Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

25-05-2017 : THỨ NĂM - TUẦN VI PHỤC SINH

25/05/2017
Thứ Năm tuần 6 Phục Sinh


Bài Ðọc I: Cv 18, 1-8
"Ngài cư trú và làm việc tại nhà họ, và giảng trong hội đường".
Trích sách Tông đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, Phaolô rời Athêna đi Côrintô; ngài gặp một người Do-thái tên là Aquila, quê ở Pontô, vừa từ đất Ý-đại-lợi đến làm một với vợ là Priscilla (bởi vì vua Clauđiô đã ra lệnh trục xuất mọi người Do-thái khỏi Roma); Phaolô đến gặp họ. Và vì chung một nghề, nên ngài cư trú và làm việc tại nhà họ: họ làm nghề dệt bố để làm nhà lều. Mỗi ngày Sabbat, ngài đến tranh luận tại hội đường, nêu danh Chúa Giêsu, thuyết phục người Do-thái và Hy-lạp.
Khi Sila và Timôthêu từ Macêđônia đến, Phaolô chỉ chuyên lo việc giảng dạy, minh chứng cho người Do-thái biết Chúa Giêsu là Ðức Kitô. Nhưng họ công kích và lăng mạ Ngài, nên ngài dũ áo nói với họ: "Máu các ngươi đổ trên đầu các ngươi. Phần tôi, tôi vô can, từ đây, tôi sẽ đến với dân ngoại".
Ngài ra khỏi chỗ đó, vào nhà một người kia tên là Titô Giustô có lòng kính sợ Chúa, nhà ông ở bên cạnh hội đường. Bấy giờ Crispô trưởng hội đường, và cả nhà ông tin theo Chúa; nhiều người Corintô nghe giảng, cũng tin theo và chịu phép rửa.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 97, 1. 2-3ab. 3cd-4
Ðáp: Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người trước mặt chư dân (c. 2b).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người. - Ðáp.
2) Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người, trước mặt chư dân, Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel. - Ðáp.
3) Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca. - Ðáp.

Alleluia: Ga 16, 28
Alleluia, alleluia! - Thầy bởi Cha mà ra, và đã đến trong thế gian; bây giờ Thầy lại bỏ thế gian mà về cùng Cha. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 16, 16-20
"Các con sẽ buồn sầu, nhưng nỗi buồn của các con sẽ trở thành niềm vui".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Một ít nữa các con sẽ không thấy Thầy, rồi lại một ít nữa các con sẽ thấy Thầy, vì Thầy về cùng Cha".
Bấy giờ trong các môn đệ có mấy người hỏi nhau: "Ðiều Người nói với chúng ta: "Một ít nữa các con sẽ không thấy Thầy, rồi lại một ít nữa các con sẽ thấy Thầy", và "Vì Thầy về cùng Cha", như thế có ý nghĩa gì?" Họ nói: "Lời Người nói 'Một ít nữa' có ý nghĩa gì? Chúng ta không biết Người muốn nói gì?"
Chúa Giêsu nhận thấy họ muốn hỏi Người, nên Người bảo họ: "Các con hỏi nhau vì Thầy đã nói: Một ít nữa các con sẽ không thấy Thầy, rồi lại một ít nữa các con sẽ thấy Thầy. Thật, Thầy bảo thật với các con: các con sẽ than van khóc lóc, còn thế gian sẽ vui mừng. Các con sẽ buồn sầu; nhưng nỗi buồn của các con sẽ trở thành niềm vui".
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm:
Trình thuật Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đặt ra cho chúng ta một thách đố và là một thực tế phải đối diện. Cuộc sống trần thế này không thể không có thử thách và đời sống đạo không thể không có những đêm tối đức tin, và một cách nào đó không thiếu những lần chúng ta cảm thấy cô đơn thất bại vì như vắng bóng Chúa.
"Ít lâu nữa, anh em sẽ không trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy".20 Thật, Thầy bảo thật anh em: anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui” (Ga 16,19-20).
Đây không chỉ là lời tiên báo mà còn là một lời khẳng định thực tế cho phận người theo Chúa Giêsu: Lời này của Chúa Giêsu vừa ám chỉ tương lai gần khi nói đến cuộc tử nạn của Người và Người sẽ sống lại, nhưng cũng vừa ám chỉ cuộc lữ hành đức tin của Kitô hữu chờ đợi gặp Chúa Giêsu trên cõi trời. Đồng thời cũng nói đến thực tế của mỗi một con người trong cảm nghiệm cuộc đời, khi thơ thới hân hoan, lúc buồn đau thất vọng.
Để đạt tới đức tin trưởng thành, mọi tín hữu cần nếm qua cái chua xót thiếu vắng Chúa trong thời gian có thể dài hoặc ngắn: "Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy". Các môn đệ Chúa Giêsu đã kinh nghiệm điều này lần đầu tiên vào giờ Tử nạn của Người; sau đó họ đã thấy Người từ cõi chết sống lại. Điều này ứng nghiệm tỏ tường vào ngày tận thế, khi các tín hữu khám phá ra Chúa Kitô vinh hiển mà họ đã từng chờ đợi trong đức tin.
Không nên quá tự tin khi Chúa cho chúng ta cảm nhận được sự hiện diện của Người, chẳng hạn khi mới theo đạo, hoặc khi chúng ta đón nhận được những ân huệ nào đó, hay khi đời sống đạo gặp lúc thịnh vượng êm xuôi… Khi mọi sự có vẻ dễ dàng, chúng ta đừng coi khinh những ai có vẻ không được Chúa chiều chuộng như chúng ta. Biết đâu “ít lâu nữa” Chúa sẽ để chúng ta sống trong tăm tối. Trong cuộc lữ hành trần thế có những lúc như phải bước đi trong đêm tối, nhưng đó lại là một sự tinh luyện con người, để đạt tới sự trưởng thành đức tin và lòng yêu mến Thiên Chúa. Chỉ có ai kiên trì trong đường lối Chúa mới hưởng được niềm vui trọn vẹn khi Chúa xuất hiện.

