoàn (hay hội chúng) của Đức Chúa”. Vào giai đoạn này, chưa hề có tòa nhà hay cơ cấu tổ chức chính thức nào.

Ông cũng gọi họ là những người được “thánh hóa”, nghĩa là trở nên thánh thiện trong Đức Kitô. Điều này không chủ yếu nói về cách cư xử của họ—vì như Phaolô thẳng thắn chỉ ra, họ có nhiều thiếu sót—mà nói về việc họ đã được kêu gọi, cùng với các Kitô hữu ở những hội thánh khác, để trở thành một dân riêng biệt, nổi bật nhờ sự dấn thân vào Con Đường của Đức Kitô. Từ *hagios* trong tiếng Hy Lạp, được dịch là “thánh”, có nghĩa là “được tách riêng”, và thuật ngữ “các thánh” được dùng để chỉ tất cả các Kitô hữu trong các thư của Phaolô, chứ không chỉ những người có đức hạnh xuất sắc.

Lời chào mở đầu kết thúc bằng một lời chúc phúc và cầu nguyện xin “ân sủng và bình an” từ Thiên Chúa Cha và Chúa Giêsu; đây là lời chào mà ngày nay chúng ta vẫn sử dụng trong phụng vụ Thánh Thể.

“Ân sủng” (tiếng Hy Lạp là *charis*) hàm ý tình yêu của Thiên Chúa được ban tặng nhưng không, chứ không phải do con người xứng đáng được hưởng. Dù chúng ta có tốt lành đến đâu, Thiên Chúa cũng không bao giờ mắc nợ chúng ta. Sáng kiến ​​yêu thương luôn đến từ Thiên Chúa chứ không phải từ chúng ta, và chúng ta cũng không thể làm bất cứ điều gì để giành lấy nó. Ân sủng luôn hiện diện trước tiên, chờ đợi chúng ta đón nhận.

Giờ đây, bức thư thực sự bắt đầu khi Phaolô cất lời tạ ơn về mọi minh chứng cho tình yêu của Thiên Chúa—tức “ân sủng” của Người—đã tuôn đổ trên cộng đoàn Côrintô trong Đức Giêsu Kitô. Ông đặc biệt tạ ơn về những ân huệ “lời nói và sự hiểu biết”, được thể hiện qua các nhà giảng thuyết và giáo viên của họ. Đây là những ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần (sẽ được đề cập sau này cùng với các ân huệ khác). “Lời nói” là ân huệ có khả năng loan báo Tin Mừng một cách hiệu quả. “Sự hiểu biết” hàm ý sự thấu hiểu sâu sắc về sứ điệp Tin Mừng, chứ không chỉ là những dữ kiện về sứ điệp đó.

Lời chứng về Đức Kitô mà Phaolô đã trao cho họ hoàn toàn không uổng phí; trái lại, lời chứng ấy đã được xác nhận rõ ràng qua các ân huệ của Thần Khí Đức Giêsu đang hiện diện sống động nơi họ. Những ân huệ của Thần Khí giúp họ phục vụ Thân Thể Đức Kitô—tức là Hội Thánh—cho đến khi Chúa Giêsu được tỏ hiện vào thời cánh chung, tức là lúc Người quang lâm lần cuối cùng. Phaolô sẽ bàn chi tiết hơn về các ân huệ này trong các chương 12-14.

Theo các chương đó, ân huệ thiêng liêng là sự biểu lộ của Chúa Thánh Thần, giúp một người đáp ứng các nhu cầu của Thân Thể Đức Kitô là Hội Thánh. Các ân huệ này không dành cho lợi ích cá nhân, mà để giúp người nhận đáp ứng nhu cầu của cộng đoàn. Có những ân huệ khác nhau cho những nhu cầu khác nhau. (Lưu ý rằng sự quang lâm của Đức Giêsu không còn được xem là sắp xảy ra ngay lập tức như trong lá thư chúng ta đã đọc vào đầu tuần.)

Người Côrintô sẽ cần đến những ân huệ này trong khi chờ đợi sự tỏ hiện trọn vẹn của Đức Giêsu Kitô, khi những kế hoạch ẩn giấu của Thiên Chúa được công bố. Khi ấy, Đức Kitô sẽ tỏ mình ra vào thời cánh chung, thời điểm của cuộc quang lâm (tiếng Hy Lạp là *parousia*) và sự xuất hiện của Người. Trước đó, "kẻ vô luật pháp" sẽ 'tự phơi bày' bản chất của mình, để rồi bị Đức Kitô tiêu diệt (2 Tx 2,3-8).

Chính Thiên Chúa sẽ ban cho họ sự trợ giúp cần thiết để họ giữ được sự "vững vàng và không tì vết" cho đến "ngày của Chúa Giêsu Kitô chúng ta", ngày Người trở lại để quy tụ tất cả những ai thuộc về Người. Nhờ được Thiên Chúa kêu gọi, họ được hiệp nhất một cách đặc biệt với Đức Giêsu Kitô. (Khái niệm "ngày của Chúa" dưới nhiều hình thức khác nhau đã được đề cập trong bài đọc hôm thứ Ba vừa qua.)

Và Phaolô kết luận rằng: "Thiên Chúa là Đấng trung tín". Người là Thiên Chúa luôn giữ lời hứa. Tình yêu của Người bất biến, bất kể chúng ta hành động ra sao. Và chính Người là Đấng đã kêu gọi chúng ta bước vào sự hiệp thông với Người qua Đức Giêsu Kitô, Con của Người và cũng là Chúa của chúng ta.

Trong lá thư này, Phaolô sẽ đưa ra nhiều lời khiển trách đối với người Côrintô, nhưng trước hết, ông bắt đầu bằng lời tạ ơn về tất cả những điều tốt đẹp đích thực mà ông nhận thấy nơi họ. Chúng ta rất dễ nhận thấy những thiếu sót của các cá nhân và hội nhóm, dù ở trong hay ngoài Giáo hội, và cũng chẳng ngần ngại bày tỏ quan điểm khi tụ họp để bàn tán về người khác. Tuy nhiên, điều quan trọng là chúng ta biết nhìn thấy những điều tốt đẹp nơi mỗi con người, nơi các cộng đoàn và ngay cả nơi chính bản thân mình.

Hãy luôn bắt đầu bằng lòng biết ơn đối với những hồng ân mình đã lãnh nhận, cũng như những điều tốt đẹp mà ta thấy nơi bản thân và những người xung quanh. Thật đáng buồn khi ta không thể dành cho nhau những lời khen ngợi và sự trân trọng chân thành.

Và đặc biệt trong ngày hôm nay, hãy cùng suy ngẫm về những ân sủng mà Thiên Chúa đã tuôn đổ xuống cuộc đời mỗi người chúng ta. Một mặt, hãy chân thành cảm tạ Người; mặt khác, hãy tự hỏi xem ta đã sử dụng những ân sủng ấy như thế nào để thể hiện tình yêu và sự phục vụ đối với Thiên Chúa cũng như đối với anh chị em mình. Suy cho cùng, đó chính là mục đích ban đầu mà những ân sủng ấy được trao ban cho chúng ta (chúng ta sẽ còn nghe nói thêm về điều này ở phần sau của lá thư).

 


Chú giải về Tin Mừng Mát-thêu 24,42-51

Chúng ta bước vào giai đoạn cuối cùng của các bài đọc trích từ Tin Mừng Mát-thêu, sẽ kết thúc vào thứ Bảy tuần này. Chúng ta sẽ theo dõi các đoạn trích chọn lọc từ chương 24 và 25, hợp thành nội dung được gọi là "Bài giảng về Cánh chung" (Eschatological Discourse). Đây là bài giảng thứ năm và cũng là bài giảng cuối cùng trong chuỗi các bài giảng của Chúa Giê-su – một nét đặc trưng của Tin Mừng Mát-thêu. Bài giảng này đề cập đến ngày tận thế và sự quang lâm (lần đến thứ hai và cũng là lần cuối cùng) của Đức Ki-tô để quy tụ muôn vật.

Phần đầu của chương 24 có đề cập đến lời tiên báo về sự tàn phá thành Giê-ru-sa-lem; đối với người Do Thái thời bấy giờ (kể cả những người đã theo đạo Ki-tô), sự kiện này hẳn đã mang dáng dấp của ngày tận thế (tương tự như việc Đế chế La Mã sụp đổ sau này đã được Thánh Âu-gút-ti-nô và những người cùng thời coi như ngày tận thế vậy).

Các tín hữu Ki-tô giáo thời sơ khai từng mong đợi được chứng kiến ​​sự Quang Lâm ngay trong cuộc đời mình; việc thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá và Đền Thờ bị hủy hoại một cách phạm thánh hẳn đã được xem là những dấu hiệu chắc chắn về thời cánh chung (từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "sự kiện cuối cùng"). Tuy nhiên, vào thời điểm Tin Mừng Mát-thêu được phổ biến, sự kiện đó đã lùi xa ít nhất 15 năm. Ngày tận thế, dù chắc chắn sẽ xảy ra, dường như không còn là điều quá cấp bách hay sắp sửa diễn ra ngay lập tức nữa.

Trong bài giảng này, Thánh Mát-thêu đã đưa vào một số dụ ngôn nói về sự Quang Lâm (Parousia). Theo mô thức thường thấy trong các phần khác của Tin Mừng này, có tất cả bảy dụ ngôn như vậy. Bài đọc hôm nay trình bày hai dụ ngôn ngắn. Cả hai đều mang lời khuyên nhủ chúng ta phải luôn sẵn sàng đón chờ ngày Chúa quang lâm.

Ở dụ ngôn thứ nhất, chúng ta được mời gọi hãy tỉnh thức chờ đợi Chúa đến, giống như một gia chủ canh chừng để ngăn kẻ trộm đột nhập và lấy cắp tài sản. Chúa Giê-su sẽ đến bất ngờ như một kẻ trộm, vào lúc chúng ta ít ngờ tới nhất.

Trong dụ ngôn thứ hai, Chúa Giê-su ví chúng ta như người đầy tớ được giao trông coi nhà cửa khi chủ vắng mặt. Hình ảnh này có thể ám chỉ các vị lãnh đạo trong cộng đoàn của Thánh Mát-thêu, và rộng hơn là các nhà lãnh đạo cộng đoàn ở khắp mọi nơi. Thật hạnh phúc cho người đầy tớ nào khi chủ bất ngờ trở về và thấy anh ta vẫn đang cần mẫn chu toàn công việc của mình. Sự sẵn sàng được đo lường bằng sự kiên định của con người trong việc thực thi trách nhiệm của mình. Ngược lại, người đầy tớ có thể nghĩ rằng chẳng thấy tăm hơi chủ đâu cả (dù lẽ ra ông phải về sớm hơn), nên quay sang đánh đập các đầy tớ khác và sống một cuộc đời sa đọa. Thật tai hại cho người đầy tớ ấy khi người chủ bất ngờ xuất hiện.

Bài học thật rõ ràng. Nhiều Kitô hữu từng mong đợi Chúa sớm trở lại, nay không thấy dấu hiệu nào của Ngài nên bắt đầu sa sút trong đời sống đức tin. Chúng ta cũng có thể bị cám dỗ hành xử như vậy: “Hãy cứ vui chơi thỏa thích (dù là những thú vui sai trái về mặt đạo đức) bây giờ đã, rồi tính chuyện quay về với Chúa sau.” Đó không phải là một cách tính toán khôn ngoan. Về lâu dài, một cuộc sống thực sự tốt đẹp—tức là cuộc sống dựa trên sự thật và lòng chính trực, trên tình yêu thương, lòng trắc ẩn và sự sẻ chia—luôn tốt hơn hẳn một cuộc sống dựa trên sự giả tạo, ích kỷ, tham lam, lối sống hưởng thụ và việc thỏa mãn tức thì mọi khoái lạc.

Và “Ngày Chúa Quang Lâm” có thể sẽ không bao giờ đến trong cuộc đời của một số người trong chúng ta—kéo ​​theo việc mất đi cơ hội quay về với Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống—nhưng cuộc đời của mỗi cá nhân chúng ta chắc chắn sẽ có lúc kết thúc. Những người khôn ngoan nhất là những ai luôn kiên trì tìm kiếm và phục vụ Chúa trong từng khoảnh khắc của mỗi ngày. Họ vừa được tận hưởng niềm hạnh phúc ngay lúc này, vừa nhận ra rằng Chúa Giêsu sẽ không còn là người xa lạ khi Ngài đến để gọi họ về với Ngài. Họ chính là những người vừa trung tín vừa khôn ngoan.

 

https://sacredspace.com/commentary

 

 


TỈNH THỨC CHỜ NGÀY CHÚA ĐẾN

Chúa Giê-su đã đến trần gian để mở cửa Nước Trời cho con người. Ngài là con đường để dẫn đưa con người bước vào trong vinh quang và hạnh phúc viên mãn trên Thiên Quốc. Nước Trời đã xuất hiện ở thế gian này nhưng sự hiện diện của nó chưa trọn vẹn. Vẫn còn cỏ lùng xen lẫn lúa tốt trong cánh đồng của Chúa và người tín hữu được mời gọi hãy vượt qua những cám dỗ, thử thách cho đến ngày Chúa Giê-su Ki-tô trở lại trong vinh quang. Tuy nhiên, chúng ta không biết được giờ phút nào Chúa sẽ đến. Vì thế, một sự tỉnh thức và thái độ sẵn sàng để chờ đợi Ngài luôn là điều cần thiết. Chính Chúa Giê-su đã nhắc nhở chúng ta về điều này trong bài Phúc Âm hôm nay.

Tỉnh thức giúp chúng ta sống một đời sống tốt lành, thánh thiện, noi gương người Thầy chí thánh. Tỉnh thức làm cho chúng ta nhận ra ý Chúa qua Lời Chúa hay trong từng biến cố cuộc đời và giúp chúng ta sống theo thánh ý Ngài. Là người tín hữu, chúng ta không thể sống theo những ý muốn của con người xác thịt, nhưng là sống sao cho xứng với danh hiệu Ki-tô hữu mà chúng ta lãnh nhận qua bí tích Rửa tội. Cuộc sống trần gian luôn đầy những thú vui, lôi cuốn và chúng rất hấp dẫn đối với chúng ta. Tiền bạc, danh lợi, lạc thú… luôn làm cho chúng ta cảm thấy thích và nếu chúng ta không cảnh tỉnh, chúng ta dễ coi chúng là những kho tàng quý giá và sẵn sàng đặt mọi tâm trí của chúng ta vào đó. Như thế, chúng ta được mời gọi hãy tỉnh thức và cố gắng tìm ra đâu là kho tàng thực sự cho cuộc đời mình trong hành trình dương thế nhiều gian nan và chông gai.

Xin Chúa luôn ở bên và nâng đỡ cho chúng ta. Amen.

Lm. Gio-an Trần Văn Viện

 

 


Ngày 27/8: Thánh nữ Mô-ni-ca (332-387)

Lễ nhớ

1. Ghi nhận lịch sử – phụng vụ

Thánh nữ Mônica qua đời tại Ostie gần Roma mùa thu năm 387, lễ kính được ghi vào lịch Roma ngày 4 tháng 5, áp lễ kỷ niệm cuộc trở lại của con là thánh Augustin. Ngày nay lễ được cử hành vào áp trước lễ duy nhất mừng thánh Augustin vào ngày 28 tháng tám.

Thánh nữ Mônica sinh tại Thagaste (Souk-Ahras, Algérie) năm 332 trong một gia đình công giáo. Kết bạn với Patricius, một nghiệp chủ ở Thagaste thương vợ nhưng nóng nảy, bà học cách thương chồng, và cả chịu đựng những chuyện thiếu chung thủy của chồng một cách hiền lành và kiên nhẫn. Bà có với Patricius ba người con: Augustin, Navigius và một người con gái, chết lúc còn làm bề trên nữ tu viện Hippone. Năm 424. Patricius vốn là một người lính viễn chinh Roma ngoại đạo trở thành dự tòng năm 370 và lãnh bí tích thánh tẩy vào năm sau, trên giường bệnh. Ông để lại cho vợ cậu con trai Augustin mười sáu tuổi, đang là dự tòng, nhưng tính tình lộn xộn. Bà đi theo con trai từ Madaure đến Carthage, nhất quyết sống cạnh cậu quí tử sa đọa chứ không xa con vì các sai lạc của cậu. Nhưng bà thất vọng đau đớn khi Augustin sang Italia, về sau bà mới đến được với cậu ở Milan, khi Augustin nhận ghế giáo sư tu từ học và đã được thánh giám mục Ambroise chinh phục cải đạo cho. Phục sinh 387, đêm 24 tháng tư, bà vui mừng được dự lễ rửa tội cho con trai.