Lạy Chúa Giêsu, cuộc đời chúng con có những lúc hạnh phúc bình an, nhưng cũng không thiếu những lần chúng con cảm thấy cô đơn thất bại như vắng bóng Chúa. Xin cho chúng con luôn nhớ đến lời Chúa đã nói trong Tin Mừng hôm nay, mà vững niềm trông cậy vào Chúa, hầu mai ngày chúng con xứng đáng sẽ lại được gặp Chúa nhãn tiền trong nước Chúa, nơi có niềm vui trọn vẹn và vĩnh hằng. Amen

Hiền Lâm, O.Cist.




Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Năm Tuần VI PS
Bài đọc: Acts 18:1-8: Jn 16:16-20.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Cuộc sống thay đổi.
Heraclitus, một triết gia Hy-lạp đã nói: "Không ai bước xuống hai lần trong cùng một giòng sông;" vì nước sông một người bước xuống lần trước khác với nước sông bước xuống lần thứ hai. Cuộc đời mỗi người cũng thế, những gì xảy ra ngày hôm nay khác với những gì đã xảy ra ngày hôm qua, và cũng khác với những gì sẽ xảy ra ngày mai. Ngày nào đều có sự vui tươi cũng như sự khốn khó của ngày ấy. Cuộc đời của mỗi người được dệt bằng một chuỗi những mắt xích nhỏ, là những biến cố xảy ra mỗi ngày. Điều cần thiết là con người phải biết học hỏi từ những biến cố đã và đang xảy ra, để biết cách đối phó với những gì sẽ xảy đến.
Các Bài Đọc hôm nay giúp chúng ta nhận ra cách cư xử của Phaolô và sự dạy dỗ của Đức Kitô trước những thay đổi của cuộc sống. Trong Bài Đọc I, Phaolô từ Athens, trung tâm văn hóa của Hy-Lạp, đến Corintô sinh sống bằng nghề chế lều; mỗi ngày Sabbath, ông đều vào hội đường để rao giảng. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu báo trước những gì sẽ xảy ra cho Ngài và cho các môn đệ. Mục đích là để giúp các ông biết cách chuẩn bị và đối phó với những gì sắp xảy ra.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Phaolô rời Athens và rao giảng Tin Mừng tại Corintô.
1.1/ Phaolô vừa làm việc để sinh sống vừa rao giảng Tin Mừng mỗi ngày Sabbath: Hành trình thứ hai là hành trình dài và lâu nhất trong 3 cuộc hành trình rao giảng Tin Mừng của Phaolô. Ông gặp nhiều thành công cũng như thất bại, được chấp nhận cũng như bị từ chối, có lúc an bình và có lúc sóng gió. Trình thuật hôm nay tường thuật những gì xảy ra khi ông bỏ Athens đến Corintô: "Tại đây, ông gặp một người Do-thái tên là Aquila, quê ở Pontus, vừa mới từ Italy đến, cùng với vợ là Priscilla, vì hoàng đế Claudio đã ra lệnh cho mọi người Do-thái phải rời Rôma. Ông Phaolô đến thăm hai ông bà, và vì cùng nghề, nên ông ở lại nhà họ và cùng làm việc: họ làm nghề chế lều. Mỗi ngày Sabbath, ông thảo luận tại hội đường, cố thuyết phục cả người Do-thái lẫn người Hy-lạp." Nghề chế lều là nghề cũ của Phaolô trước khi trở lại, chúng ta ngạc nhiên khi Phaolô trở về nghề cũ để sinh sống thay vì dùng toàn thời gian để rao giảng Tin Mừng; nhưng điều này có thể hiểu được, vì Giáo Hội sơ khai chưa có những trợ giúp cụ thể cho những nhà truyền giáo. Phaolô phải tự kiếm kế sinh nhai, nhất là khi mới chân ướt chân ráo đến những thành phố mới.
1.2/ Phản ứng của dân thành Corintô: Khi ông Silas và ông Timothy từ Macedonia xuống, thì ông Phaolô chỉ lo giảng, long trọng làm chứng cho người Do-thái biết rằng Đức Giêsu chính là Đấng Kitô.
(1) Những người từ chối không tin: Đa số là những người Do-thái. Bởi họ chống đối và nói lộng ngôn, nên ông giũ áo mà bảo họ: "Máu các người cứ đổ xuống trên đầu các người! Phần tôi, tôi vô can; từ nay trở đi, tôi sẽ đến với người ngoại." Mặc dù Phaolô được trao sứ vụ đặc biệt là rao giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại, ông vẫn tìm dịp rao giảng Tin Mừng cho những người Do-thái, vì ông quan tâm đến phần rỗi linh hồn của họ; nhưng không có nhiều kết quả.
(2) Phaolô quay sang giảng cho Dân Ngoại và thu lượm nhiều kết quả: Thất vọng về sự cứng lòng và chống đối từ người đồng hương, "Ông rời bỏ chỗ ấy đến nhà một người ngoại tôn thờ Thiên Chúa, tên là Titius Justus, ở sát bên hội đường. Ông Crispus, trưởng hội đường, tin Chúa, cùng với cả nhà. Nhiều người Corintô đã nghe ông Phaolô giảng cũng tin theo và chịu phép rửa."
2/ Phúc Âm: Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.
2.1/ Các môn đệ không thể hiểu Chúa Giêsu biết trước mọi sự sẽ xảy ra: Khi các môn đệ nghe Chúa Giêsu tuyên bố: "Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy;" vài người trong nhóm môn đệ của Đức Giêsu hỏi nhau: "Người muốn nói gì khi bảo chúng ta: "Ít lâu nữa, anh em sẽ không trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy" và "Thầy đến cùng Chúa Cha?" Vậy các ông nói: ""Ít lâu nữa" nghĩa là gì? Chúng ta không hiểu Người nói gì!"
Đối với chúng ta, những người đã đọc Cuộc Thương Khó, cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu, đoạn văn trên không có gì khó hiểu; nhưng đối với các môn đệ trước Cuộc Thương Khó, có ít nhất ba điều các môn đệ không thể hiểu:
(1) Các ông không thể hiểu một người biết rõ ngày chết và cách chết của mình, ngoại người tự kết liễu đời mình, như người Do-thái nghĩ về Chúa Giêsu (Jn 8:21-22).
(2) Các ông càng không hiểu một người biết trước mình sẽ sống lại. Truyền thống Do-thái không tin có sự sống lại như Nhóm Sadducees, hay quan niệm sống lại chỉ có trong Ngày Phán Xét (Jn 11:24). Các ông không ngờ Chúa sống lại chỉ ít ngày sau khi chết.
(3) Các ông cũng không hiểu lời Chúa nói "Thầy đến cùng Chúa Cha" có nghĩa gì; vì các ông chưa hoàn toàn tin tưởng mối liên hệ giữa Chúa Giêsu và Thiên Chúa.
2.2/ Phản ứng của con người trước Cuộc Thương Khó của Đức Kitô: Đức Giêsu biết là các ông muốn hỏi mình, nên bảo các ông: "Anh em bàn luận với nhau về lời Thầy nói: "Ít lâu nữa, anh em sẽ không trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy." Rồi Chúa Giêsu cắt nghĩa thêm cho các ông hiểu: "Thật, Thầy bảo thật anh em: anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui."
(1) Các môn đệ sẽ buồn sầu và than khóc về sự đau khổ, cái chết, và sự vắng mặt của Chúa Giêsu trong cuộc đời các ông; nhưng khi thấy Ngài sống lại và hiện đến, những nỗi lo lắng và buồn sầu sẽ biến thành hy vọng và niềm vui. Trong cuộc sống của người Kitô hữu cũng thế: Có những lúc họ sẽ cảm thấy việc theo Chúa đòi hỏi quá nhiều cố gắng và hy sinh, khi bị cám dỗ về những thú vui thế trần; nhưng sẽ tới ngày những cố gắng và hy sinh của họ sẽ đơm bông kết trái, và họ sẽ tìm thấy niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu.
(2) Thế gian sẽ vui mừng: Thế gian được hiểu ở đây là những người chống lại Thiên Chúa, kết án, và giết Người Con Một của Ngài; một cách cụ thể là những người trong Thượng Hội Đồng. Họ tưởng là đã tiêu diệt được người quyến dũ dân chúng và làm cho họ mất quyền lợi và thế lực trên dân. Nhưng vui mừng của thế gian cũng chỉ tạm thời, vì sau đó sẽ là thời kỳ than khóc. Ai chạy theo những lạc thú của thế gian cũng thế, họ chỉ có thể vui vẻ trong một thời gian ngắn; nhưng sau đó sẽ là những mệt mỏi, chán chường. Nỗi than khóc bất hạnh nhất của thế gian là không biết, không có, hay đánh mất Chúa.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Trong cuộc sống, chúng ta phải đương đầu với nhiều thay đổi; nhưng may mắn cho những người tín hữu chúng ta, những gì chính yếu đã được Chúa Giêsu mặc khải qua Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa.
- Chúng ta cần học hỏi lịch sử và Kinh Thánh để biết những điều chính yếu trong cuộc đời, và biết cách chuẩn bị để đối phó với những thay đổi của cuộc đời.
- Mẹ Maria là mẫu gương lý tưởng cho chúng ta nhận ra thánh ý Thiên Chúa trong những thay đổi của cuộc sống: Mẹ luôn thinh lặng, ghi nhận mọi biến cố xảy ra, và suy niệm trong lòng.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP

25/04/17    TH NĂM TUN 6 PS
Thánh Bê-đa Khả Kính, linh mục, tiến sĩ HT Ga 16,16-20

BẢO CHỨNG CỦA NIỀM VUI

“Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy.” (Ga 16,16)

Suy niệm: Đức Giê-su nói với các môn đệ lời tiên báo trên đây trong bầu khí của bữa Tiệc Ly. Chỉ “ít lâu nữa” thôi, vì ngay sau trưa ngày hôm sau, Thầy chịu khổ nạn thập giá, chôn trong mồ đá, các ông buồn sầu khi không còn được trông thấy Thầy mình. Các ông đã bỏ nghề nghiệp ổn định, mái ấm gia đình đi theo Thầy, bao hy vọng, mộng ước công danh đặt trọn nơi Thầy. Thế mà bây giờ mọi sự như sụp đổ với cái chết đau thương của Thầy. Thế nhưng, nỗi buồn sầu ấy sẽ sớm biến thành niềm vui, một niềm vui vỡ oà khi được gặp lại Thầy mình, Đấng Phục Sinh, hiện ra với họ. Đó chính là kinh nghiệm đức tin đi từ nỗi buồn đến niềm vui, từ cảm nghiệm thập giá đến vinh quang phục sinh trong cuộc sống.

Sống Lời Chúa: Có những lúc thời gian như ngừng trôi khi bạn ở trong tình trạng đau khổ, buồn bã, vắng bóng người thương yêu; nhưng tình trạng đó chỉ tạm thời. Lời Chúa hôm nay mời gọi bạn luôn trung tín với Chúa, để nỗi ưu sầu trở nên khí cụ đem lại niềm vui. Bởi vì, “Niềm vui của người Ki-tô hữu không phải là sự thiếu vắng đi nỗi đau, mà là vượt qua nỗi đau ấy” (Louis Evely).