Nhưng cũng vào chính cuối năm đó, sau một thời gian sống với con trai và bạn hữu ở Cassiciacum, bà qua đời tuổi mới năm mươi lăm, ở Ostie, bên cạnh Augustin, khi đang chuẩn bị trở về Châu Phi. Xác bà được chôn cất trong chính ngôi nhà nơi bà tắt thở. Với những ai thắc mắc có sợ bỏ xác nơi đất khách quê người không, bà trả lời: “Đối với Chúa, không có gì là xa hay gần, đâu có sợ vào ngày thế mạt Chúa không nhận ra nơi đã phục sinh tôi” (Confessions IX,II)

2. Thông điệp và tính thời sự

Lời nguyện trong ngày nhắc đến “những giọt nước mắt thánh nữ Mônica đổ ra cho sự trở lại của Augustin con trai mình” đã được Chúa đón nhận với lòng yêu thương. Bà đã được yên ủi lần đầu tiên khi nghe những lời tiên báo của vị giám mục ở Thagaste lúc Bà nhờ Người đánh tan các điều lầm lạc của con trai: “Thôi mà … Tôi nói thật đấy, đứa con đã làm bà rơi nhiều nước mắt, không thể hư mất đâu” (Confessions III,12).

Phụng vụ bài đọc dẫn một trang trong sách Tự Thuật nhắc lại những ngày cuối đời của thánh nữ Mônica ở Ostie và cuộc tâm sự với Augustin: “Vậy là chỉ có chúng con nói chuyện với nhau, thật êm đềm. Quên đi quá khứ, nghĩ tới tương lai, chúng con cùng nhau tìm hiểu nơi Đấng chân lý, nghĩa là nơi Chúa, thế là cuộc sống vĩnh cửu của các thánh mà mắt chưa thấy, tai chưa nghe, trái tim không thể hiểu thấu. Tâm hồn chúng con hăm hở mở rộng đón những đợt sóng thiên đình từ nguồn mạch của Ngài, nguồn mạch sự sống trong Ngài”. Cũng trong trích đoạn đó, thánh Augustin kể lại những lời nói cuối cùng của bà mẹ thánh thiện này: “Con ơi, đối với mẹ không còn gì ở trần gian này làm mẹ vui thích. Mẹ còn làm gì ở đây đâu? Sao mẹ còn ở đây? Mẹ không biết. Trông đợi ở đời này đối với mẹ giờ đây đã cạn. Chỉ còn một điều mà mẹ muốn nán lại nơi đời này ít lâu là trước khi mẹ nhắm mắt, được thấy con thành người công giáo; về điều này Chúa đã ban cho mẹ quá hơn mong đợi, vì mẹ thấy giờ đây con đã là tôi tớ Chúa đến độ coi khinh các hoan lạc trần thế. Mẹ còn làm gì ở đây?” (IX,10)

Trong nước mắt và lời cầu nguyện, thánh Mônica đã biết tin tưởng vào Chúa và giao con trai Augustin cho Người. Gương mẫu của bà cho chúng ta thấy rằng muốn đưa một linh hồn về với Chúa, cần hành động một cách hiền từ, tin tưởng và kiên nhẫn, bởi vì Chúa không dập tắt đốm lửa sắp tàn (Is 42,3), Người sẽ can thiệp vào thời điểm của Người.

Enzo Lodi

 

 

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

AUGUST 26, 2026: WEDNESDAY OF THE TWENTY-FIRST WEEK IN ORDINARY TIME

 


August 26, 2026

Wednesday of the Twenty-first Week in Ordinary Time

Lectionary: 427

 

Reading 1

2 Thessalonians 3:6-10, 16-18

We instruct you, brothers and sisters,
in the name of our Lord Jesus Christ,
to shun any brother
who walks in a disorderly way
and not according to the tradition they received from us.
For you know how one must imitate us.
For we did not act in a disorderly way among you,
nor did we eat food received free from anyone.
On the contrary, in toil and drudgery, night and day we worked,
so as not to burden any of you.
Not that we do not have the right.
Rather, we wanted to present ourselves as a model for you,
so that you might imitate us.
In fact, when we were with you, we instructed you that
if anyone was unwilling to work, neither should that one eat.

May the Lord of peace himself
give you peace at all times and in every way.
The Lord be with all of you.

This greeting is in my own hand, Paul’s.
This is the sign in every letter; this is how I write.
The grace of our Lord Jesus Christ be with all of you.

 

Responsorial Psalm

Psalm 128:1-2, 4-5

R. (1) Blessed are those who fear the Lord.
Blessed are you who fear the LORD,
who walk in his ways!
For you shall eat the fruit of your handiwork;
blessed shall you be, and favored.
R. Blessed are those who fear the Lord.
Behold, thus is the man blessed
who fears the LORD.
The LORD bless you from Zion:
may you see the prosperity of Jerusalem
all the days of your life.
R. Blessed are those who fear the Lord.

 

 

Alleluia

1 John 2:5

R. Alleluia, alleluia.
Whoever keeps the word of Christ,
the love of God is truly perfected in him.
R. Alleluia, alleluia.

 

Gospel

Matthew 23:27-32

Jesus said,
“Woe to you, scribes and Pharisees, you hypocrites.
You are like whitewashed tombs, which appear beautiful on the outside,
but inside are full of dead men’s bones and every kind of filth.
Even so, on the outside you appear righteous,
but inside you are filled with hypocrisy and evildoing.

“Woe to you, scribes and Pharisees, you hypocrites.
You build the tombs of the prophets
and adorn the memorials of the righteous, 
and you say, ‘If we had lived in the days of our ancestors,
we would not have joined them in shedding the prophets’ blood.’
Thus you bear witness against yourselves
that you are the children of those who murdered the prophets;
now fill up what your ancestors measured out!”

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/082626.cfm

 


Commentary on 2 Thessalonians 3:6-10,16-18

We have our final reading today from 2 Thessalonians—a short work with only three chapters. The teaching is a warning against people who do not work and do not pull their weight in the community.

It seems that this was partly related to the expectation of the Lord’s imminent second coming among the very early Christians. They believed that Jesus would return while they were still alive. As time passed, this belief receded, and this is reflected in the later books of the New Testament.

If the end of the world was so near, what was the point in killing oneself working? Paul (or the anonymous author of 2 Thessalonians) will have none of that. Paul’s own behaviour is proposed as an example to follow.

Next to the question of the Second Coming, he pays more attention to this related issue than anything else. It seems to have worsened since the earlier letter to the Thessalonians. The Christians are even told to keep away from, and to have nothing to do with, those who will not work. The word Paul uses is strong, an authoritative word with a military ring about it. This would not imply a complete separation from people who were in effect brothers and sisters in Christ, but rather a total refusal to identify with their behaviour. Idleness is sinful and disruptive, but those guilty of it are still brothers. Such behaviour was not at all in accordance with the “traditions” that had been handed on to them.