Chia sẻ kinh nghiệm của bạn về một biến cố mà Lời Chúa hôm nay là bảo chứng của niềm vui và hy vọng?

Cầu nguyện: Lạy Chúa, khi con thất vọng, xin nhắc con nhớ rằng Chúa đã gieo niềm hy vọng trong con; lúc con buồn đau, xin cho con nhớ lại Chúa cũng đã đau buồn trong cuộc Khổ nạn.  Xin cho con biết để Chúa đồng hành trong cuộc sống của con, để niềm vui trong con được trọn vẹn trong Chúa.

(5 phút lời Chúa)

Ni bun tr thành nim vui (25.5.2017 – Th năm Tun 6 Phc sinh)
Chúng ta phi chia s cuc Kh nn và cái chết ca Chúa mi ngày. Nhưng ri ngày nào đó, Chúa li đến thăm, li t mình, li v v an i.


Suy nim:
Trong bầu khí của bữa Tiệc Ly,
Thầy Giêsu nói với các môn đệ một câu đối với họ là khó hiểu:
“Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy,
rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy” (c. 16).
Câu này có thể dễ hiểu với chúng ta
vì chúng ta biết rõ cái chết trên thập giá đang chờ Thầy Giêsu.
Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi,
cái chết này sẽ khiến các môn đệ không còn được thấy Thầy nữa.
Chúng ta cũng biết rằng chỉ một thời gian ngắn sau,
Thầy Giêsu lại được phục sinh, và đã hiện ra cho các môn đệ thấy.
Mất Thầy là một thử thách lớn trong đời người môn đệ.
Thầy là chỗ dựa, là lý do khiến họ chấp nhận cuộc sống bấp bênh này.
Chính Thầy đã gọi, đã kéo họ ra khỏi gia đình và nghề nghiệp ổn định
để lang thang đó đây, sống nhờ lòng tốt của những người nghe giảng.
Gần ba năm sống bên Thầy, chia sẻ ngọt bùi, thành công thất bại,
tình Thầy trò gần gũi như tình bạn hữu.
Bây giờ mất Thầy, họ sẽ đi đâu và đi với ai?
Cái chết trên thập giá của Thầy là đại tang của một người thân.
Nỗi đau này được nhân lên nhiều lần
vì họ đã không dám có mặt để lo liệu việc mai táng.
“Anh em sẽ khóc lóc và than van… Anh em sẽ buồn phiền…” (c.20).
Khi tảng đá đã khép kín ngôi mộ, chẳng còn thấy Thầy nữa,
khi thế gian và thủ lãnh của nó hả hê vui sướng vì chiến thắng,
liệu các môn đệ có vượt qua được nước mắt đau đớn này không?
“Ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy… (c. 16)
và nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui” (c. 20).
Anh em sẽ lại thấy Thầy lúc Thầy hiện ra gặp anh em sau phục sinh,
lúc Thầy sai Thánh Thần đến ở với và nâng đỡ anh em,
và nhất là lúc Thầy đồng bàn với anh em trong bữa tiệc Thiên quốc.
Khi gặp lại Thầy và nhận ra Thầy đang sống,
thế nào anh em cũng hết phiền muộn đắng cay.
Nỗi buồn của anh em tan biến khi anh em biết rằng
Thầy mới là người chiến thắng.
Đời sống người Kitô hữu đan xen giữa vui với buồn.
Có lúc thấy mất Chúa và mất hướng, thấy thất vọng và buồn chán.
Chúng ta phải chia sẻ cuộc Khổ nạn và cái chết của Chúa mỗi ngày.
Nhưng rồi ngày nào đó, Chúa lại đến thăm, lại tỏ mình, lại vỗ về an ủi.
Niềm vui trong ta như sống lại với bao hy vọng dâng trào.
Chỉ xin đừng bỏ đi khi thấy Chúa vắng bóng và thất bại trong đời ta.
Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu,
có những ngày con cảm thấy
đời sống thật nặng nề;
có những lúc con muốn buông trôi,
để mặc cho dòng đời đưa đẩy;
có những khoảng thời gian dài,
con như mảnh đất khô khan cằn cỗi.

Xin cho con ánh sáng của Chúa
để con biết lối mà đi.

Xin cho con tấm bánh của Chúa
để con có sức mà dấn bước.

Xin cho con Lời của Chúa
để con vững một niềm tin.