Instead, the Thessalonians are called on to imitate Paul, to make him their model. The Jerusalem Bible comments:

By imitating Paul, Christians will be imitating Christ, who is himself the one that Paul is imitating. Christians must also imitate God, and they must imitate each other. Behind this community of life is the idea of a model of doctrine, that has been received by tradition. The leaders who transmit the doctrine must themselves be ‘models’, whose faith and life are to be imitated. (edited)

The New International Version makes this comment:

The order in Christian imitation is:

  1. Believers in Macedonia and Achaia imitated the Thessalonians, just as the Thessalonians imitated the churches in Judea;
  2. The Thessalonians imitated Paul, just as the Corinthians did and just as all believers were to imitate their leaders;
  3. Paul imitated Christ as did the Thessalonians;
  4. All were to imitate God. (edited)

In case of any misunderstanding, Paul spells out just what he means. Whenever he was with the Thessalonians, he always worked to support himself, and even paid for the food that he was offered. To “eat…bread” is a Hebraic term for ‘making a living’. Paul, of course, does not say he never accepted hospitality (in fact, he says below that it is the missionary’s right), but that he did not depend on others for his general living. He and his companions worked hard “with toil and labor” so as not to be a burden on any community. (We know from elsewhere that Paul was a tent-maker.) They did this, not because they had no right to expect some material support from those to whom they were preaching, but because they wanted to set a good example which they expected the Thessalonians to follow.

It is another example of Paul’s setting aside a principle—in this case, the community’s duty to support the missionary—for something he believed was more important: that each one pull their weight in the community. (Another example is his refraining from eating certain foods which the scrupulous might regard as ‘unclean’ or in having Timothy, who had a Jewish mother and a Gentile father, circumcised, even though he himself did not believe in the necessity of circumcision.)

Paul had even laid down a ruling with them that food was not to be given to those who refused to work. There was apparently a secular proverb in the form, “He who does not work does not eat”. Paul sets it down as a rule to be followed in the community. He clearly had no time for spongers and social parasites, however exalted their motives.

The reading ends with the final blessing of the letter, a prayer of blessing for peace “at all times in all ways”. He then signs off in his own handwriting. Although he normally dictated his letters (there are hints his sight was poor—was this the “thorn…in the flesh” he speaks about in 2 Cor 12:7-10?), he sometimes added a handwritten signature as a sign of the letter’s genuineness. Here he tells us that this practice was his distinguishing mark. And although he had had words of criticisms for his readers, he concludes with a typical prayer that the loving grace of the Lord Jesus be with them all.

We could perhaps reflect today on our attitudes towards work. On the one hand, there are the ‘workaholics’, those who are compulsive workers, irrespective of the need to do what they are doing, or of the rewards it produces. There are others who work very hard simply to earn more and more, often way beyond the needs of a modestly decent standard of living. In both cases, other personal, family and social needs are neglected and the individual, as a result, can suffer. Paul clearly would not approve of this.

On the other hand, there are those who have a strong aversion to work and who will do all they can to live off others, whether that be their family, friends or the state. Paul would not approve of them either.

There are others who work hard and make significant contributions to society, but whose work cannot always be quantified in monetary or economic terms. Two obvious examples are the full-time parent or the adult caregiver of an aging relative. As well, many of those who work for churches or social service organisations serve as volunteers or agree to accept a token salary. They certainly deserve that their needs (not necessarily all their ‘wants’) be provided by the parish or diocesan community. Surely Paul would give his approval here.

So I need to look at my life and see whether, given my various resources, I make an appropriate contribution to my society:

  • Do I work too much?
  • Do I work enough?
  • Do I work as a service to others? Is that how I see the job or profession I am in?
  • Do I work only for the material reward?
  • Am I sufficiently and appropriately remunerated for the work I do?

 


Commentary on Matthew 23:27-32

We come today to the last two of the seven ‘Woes’ which Jesus throws against Pharisaism.  Again it is an attack on hypocrisy and he gives two examples:

6. …you are like whitewashed tombs… (vv 27-28)

On the one hand he compares the Pharisees to “whited sepulchres” (“whitewashed tombs” in the NRSVue translation), a phrase (like many others) that has found its way into everyday English through the King James version of the Bible. In other words, they are like the tombs that people in Palestine could often see spotlessly clean in their whitewashed stones, but which inside were full of the decaying and rotting bodies of the dead. 

One reason they were whitewashed was because a person who unwittingly stepped on a grave became ritually unclean.  Whitewashing made them more visible, especially in the dark. The Pharisees put on an external show of religious perfection down to the tiniest detail, but inside, their hearts and minds were full of pride and hatred and contempt for their fellow man.  It was epitomised in the story that Jesus told of the Pharisee and the tax collector who went to the Temple to pray.  The sanctimonious prayer of the Pharisee was:

God, I thank you that I am not like other people: thieves, rogues, adulterers, or even like this tax collector.
(Luke 18:11)

It was, of course, to some extent true, but it closed his mind to a different kind of sin altogether—his pride and imagined self-sufficiency.  As Jesus will say in another place, the greatest sin of the pharisaical is their sheer blindness, the inability to see themselves for what they really are. This, I suppose, is the most dangerous sin of the pious in any age, and yet the one least likely to be confessed and repented. And it can happen to any of us.

7. …you build the tombs of the prophets and decorate the graves of the righteous… (vv 29-32)

On the other hand, mention of tombs leads Jesus to comment on the Pharisees’ pride over the tombs they have built in memory of the prophets and other holy people. They congratulate themselves that, if they had been present, they would never have partaken in the actions which brought persecution and death to the prophets.  Yet here is Jesus, the prophet of all prophets, whom they are preparing to kill. 

In the last verse of our reading, Jesus tells them to go ahead and complete the murdering of the prophets, referring to what is going to happen to himself.  This is another classic example of the blindness of the self-righteous. The more committed we are to our Christian faith and to the behaviour that it expects, the greater the danger that we, too, can fall into the same trap and see ourselves on a higher level than others whose behaviour we deplore and perhaps even attack. 

Whole groups of such people have been appearing in recent years, people who claim to know the Church better than the Pope, who still deplore the ‘heresies’ of the Second Vatican Council, or who close themselves off into elitist groups afraid of being contaminated not only by the ‘world’, but even by other Catholics!

 

https://sacredspace.com/commentary

 

 


 

Wednesday, August 26, 2026

Ordinary Time

Opening Prayer

Father, help us to seek the values that will bring us enduring joy in this changing world.

In our desire for what you promise make us one in mind and heart.

We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen.

Gospel Reading - Matthew 23: 27-32

Jesus said: 'Alas for you, scribes and Pharisees, you hypocrites! You are like whitewashed tombs that look handsome on the outside but inside are full of the bones of the dead and every kind of corruption. In just the same way, from the outside you look upright, but inside you are full of hypocrisy and lawlessness. 'Alas for you, scribes and Pharisees, you hypocrites! You build the sepulchres of the prophets and decorate the tombs of the upright, saying, "We would never have joined in shedding the blood of the prophets, had we lived in our ancestors' day." So! Your own evidence tells against you! You are the children of those who murdered the prophets! Very well then, finish off the work that your ancestors began.

Reflection

These two last ‘Alas for you ...’ which Jesus pronounced against the doctors of the law and the Pharisees of his time, take again and strengthen, the same theme of the two ‘Alas for you ...’ of the Gospel of yesterday. Jesus criticizes the lack of coherence between the word and the practice, between what is interior and what is exterior.

           Matthew 23: 27-28: The seventh, ‘Alas for you ...” against those who are like whitewashed tombs. You appear upright on the outside, but inside you are

full of hypocrisy and lawlessness”. The image of “whitewashed sepulchers” speaks for itself and needs no commentaries. Jesus condemns those who have the fictitious appearance of upright persons, but who interiorly are the total negation of what they want to appear outside.

           Matthew 23: 29-32: The eighth ‘Alas for you...’ against those who build the sepulchers of the prophets and decorate the tombs of the upright, but do not imitate them. The doctors and the Pharisees said: “We would never have joined in shedding the blood of the prophets, had we lived in our ancestors’ day”. And Jesus concludes saying: The persons who speak like this “confess that they are children of those who killed the prophets”, then they say “Our fathers”. And Jesus ends saying:” Very well then, finish off the work that your ancestors began!” In fact, at that moment they had already decided to kill Jesus. In this way they were finishing off the work of their ancestors.

Personal Questions

           Still two other expressions, ‘Alas for you...’ but two reasons for being criticized severely by Jesus. Which of these is in me?

           Which image of myself do I try to present to others? Does it correspond, in fact, to what I am before God?

Concluding Prayer

How blessed are all who fear Yahweh, who walk in his ways!