Xin cho con sự sống của Chúa
để con lấy lại niềm hăng say và sự tươi tắn,
niềm vui và sáng tạo.

Lạy Chúa Giêsu,
con thấy mình cần Chúa
trong mỗi giây phút của cuộc đời.
Ước gì ai gặp con
cũng gặp được sự hiện diện của Chúa.

Lm Antôn Nguyn Cao Siêu, SJ


Hãy Nâng Tâm Hồn Lên
25 THÁNG NĂM
Giấc Mơ Xa Vời Bỗng Thành Hiện Thực
Kể từ ngày Lễ Hiện Xuống, cuộc giao hòa của tất cả các dân tộc trong Thiên Chúa không còn là một giấc mơ xa xăm nữa. Cuộc giao hòa ấy đã trở thành hiện thực – và mở rộng không ngừng theo nhịp lan rộng của Giáo Hội mang trong mình Tin Mừng cứu độ. Chúa Thánh Thần, Đấng là Thần Khí tình yêu và hiệp nhất, hiện thực hóa mục tiêu của cuộc hiến thân cứu chuộc của Đức Kitô – bằng cách qui tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác về một mối.
Khi Thánh Thần hiệp nhất mọi người trở thành Dân Thiên Chúa, có hai điều quan trọng được ghi nhận rõ ràng. Bằng cách dẫn đưa người ta gắn kết với Đức Kitô, Thánh Thần đem họ vào trong mối hiệp nhất của Giáo Hội là Thân Mình Đức Kitô. Như vậy, Thánh Thần giao hòa con người với nhau trong tình huynh đệ – dù giữa họ có những nét khác biệt về địa dư và về văn hóa. Nói cách khác, Thánh Thần làm cho Giáo Hội trở thành một nguồn hiệp nhất và hòa giải. Hơn nữa, Chúa Thánh Thần hòa giải cả những người bên ngoài Giáo Hội – bằng một cách nào đó. Ngài khơi lên trong mọi người niềm khát vọng hiệp nhất sâu rộng hơn và Ngài thúc đẩy những cố gắng của người ta để họ vượt qua những mối xung đột ngổn ngang vẫn còn phân rẽ thế giới.
- suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II -
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations by Pope John Paul II


Lời Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 25 – 5
Thánh Bêđa khả kính, linh mục tiến sĩ Hội Thánh
Thán Grêgôriô VII giáo hoàng
Yhánh Maria Magđalêna Pazzi, trinh nữ
Cv 18, 1-8; Ga 16, 16-20.

LỜI SUY NIỆM: “Thật Thầy bảo thật anh em: anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”
Chúa Giêsu biết rõ mọi sự và tâm hồn của các môn đệ của Chúa, khi Chúa sẽ đi vào cuộc thương khó khổ nạn. Nên Chúa đã báo trước: mỗi người môn đệ sẽ phải khóc lóc và lo buồn, trong lúc đó thế gian sẽ vui mừng vì thế gian tưởng rằng đã chiến thắng và loại bỏ được Người. Nhưng thật ra, mọi sự sẽ được trở nên vui mừng khi gặp được Người sau khi Người phục sinh, chính Người là Đấng đã chiến thắng sự chết.
Lạy Chúa Giêsu. Xin hãy cho chúng con biết khóc lóc, lo lắng, buồn phiền khi phải xa cách Chúa vì tội lỗi của chúng con đã phạm. Để chúng con tìm gặp lại Chúa và được vui sống trong lòng thương xót và ân sủng của Chúa.
Mạnh Phương



Gương Thánh Nhân
Ngày 25-05: Thánh BÊ-ĐA Đáng Kính
Linh mục, Tiến Sĩ Hội Thánh (673 - 735)

Chính thánh Beđa kể cho chúng ta biết mọi điều về cuộc đời thơ ấu của Ngài. Trong vài câu thêm vào cuốn lịch sử Giáo hội, thánh nhân sinh năm 673 hay là 674. Tên Bêđa theo từ ngữ Saxon có nghĩa là cầu nguyện. Cuộc sống của Ngài rất gương mẫu nên người ta thêm cho Ngài biệt danh Vênêrabilê có nghĩa là khả kính. Lên bảy tuổi Ngài bị mồ côi cha mẹ và được giao phó cho tu viện trưởng Bênêdictô Biscop săn sóc giáo dục. Lúc 18 tuổi Ngài được thụ phong chức phó tế và năm 702 hay 703 tức là lúc 29 tuổi Ngài được thụ phong linh mục.
Cuộc sống của Ngài trong tu viện rất cực nhọc. Chúng ta có thể tóm lược cuộc sống ấy bằng chính lời Ngài: - "Tôi đã sống trọn đời nỗ lực học hỏi kinh thánh và trong khi tuân thủ luật dòng cũng như bổn phận hàng ngày và hát thánh ca tại nhà thờ, tôi sung sứơng được học hành, dạy dỗ và viết lách".
Đây quả là tổng hợp chính xác trọn cuộc sống của thánh Bêđa, Ngài rất ít rời bỏ nhà dòng. Chúng ta chỉ nghe biết có hai chuyện du hành của Ngài. Một lần Ngài đi thu tập tài liệu về đời thánh Cuthbert, Ngài ở lại Lindisfanne và từ đó đến viếng Farne Islanol để khảo sát những di tích trong căn phòng của vị thánh. Một lần khác, Ngài đến York để thăm Đức tổng giám mục Egbert, và để quan sát các trường học nổi tiếng ở đó.
Dạy học, thánh Bêna tỏ ra là một bậc thầy lỗi lac. Ngài không quan tâm suy tư và ao ước được nổi bật. Tài năng của Ngài là cố gắng không cùng để tự đào luyện mình rồi truyền thông không phải chỉ có những gì mình đã học mà còn cả cảm thức về giá trị của điều đã được hiểu biết, đặt tầm quan trọng của việc giảng dạy. Tuy nhiên chúng ta không thể nói nhiều về điểm này. Nhưng các sách đủ loại Ngài viết đều là kiểu mẫu trong việc trưng dẫn các tài liệu. Chính cách trình bày cẩn thận và điều độ và gắng để được chính xác và đúng đắn làm cho các sách ấy có thế giá. Các tác phẩm của thánh Bêda có thể xếp thành ba loại. Các bút tích về thần học của Ngài chính yếu gồm những phần dẫn giải thánh kinh của một thầy dạy phần lớn dựa trên các sách giáo phụ Tây phương. Dầu thiếu sự độc sáng trong cách trình bày, nhưng những dẫn giải của thánh Bêda ngày nay còn là phương tiện tốt đẹp nhất để hiểu về các giáo phụ.
Các tác phẩm về khoa học của Ngài một phần là những giải thích cổ truyền về các hiện tượng tự nhiên, một phần bàn về niên lịch và cách tính của Đông phương. Cách tính niên lịch của Ngài kể từ thời Chúa Giêsu Giáng sinh đã được Kitô giáo Tây phương chấp nhận rộng rãi hơn cả.
Các tác phẩm về lịch sử của thánh nhân có lẽ ngày nay được nhớ tới nhiều hơn hết. Cuốn "Lịch sử Giáo hội của dân Anh" là một trong những tác phẩm quan trọng nhất về lịch sử về thời đầu Trung cổ. Ngài đã viết cách khách quan và phê phán cách quân bình, dựa trên những tài liệu và nhân chứng đáng tin cậy, Ngài cũng viết một tiểu sữ về các tu viện ở Wearmonth và thơ văn về cuộc đời thánh Cuthbert.
Kể từ năm 679, Ngài ở hai tu viện Wearmonth và Jarrow, chăm chú thi hành bổn phận thuộc đời sống tu trì và vẫn không ngừng viết lách và dạy học. Lời kinh ở cuối cuốn "Lịch sử Giáo hội" trình bày lý tưởng của Ngài: - "Lạy Chúa Giêsu nhân từ, con khẩn cầu Chúa, khi đã cho con được vui hưởng những lời khôn ngoan của Chúa thì xin Chúa cho con một ngày kia được đến gần bên thánh nhan Chúa".
Đương thời, không ai nghi ngờ sự thánh thiện của thánh nhân, nhưng Ngài đã không làm một phép lạ, không được một thị kiến và không mở ra một đường lối tu đức mới mẻ nào. Mùa hè năm 735 vào tuổi 63, sức khỏe suy giảm, Ngài còn bị đau khổ bị bệnh suyễn. Dầu vậy, Ngài vẫn làm việc đến giây phút cuối cùng, đọc cho thầy thơ ký hoàn tất cuốn sách Chú giải Phúc âm thánh Gioan và 48 giờ cuối cùng trên giường bệnh. Đúng ngày lễ Thăng thiên 27 tháng 5 năm 735, thánh Beda từ trần.
(daminhvn.net)