Your own labors will yield you a living, happy and prosperous will you be. (Ps 128: 1-2)

www.ocarm.org

 

26.08.2026: THỨ TƯ TUẦN XXI THƯỜNG NIÊN

 


26/08/2026

Thứ Tư tuần 21 thường niên

 

Bài Ðọc I: (Năm II) 2 Tx 3, 6-10. 16-18

“Nếu ai không muốn làm việc, thì đừng có ăn”.

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.

Anh em thân mến, nhân danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, chúng tôi truyền cho anh em hãy lánh xa khỏi bất cứ người anh em nào sống lười biếng, không theo truyền thống đã nhận lãnh nơi chúng tôi. Vì chưng, chính anh em biết phải noi gương chúng tôi thể nào, bởi chúng tôi đã không lười biếng lúc ở giữa anh em, cũng không ăn bám của ai, nhưng chúng tôi làm lụng khó nhọc vất vả đêm ngày, để không trở nên gánh nặng cho người nào trong anh em. Không phải chúng tôi không có quyền, nhưng là để nêu gương cho anh em, để anh em bắt chước chúng tôi. Bởi vì khi chúng tôi còn ở với anh em, chúng tôi đã truyền dạy anh em rằng: “Nếu ai không muốn làm việc, thì đừng có ăn”.

Nguyện xin Chúa bình an ban cho anh em được bình an luôn mãi trong mọi nơi. Xin Chúa ở cùng tất cả anh em. Chính tay Phaolô này viết lời chào anh em: đó là dấu riêng trong các thư tôi gửi: Tôi viết như vậy đó. Nguyện chúc ân sủng của Chúa chúng ta, là Ðức Giêsu Kitô, ở cùng tất cả anh em! Amen.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 127, 1-2. 4-5

Ðáp: Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa (c. 1a).

Xướng: Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người. Công quả tay bạn làm ra bạn an hưởng, bạn được hạnh phúc và sẽ gặp may.

Xướng: Nguyện xin Thiên Chúa từ Sion chúc phúc cho bạn, để bạn nhìn thấy cảnh thịnh đạt của Giêrusalem, hết mọi ngày trong đời sống của bạn, và để bạn nhìn thấy lũ cháu đàn con.

 

Alleluia: Pl 2, 15-16

Alleluia, alleluia! – Anh em hãy tích trữ lời ban sự sống, anh em hãy chiếu sáng như những vì sao ở giữa thế gian. – Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 23, 27-32

“Các ngươi là con cháu những kẻ đã giết các tiên tri”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: “Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình: vì các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ tốt đẹp, nhưng bên trong đầy xương kẻ chết và mọi thứ dơ nhớp. Các ngươi cũng thế, bên ngoài, các ngươi có vẻ là người công chính, nhưng bên trong, các ngươi đầy sự giả hình và gian ác. Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình, các ngươi xây đắp phần mộ các tiên tri, trang hoàng mồ mả những người công chính, và các ngươi nói rằng: “Nếu chúng tôi sống thời cha ông chúng tôi, ắt chúng tôi không thông đồng với các ngài trong việc đổ máu các tiên tri”. Vì thế, các ngươi tự chứng thực các ngươi là con cháu những kẻ đã giết các tiên tri. Vậy các ngươi cứ đong cho đầy đấu của cha ông các ngươi”.

Ðó là lời Chúa.

 

 


Chú giải về 2 Thê-xa-lô-ni-ca 3,6-10. 16-18

Hôm nay chúng ta có bài đọc cuối cùng từ thư 2 Thê-xa-lô-ni-ca—một tác phẩm ngắn chỉ gồm ba chương. Lời dạy trong thư là một lời cảnh báo nhắm vào những người không chịu làm việc và không gánh vác trách nhiệm chung trong cộng đồng.

Dường như điều này có liên quan một phần đến niềm mong đợi về sự tái lâm sắp đến của Chúa nơi các Kitô hữu thời sơ khai. Họ tin rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại ngay khi họ còn đang sống. Theo thời gian, niềm tin này dần phai nhạt, và điều đó được phản ánh trong các sách viết sau này của Tân Ước.

Nếu ngày tận thế đã cận kề, thì việc lao lực làm việc có ích gì nữa? Thánh Phaolô (hoặc tác giả ẩn danh của thư 2 Thê-xa-lô-ni-ca) hoàn toàn không chấp nhận quan điểm đó. Chính cách sống của Phaolô được đưa ra làm gương mẫu để noi theo.

Bên cạnh vấn đề về sự Tái Lâm, ngài dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề liên quan này hơn bất kỳ điều gì khác. Tình hình dường như đã trở nên tồi tệ hơn so với lúc viết lá thư đầu tiên gửi cho người Thê-xa-lô-ni-ca. Các Kitô hữu thậm chí còn được dặn phải tránh xa và không dính líu gì đến những kẻ không chịu làm việc. Từ ngữ Phaolô sử dụng rất mạnh mẽ, mang tính uy quyền và gợi lên sắc thái quân sự. Điều này không có nghĩa là cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ với những người vốn là anh chị em trong Chúa Kitô, mà đúng hơn là dứt khoát từ chối đồng tình với hành vi của họ. Sự lười biếng là tội lỗi và gây rối loạn, nhưng những người phạm lỗi đó vẫn là anh em. Hành vi như vậy hoàn toàn không phù hợp với những "truyền thống" đã được truyền lại cho họ.

Thay vào đó, người Thê-xa-lô-ni-ca được kêu gọi noi gương Phaolô, coi ngài là mẫu mực. Bản dịch Jerusalem Bible (Kinh Thánh Jerusalem) bình giải rằng:

Khi noi gương Phaolô, các Kitô hữu sẽ noi gương Chúa Kitô, Đấng mà chính Phaolô đang noi gương. Các Kitô hữu cũng phải noi gương Thiên Chúa và noi gương lẫn nhau. Đằng sau nếp sống cộng đoàn này là ý niệm về một khuôn mẫu giáo lý đã được tiếp nhận qua truyền thống. Những người lãnh đạo truyền đạt giáo lý cũng phải là những "tấm gương", mà đức tin và lối sống của họ đáng để người khác noi theo. (đã biên tập)

Bản dịch New International Version (NIV) đưa ra nhận xét sau:

Trình tự trong việc noi gương nơi người Kitô hữu là:

1.            Các tín hữu tại Ma-xê-đô-ni-a và A-khai-a đã noi gương người Thê-xa-lô-ni-ca, cũng như người Thê-xa-lô-ni-ca đã noi gương các hội thánh tại Giu-đê;

 2.           Người Thê-xa-lô-ni-ca đã noi gương Phao-lô, cũng như người Cô-rin-tô và tất cả các tín hữu đều phải noi gương những người lãnh đạo của mình;

3.            Phao-lô noi gương Đấng Ki-tô, và người Thê-xa-lô-ni-ca cũng vậy;

4.            Tất cả mọi người đều phải noi gương Đức Chúa Trời.

Để tránh mọi sự hiểu lầm, Phao-lô giải thích rõ ràng ý định của mình. Mỗi khi ở cùng người Thê-xa-lô-ni-ca, ông luôn làm việc để tự nuôi sống bản thân, thậm chí còn trả tiền cho những bữa ăn mà người khác mời ông. Cụm từ "ăn bánh" là một cách diễn đạt theo lối Do Thái để chỉ việc "kiếm sống". Tất nhiên, Phao-lô không nói rằng ông chưa bao giờ nhận sự tiếp đãi (thực tế, ở phần sau ông khẳng định đó là quyền của nhà truyền giáo), mà ý ông là ông không dựa vào người khác để trang trải cuộc sống thường nhật. Ông cùng các cộng sự đã làm việc vất vả, "nhọc nhằn và khó nhọc", để không trở thành gánh nặng cho bất kỳ cộng đồng nào. (Chúng ta biết từ các nguồn khác rằng Phao-lô làm nghề thợ may lều.) Họ làm như vậy không phải vì họ không có quyền mong đợi sự hỗ trợ vật chất từ ​​những người mà họ đang rao giảng, mà vì họ muốn nêu một tấm gương tốt để người Thê-xa-lô-ni-ca noi theo.