25 Tháng Năm
Cái Bật Lửa
Ðể kỷ niệm một trận chiến, một quận công bên Anh Quốc đã làm một bữa tiệc khoản đãi một nhóm cựu sĩ quan đã từng chiến đấu sát cánh bên ông.
Tong bữa tiệc, ông dem kho một cái bật lửa rất đẹp mà Nữ hoàng Anh đã tặng cho ông. Cái bật lửa đã được truyền từ tay người này đến tay người nọ để được trầm trồ khen ngợi.
Sau bữa ăn, mọi người được mời ra phòng khách để uống trà. Ông quận công mới đem thuốc lá ra mời mọi người. Nhưng mặt ông bỗng biến sắc, vì ông lục lạo mãi trong túi áo mà vẫn không tìm ra cái bật lửa. Ông hỏi quan khách có ai thấy nó ở đâu không. Mọi người chia nhau đi tìm khắp nơi mà tuyệt nhiên vẫn không thấy cái bật lửa. Lúc bấy giờ, một viên sĩ quan mới đề nghị cho tất cả mọi quan khách nên lật túi áo của mình ra may ra mới có thể tìm thấy nó chăng. Lần lượt tất cả mọi người đều kéo tất cả những gì có trong túi áo của mình ra. Duy chỉ có một người không chịu chấp nhận công việc này. Mọi người đều đưa mắt nhìn về ông và ai cũng đoán chắc đây là người đã đánh cắp cái bật lửa, bởi vì dáng vẻ của ông tiều tụy, áo quần của ông lại rách rưới. Ông lấy danh dự của một cựu sĩ quan để thề thốt và dứt khóat không mở túi áo ra cho mọi người xem.
Vài tuần lễ sau, ông quận công lại mở một bữa tiệc khác và lần này, ông khám phá ra cái bật lửa trong túi áo của ông. Cảm thấy xấu hổ vì đã nghi oan cho một viên sĩ quan đã từng chiến đấu bên cạnh mình, ông quận công đã quyết định đến thăm anh ta để xin lỗi.
Nhà của viên cựu sĩ quan này nằm trong khu phố lầy lội nghèo nàn. Sau khi đã xin lỗi, ông quận công đã hỏi viên sĩ quan: "Tại sao trong bữa tiệc hôm đó, anh đã khước từ không mở túi ra cho mọi người xem?".
Anh ta mới giải thích như sau: "Hẳn ngài đã thấy được căn nhà tôi đang ở tồi tàn như thế nào. Từ lâu, tôi đã thất nghiệp mà vẫn phải nuôi nhiều miệng ăn trong nhà. Ngài đâu có biết rằng hôm đó, tôi đã nhét vào túi tôi tất cả những đồ ăn thừa trên bàn để mang về cho vợ con tôi".
Sau khi hiểu được hoàn cảnh đáng thương của một người đã từng vào sinh ra tử với mình, ông quận công quyết định đền bù bằng cách tìm cho viên cựu sĩ quan một công việc xứng đáng.
Câu chuyện đáng thương tâm trên đây có lẽ cũng diễn ra trong cuộc sống chúng ta dưới nhiều cấp độ và hình thức khác nhau. Nhưng tựu trung, có lẽ mẫu số chung của câu chuyện ấy thường giống nhau: đó là chúng dễ nhìn và đoán xét người theo bề ngoài. Lại nữa, một xã hội có quá nhiều lừa gạt đảo điên cũng khiến cho chúng ta có thái độ e dè, nghi kỵ đối với những người thân thuộc.
Là tín hữu, chúng ta hãy nhìn ngắm cung cách cư xử của Chúa Giêsu. Ngài không nhìn người bằng nhãn hiệu có sẵn. Ngài không đến với người bằng những định kiến. Bên kia bộ quần áo sang trọng hay rách rưới, Chúa Giêsu chỉ nhìn thấy hình ảnh cao quý của chính Thiên Chúa. Ngài dành yêu thương cho những người nghèo khổ, phường thu thuế, bọn gái điếm, những kẻ tội lỗi, những ngwòi con bị xã hội đẩy ra bên lề. Ngài muốn cho mọi người thấy rằng Ngài chỉ có một cái nhìn duy nhất về con người: đó là cái nhìn của cảm thông, của tha thứ, của yêu thương.
(Lẽ Sống)