Đây là một ví dụ khác về việc Phao-lô tạm gác lại một nguyên tắc—trong trường hợp này là bổn phận của cộng đồng trong việc hỗ trợ nhà truyền giáo—để ưu tiên cho điều mà ông tin là quan trọng hơn: mỗi người đều phải góp phần gánh vác trách nhiệm trong cộng đồng. (Một ví dụ khác là việc ông kiêng ăn một số loại thực phẩm mà những người có lương tâm nhạy cảm có thể coi là "ô uế", hoặc việc ông cho Ti-mô-thê—người có mẹ là người Do Thái và cha là người ngoại—chịu phép cắt bì, mặc dù chính ông không tin rằng phép cắt bì là điều bắt buộc.)

Phao-lô thậm chí còn đặt ra quy định rằng không được cấp thức ăn cho những ai từ chối làm việc. Dường như đã có một câu tục ngữ thế tục với nội dung: "Ai không làm việc thì không được ăn". Phao-lô đã thiết lập điều này thành một quy tắc cần tuân thủ trong cộng đồng. Rõ ràng là ông không chấp nhận những kẻ ăn bám và những kẻ sống dựa dẫm vào người khác, bất kể động cơ của họ có cao đẹp đến đâu.

Bài đọc kết thúc bằng lời chúc lành cuối thư, một lời cầu xin sự bình an "mọi lúc và bằng mọi cách". Sau đó, ngài tự tay ký tên mình vào thư. Mặc dù thường đọc cho người khác chép lại thư (có những dấu hiệu cho thấy thị lực của ngài kém—liệu đây có phải là "cái dằm... nơi thân xác" mà ngài nhắc đến trong 2 Cô-rin-tô 12,7-10 không?), nhưng đôi khi ngài vẫn thêm chữ ký tay để xác nhận tính xác thực của bức thư. Ở đây, ngài cho chúng ta biết rằng thói quen này là dấu hiệu nhận biết riêng của ngài. Và mặc dù đã có những lời khiển trách dành cho độc giả, ngài vẫn kết thúc bằng một lời cầu nguyện đặc trưng: xin ân sủng đầy yêu thương của Chúa Giê-su ở cùng tất cả họ.

Hôm nay, có lẽ chúng ta nên suy ngẫm về thái độ của mình đối với công việc. Một mặt, có những người "nghiện việc"—những người làm việc một cách cưỡng chế, bất chấp việc liệu công việc đó có thực sự cần thiết hay mang lại lợi ích gì hay không. Lại có những người làm việc cật lực chỉ để kiếm ngày càng nhiều tiền, thường vượt xa mức cần thiết cho một cuộc sống đàng hoàng, giản dị. Trong cả hai trường hợp, các nhu cầu cá nhân, gia đình và xã hội khác đều bị bỏ bê, và hậu quả là chính cá nhân đó phải chịu thiệt thòi. Chắc chắn Phao-lô sẽ không tán thành điều này.

Mặt khác, có những người rất ngại làm việc và tìm mọi cách để sống dựa vào người khác, dù là gia đình, bạn bè hay nhà nước. Phao-lô cũng sẽ không tán thành những người như vậy.

Lại có những người làm việc chăm chỉ và đóng góp đáng kể cho xã hội, nhưng công việc của họ không phải lúc nào cũng có thể đong đếm bằng tiền bạc hay giá trị kinh tế. Hai ví dụ điển hình là người cha hoặc người mẹ dành toàn thời gian chăm sóc gia đình, hay người trưởng thành chăm sóc người thân đang già yếu. Ngoài ra, nhiều người làm việc cho các nhà thờ hoặc tổ chức dịch vụ xã hội thường phục vụ với tư cách tình nguyện viên hoặc chỉ nhận một khoản thù lao tượng trưng. Họ hoàn toàn xứng đáng được giáo xứ hoặc cộng đồng giáo phận chu cấp cho các nhu cầu thiết yếu (không nhất thiết là mọi "mong muốn" của họ). Chắc chắn Phao-lô sẽ tán thành điều này.

Vì vậy, tôi cần nhìn lại cuộc sống của mình và xem liệu với những nguồn lực sẵn có, tôi có đang đóng góp một cách thích hợp cho xã hội hay không:

             Tôi có đang làm việc quá nhiều không?

             Tôi có đang làm việc đủ mức cần thiết không?

             Tôi có làm việc như một sự phục vụ người khác không? Đó có phải là cách tôi nhìn nhận công việc hay nghề nghiệp hiện tại của mình không?

             Tôi có làm việc chỉ vì lợi ích vật chất không?

             Tôi có được thù lao thỏa đáng và xứng đáng cho công việc mình làm không?

 

 


Chú giải về Mát-thêu 23,27-32

Hôm nay, chúng ta đi đến hai lời "Khốn cho các ngươi" cuối cùng trong số bảy lời quở trách mà Chúa Giê-su dành cho tinh thần Pha-ri-sêu. Một lần nữa, đây là sự lên án thói đạo đức giả, và Ngài đưa ra hai ví dụ:

6. …các ngươi giống như những ngôi mộ được quét vôi trắng… (câu 27-28)

Một mặt, Ngài ví những người Pha-ri-sêu như những "ngôi mộ quét vôi trắng" (hay "mồ mả quét vôi" trong bản dịch NRSVue)—một cụm từ (giống như nhiều cụm từ khác) đã đi vào ngôn ngữ Anh thường ngày thông qua bản Kinh Thánh King James. Nói cách khác, họ giống như những ngôi mộ mà người dân Palestine thường thấy sạch sẽ tinh tươm với lớp đá quét vôi trắng bên ngoài, nhưng bên trong lại chứa đầy xác chết đang phân hủy và thối rữa.

Một lý do khiến các ngôi mộ được quét vôi trắng là vì bất kỳ ai vô tình giẫm phải mộ sẽ bị coi là ô uế theo luật lệ tôn giáo. Việc quét vôi giúp người ta dễ dàng nhận biết vị trí ngôi mộ, đặc biệt là trong bóng tối. Những người Pha-ri-sêu luôn phô trương vẻ ngoài hoàn hảo về mặt tôn giáo đến từng chi tiết nhỏ nhất, nhưng bên trong, lòng trí họ lại chứa đầy sự kiêu ngạo, lòng căm thù và thái độ khinh miệt đồng loại. Điều này được thể hiện rõ nét qua câu chuyện Chúa Giê-su kể về người Pha-ri-sêu và người thu thuế cùng lên Đền thờ cầu nguyện. Lời cầu nguyện đầy vẻ tự phụ của người Pha-ri-sêu là:

Lạy Đức Chúa Trời, con tạ ơn Ngài vì con không giống như những người khác: kẻ trộm cướp, kẻ bất chính, kẻ ngoại tình, hay thậm chí là giống như người thu thuế này. (Lu-ca 18,11)

Tất nhiên, lời nói đó có phần đúng sự thật, nhưng nó lại khiến tâm trí ông ta mù quáng trước một loại tội lỗi hoàn toàn khác—đó là sự kiêu ngạo và ảo tưởng rằng mình đã đủ tốt lành. Như Chúa Giê-su từng nói ở một chỗ khác, tội lỗi lớn nhất của những người mang tinh thần Pha-ri-sêu chính là sự mù quáng hoàn toàn, là việc không thể nhìn thấy con người thật của chính mình. Tôi cho rằng đây là tội lỗi nguy hiểm nhất đối với những người sùng đạo ở bất kỳ thời đại nào, nhưng lại là tội ít được xưng nhận và ăn năn nhất. Và điều này có thể xảy ra với bất kỳ ai trong chúng ta.

 7. …các ngươi xây lăng mộ cho các ngôn sứ và trang hoàng phần mộ của những người công chính… (các câu 29-32)

Mặt khác, việc nhắc đến các lăng mộ đã dẫn Chúa Giêsu đến chỗ nhận xét về sự kiêu ngạo của người Pharisêu đối với những ngôi mộ mà họ đã xây dựng để tưởng nhớ các ngôn sứ và những bậc thánh nhân khác. Họ tự mãn cho rằng, nếu được sống vào thời đó, họ sẽ không bao giờ nhúng tay vào những hành động gây ra sự bách hại và cái chết cho các ngôn sứ. Thế nhưng, ngay lúc này đây, chính Chúa Giêsu – Đấng ngôn sứ của mọi ngôn sứ – lại đang là người mà họ toan tính giết hại.

Trong câu cuối của đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu bảo họ cứ việc hoàn tất công việc sát hại các ngôn sứ, qua đó ám chỉ đến những gì sắp xảy ra cho chính Ngài. Đây lại là một ví dụ điển hình cho sự mù quáng của những kẻ tự cho mình là công chính. Chúng ta càng gắn bó với đức tin Kitô giáo và những chuẩn mực hành xử mà đức tin ấy đòi hỏi, thì nguy cơ chúng ta sa vào cùng một cái bẫy ấy lại càng lớn; khi đó, ta tự coi mình ở đẳng cấp cao hơn những người khác – những người mà ta chê trách hành vi, thậm chí công kích gay gắt.

Những năm gần đây đã xuất hiện nhiều nhóm người như thế: những kẻ tự cho mình am hiểu Giáo hội hơn cả Đức Giáo hoàng, những người vẫn lên án các "lạc thuyết" của Công đồng Vatican II, hay những người tự khép mình vào các nhóm "tinh hoa" vì sợ bị vấy bẩn – không chỉ bởi "thế gian", mà thậm chí bởi cả những người Công giáo khác!

 

https://sacredspace.com/commentary

 

 


Suy niệm: Xét lại đời sống mình

Lời trách của Chúa Giêsu gọi các văn sĩ và những người biệt phái Pharisiêu sống giả hình như những mả tô vôi thật là rõ ràng và thức tỉnh chúng ta hãy xét lại đời sống của mình. Tục lệ của dân Do Thái Palestine thời Chúa Giêsu là sơn mồ mả bằng màu vôi trắng để cho người khác dù ở xa cũng có thể nhận ra dễ dàng và dừng lại đàng xa để khỏi bị nhiễm ô uế.

Hình ảnh cái mả tô vôi trắng làm cho mỗi người chúng ta hiểu sâu xa hơn về sự giả hình. Giả hình là một thái độ gán cho mình điều tốt mà thật ra mình không có hay không làm. Bên ngoài chúng ta chứng tỏ mình là người tuân giữ luật Chúa nhưng bên trong tâm hồn thì lại tích chứa những điều xấu xa không như là những mệnh lệnh của Chúa đòi hỏi.

Nhìn về kinh nghiệm sống của mình, chúng ta có thể cảm nghiệm được tầm mức của những lời kết án của Chúa không phải như là chuyện đã qua của thời quá khứ nhưng có liên quan đến mỗi người chúng ta hôm nay, chúng ta có che giấu những tội lỗi tật xấu của mình bằng những tấm kịch cho qua lúc. Chỉ có phương thế duy nhất để tránh những lời kết án trên của Chúa là sự thật lòng ăn năn trở lại, là khiêm tốn và can đảm bỏ đi những mặt nạ mà chúng ta quen mang từ trước đến nay. Chúng ta đừng trở thành những người chỉ có danh hiệu là Kitô mà kỳ thực là những con người xa lìa Chúa. Chúng ta đừng sống theo ảo tưởng của những lời khen tặng của kẻ khác mà tưởng mình là kẻ chi chi, nhưng hãy ý thức rõ về thân phận tội lỗi của mình và khiêm tốn xin Chúa thứ tha.

Lạy Cha,

Chúng con chúc tụng Cha, Ðấng ngự trên trời, vì đã giải thoát chúng con khỏi làm nô lệ cho tội lỗi và sự chết nhờ qua cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, Con Cha. Xin Cha hãy đổ tràn ân sủng tình yêu của Cha trong tâm hồn chúng con ngõ hầu chúng con biết đáp lại những ơn soi sáng của Cha một cách chân thành.

Lạy Cha, xin giải thoát chúng con khỏi sự giả hình.

(‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

 

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

AUGUST 25, 2026: TUESDAY OF THE TWENTY-FIRST WEEK IN ORDINARY TIME

 


August 25, 2026

Tuesday of the Twenty-first Week in Ordinary Time

Lectionary: 426

 

Reading 1

2 Thessalonians 2:1-3a, 14-17

We ask you, brothers and sisters,
with regard to the coming of our Lord Jesus Christ
and our assembling with him,
not to be shaken out of your minds suddenly,
or to be alarmed either by a “spirit,” or by an oral statement,
or by a letter allegedly from us
to the effect that the day of the Lord is at hand.
Let no one deceive you in any way.

To this end he has also called you through our Gospel
to possess the glory of our Lord Jesus Christ.
Therefore, brothers and sisters, stand firm
and hold fast to the traditions that you were taught,
either by an oral statement or by a letter of ours.

May our Lord Jesus Christ himself and God our Father,
who has loved us and given us everlasting encouragement
and good hope through his grace,
encourage your hearts and strengthen them
in every good deed and word.
 

Responsorial Psalm

Psalm 96:10, 11-12, 13

R. (13b) The Lord comes to judge the earth.
Say among the nations: The LORD is king.
He has made the world firm, not to be moved;
he governs the peoples with equity.
R. The Lord comes to judge the earth.
Let the heavens be glad and the earth rejoice;
let the sea and what fills it resound;
let the plains be joyful and all that is in them!
Then shall all the trees of the forest exult.
R. The Lord comes to judge the earth.
Before the LORD, for he comes;
for he comes to rule the earth.
He shall rule the world with justice
and the peoples with his constancy.
R. The Lord comes to judge the earth.

 

 

Alleluia

Hebrews 4:12

R. Alleluia, alleluia.
The word of God is living and effective,
able to discern reflections and thoughts of the heart.
R. Alleluia, alleluia.

 

Gospel

Matthew 23:23-26

Jesus said:
“Woe to you, scribes and Pharisees, you hypocrites.
You pay tithes of mint and dill and cummin,
and have neglected the weightier things of the law:
judgment and mercy and fidelity.
But these you should have done, without neglecting the others.
Blind guides, who strain out the gnat and swallow the camel!“Woe to you, scribes and Pharisees, you hypocrites.
You cleanse the outside of cup and dish,
but inside they are full of plunder and self-indulgence.
Blind Pharisee, cleanse first the inside of the cup,
so that the outside also may be clean.”

 

https://bible.usccb.org/bible/readings/082526.cfm

 

 


Commentary on 2 Thessalonians 2:1-3,14-17

In the First Letter to the Thessalonians (the earliest extant letter of Paul that we have), Paul seemed to be saying that the second and final coming of the Lord was imminent, although he was careful not to specify a particular time.

Apparently replying to further questions, Paul (or the actual author) in this second letter does not repeat all that was said in the first letter about what would happen to the living and the dead. What is being written here is supplementary to Paul’s oral teaching and the instructions contained in the earlier letter. All he is concerned with is to emphasise that the Lord’s final coming is not imminent, and that it cannot take place till certain specific signs have preceded it.

Although the Second Coming and its prelude is a major theme of this letter, Paul warns the Christians:

…not to be quickly shaken in mind or alarmed, either by spirit or by word or by letter, as though from us, to the effect that the day of the Lord is already here.

In other words, they are not to be alarmed by predictions (false prophecies), rumours or spurious letters supposed to have come from Paul suggesting that the “day of the Lord” is already on them.

“Shaken in mind” translates a verb often used of a ship adrift from its moorings and suggests a lack of stability. Here it suggests a kind of panic at the supposed imminence of the Lord’s coming. The Christians are not to be deceived by such false alarms.

The expression “the day of the Lord” comes originally from the prophet Amos (5:18). In the Old Testament, it is a time when God will come and intervene with judgement and/or blessing. In the New Testament, the thought of judgement continues, but it is also the ‘day of redemption’, the ‘day of God’, or of Christ, and the ‘last day’, the ‘great day’ or simply ‘the day’. It is the climax of all things. There will be some preliminary signs, but the coming will be as unexpected as that of “a thief in the night”.

In the second and final part of the reading, the author reminds the Christians to focus on the gospel which has been preached to them and which has as its final purpose a sharing in the glory of Jesus Christ as Lord:

[Jesus] called you through our gospel, so that you may obtain the glory of our Lord Jesus Christ.

“Our gospel” is the gospel preached by Paul, Silas and Timothy, that they themselves had received by faith. It is, of course, first of all God the Father’s because it originates from him, and Christ’s because it springs from his sacrificial death.

Let the Christians forget about worrying when this sharing in glory will actually take place, and concentrate on living out the “traditions”, i.e. the teachings which they had received from Paul and the other Apostles, either orally or in writing. This refers to what Paul taught them when he was in Thessalonica. Since he returned from there, what he had written to them includes, in the message of the Good News, the principles on which a Christian should lead his life.

Until the New Testament took its final form, essential Christian teaching was passed on in the ‘traditions’ (a word which comes from the Latin ‘to hand on’ or ‘hand over’), just as rabbinic law was, and it could be either oral or written. The four Gospels which we have now are basically built up from such written and oral ‘traditions’.

The passage ends with a lovely Pauline prayer, very similar to one in the same place in the first letter and which also includes the words “encourage” and “strengthen” (1 Thess 3:11-13). The prayer is for inner strength that will produce results in both action and speech. It is a prayer we could say often for each other and for all those we know and love (or especially for those we find it difficult to love):

Now may our Lord Jesus Christ himself
and God our Father, who loved us and through grace
gave us eternal comfort and good hope
comfort your hearts and strengthen them
in every good work and word.

At every age in the Church’s history, including our own, there are people who are convinced that the ‘end of the world is nigh’ and that Christ is coming in Judgement at any moment. Certain key periods, such as the end of a century or, even more, the end of a millennium, have produced a veritable rash of such warnings. So far, they have never proved accurate.

We would be better off listening to the advice of today’s letter and focusing our energies on living out the gospel each and every day in truth and love. This is the best possible preparation we can make for that time which will come “like a thief in the night”.

And, as has been said more than once in these reflections, a much more realistic end for us to consider is that of our own life than that of the universe or our planet. In either case, however, the recommended advice is the same: live the gospel day in and day out and the rest will take care of itself.

Comments Off

 


Commentary on Matthew 23:23-26

We continue our reading of the ‘Seven Woes’ listed in the commentary from Monday of Week 21. Today’s reading contains the fourth and fifth ‘woes’.

4. …you tithe mint, dill and cumin… (vv 23-24)

In continuing his attack on Pharisaism, Jesus touches on two issues which are certainly relevant to our Christian living today. First, he attacks the mentality of those who are sticklers for tiny details of ritual or doctrine while ignoring the fundamental issues of justice, compassion and good faith. The Mosaic Law levied a tithe on agricultural produce. Some rabbis scrupulously applied the law to the most insignificant of plants.

A strict Pharisee too would carefully filter his drinking water in case he might swallow a small insect, which would be regarded as unclean. But in being so careful of such minutiae, he might well overlook matters of much deeper importance. Jesus is not criticising a conscientious carrying out of rules and regulations, but it is the attitude of hypocritical moral superiority which he attacks.

One can meet Catholics too who tie themselves in knots trying to observe the most petty regulations and can end up becoming the prisoner of scruples. What is more, they can be highly critical of others whom they regard as ‘lax’. An example might be people who are more worried about not having observed a full 60 minutes of fast before Communion than focusing on what the wider implications of participating in the Eucharist really mean.

5. …you clean the outside of the cup and of the plate… (vv 25-26)

The second point that Jesus makes is to criticise those who concentrate on the tiniest details of external behaviour while totally ignoring the inner spirit. There are certain Christians who speak and write at length about all the things that are not being done right in the liturgy of the Catholic Church, and who claim for themselves a level of doctrinal and moral orthodoxy to which even Rome does not attain. Sometimes even the Pope does not come up to their expectations.

What is striking about these people is the almost total absence of a sense of love and compassion in their writings and actions. They are only interested in ‘truth’ and ‘orthodoxy’, as if these things could exist outside of the nitty-gritty of human living. They can be more concerned about the tiniest rubrical details of the liturgy than about the Eucharist as truly a sacrament of a loving community prayerfully centred on the Person of Christ.

On the outside, the behaviour is impeccable, but inside there is a total lack of a true gospel spirit—the spirit of love and integrity, of compassion and a sense of justice for all. Instead, there can be a heart full of self-righteousness, criticism, anger, resentment or contempt for those who do not think the same, all cloaked in this outer veneer of moral and ritual rectitude.

The two attitudes are closely related and all of us can be touched by them in one degree or another. Let him or her who has never criticised another fellow-Christian cast the first stone!

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/

 

 


Tuesday, August 25, 2026

Ordinary Time

Opening Prayer

Father, help us to seek the values that will bring us enduring joy in this changing world. 

In our desire for what You promise make us one in mind and heart. 

We ask this through our Lord Jesus Christ, Your Son, who lives and reigns with You and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen.

Gospel Reading - Matthew 23: 23-26

Jesus said: "Woe to you, scribes and Pharisees, you hypocrites. You pay tithes of mint and dill and cumin, and have neglected the weightier things of the law: judgment and mercy and fidelity. But these you should have done, without neglecting the others. Blind guides, who strain out the gnat and swallow the camel! "Woe to you, scribes and Pharisees, you hypocrites. You cleanse the outside of cup and dish, but inside they are full of plunder and self-indulgence. Blind Pharisee, cleanse first the inside of the cup, so that the outside also may be clean."

Reflection

The Gospel today presents two other times when this expression is used: “Alas for you...” Jesus speaks against the religious leaders of His time. The two uses today denounce the lack of coherence between word and attitude, between exterior and interior. Today we continue our reflection which we began yesterday.

           Matthew 23: 23-24: The fifth “Alas for you...” is against those who insist on observance and forget mercy. “You pay your tithe of mint and dill and cumin and have neglected the weightier matters of the law: justice, mercy and fidelity.” This fifth “Alas for you...” of Jesus is against the religious leaders of that time and can be repeated against many religious of the following century even up to our time. Many times, in the name of Jesus, we insist on details and forget mercy. For example, Jansenism reduces lived faith to something arid, insisting on the observance and penance which led people away from the way of love. The Carmelite Saint Therese of Lisieux grew in the Jansenist environment which marked France at the end of the XIX century. Beginning from a personal painful experience, she learned how to reclaim the gratuitous of love of God, a force which should animate the observance of the norms from within, because, without love, the observance makes an idol of God.

           Matthew 23: 25-26: The sixth “Alas for you...” is against those who clean things on the outside and are dirty inside. “You clean the outside of the cup and dish and leave the inside full of extortion and intemperance.” In the Sermon on the Mount, Jesus criticizes those who observe the letter of the law and transgress the spirit of the law. He says, "You have heard how it was said to our ancestors, ‘You shall not kill, and if anyone does kill he must answer for it before the court.’ But I say to you anyone who is angry with his brother will answer for it before the court. Anyone who calls his brother ‘fool’ will answer for it before the Sanhedrin; and anyone who calls him ‘traitor’ will answer for it in hell fire. You have heard that it was said, ‘You shall not commit adultery,’ but I say this to you, if a man looks at a woman lustfully, he has already committed adultery with her in his heart” (Mt 5: 21-22, 27-28). It is not enough to observe the letter of the Law. It is not sufficient not to kill, not to rob, not to commit adultery, not to swear in order to be faithful to what God asks of us. The one who observes fully the law of God is the one who, besides observing the letter, goes deeply to the root and pulls out from within “the desires of extortion and intemperance” which may lead to murder, theft, and adultery. The fullness of the law is realized in the practice of love.

Personal Questions

           There are two declarations of “Alas for you...”, two reasons to receive criticism from Jesus. Which of these two applies to me?

           Observance and gratuity: Which of these applies to me?

           Do these admonitions paint for me a bigger picture of not only avoiding sin, but of internal purification and a life of virtue?

Concluding Prayer

Proclaim God’s salvation day after day, declare His glory among the nations, His marvels to every people! (Ps 96: 2-3)

www.ocarm.org