23/03/2026
Thứ Hai tuần 5 mùa Chay năm A
Bài Ðọc I: Ðn 13,
1-9. 15-17. 19-30. 33-62 (Bài dài)
“Ðây
tôi phải chết, dù tôi không làm điều họ vu khống cho tôi”.
Trích sách
Tiên tri Ða-ni-en.
Trong những
ngày ấy, có một người đàn ông ở Ba-by-lon tên là Gio-a-kim cưới bà vợ tên là
Su-san-na, con của Khen-ki-gia, bà rất xinh đẹp và có lòng kính sợ Chúa, vì cha
mẹ bà là những người công chính, đã dạy con cho biết giữ luật Mô-sê. Lúc đó
Gio-a-kim rất giàu có, ông có một khu vườn gần nhà ông, các người Do-thái năng
lui tới nhà ông, vì ông là người đáng kính hơn mọi người khác.
Năm đó,
người ta đã đặt lên hai vị thẩm phán trong dân. Chúa đã phán về những kẻ ấy rằng:
“Sự gian ác phát sinh từ Ba-by-lon bởi những vị thẩm phán kỳ lão, là những người
xem ra như cai quản dân chúng”. Các ông năng lui tới nhà ông Gio-a-kim, nên tất
cả những ai kiện tụng, thì tìm gặp các ông ở đó. Ðến trưa, khi dân chúng trở về
nhà, bà Su-san-na vào đi bách bộ trong vườn của chồng. Hai vị kỳ lão thấy bà mỗi
ngày đi bách bộ trong vườn, thì phải lửa dục mê đắm; hai ông mất lương tâm,
không còn muốn đưa mắt nhìn lên trời và không còn muốn nhớ đến sự xét xử công
minh.
Hai ông chờ
ngày thuận tiện, lúc bà Su-san-na vào vườn như hôm trước và hôm trước nữa, bà
chỉ dẫn theo hai cô thiếu nữ, bà muốn tắm trong vườn, vì trời nóng bức. Lúc bấy
giờ ở đó không có ai, ngoài hai vị kỳ lão đang ẩn núp và ngắm nhìn bà. Bà nói với
hai cô thiếu nữ rằng: “Hãy mang dầu và thuốc thơm cho ta, rồi đóng cửa vườn lại
để ta tắm”.
Khi hai cô
thiếu nữ ra khỏi vườn, hai vị kỳ lão đứng lên, tiến lại gần bà Su-san-na và
nói: “Kìa cửa vườn đã đóng hết; không ai trông thấy ta đâu, chúng tôi say mê
bà, bà hãy chấp nhận lời yêu cầu của chúng tôi và hiến thân cho chúng tôi. Nếu
bà không chấp nhận, chúng tôi sẽ làm chứng nói bà phạm tội với một thanh niên,
và vì đó, bà đã bảo các cô thiếu nữ ra khỏi vườn”.
Bà
Su-san-na thở dài và nói: “Tôi phải khốn cực tư bề; nếu tôi hành động như thế,
tôi phải chết, và nếu tôi không hành động như thế, tôi cũng không thoát khỏi
tay các ông. Nhưng thà tôi phải tay các ông mà không làm điều gì phạm tội trước
mặt Chúa thì hơn!” Ðọan bà tri hô lên, nên hai vị kỳ lão cũng kêu lên tố cáo
bà. Và một trong hai ông chạy ra mở cửa vườn. Khi người nhà nghe tiếng kêu la
trong vườn, liền đổ xô ra cửa để xem coi việc gì đã xảy ra. Khi nghe hai vị kỳ
lão kể lại, thì các đầy tớ rất lấy làm hổ thẹn, vì thiên hạ không khi nào nghe
nói như thế về bà Su-san-na.
Ngày hôm
sau, khi dân chúng tụ họp tại nhà ông Gio-a-kim, chồng bà Su-san-na, hai vị kỳ
lão cũng đến, lòng đầy những ý nghĩ bất chính để tố cáo bà Su-san-na cho người
ta giết bà. Hai ông nói với dân chúng: “Các người hãy đi tìm bà Su-san-na, con
ông Khen-ki-gia, vợ của ông Gio-a-kim”. Người ta liền sai đi bắt bà, bà đến với
cả cha mẹ, con cái và tất cả họ hàng. Nhưng tất cả họ hàng và mọi kẻ biết rõ bà
đều khóc lóc.
Khi hai vị
kỳ lão ra đứng giữa dân chúng, hai ông đặt tay lên đầu bà. Bà Su-san-na thì
khóc lóc, ngước mắt lên trời, vì tâm hồn bà tin tưởng nơi Chúa. Hai vị kỳ lão
nói: “Khi chúng tôi đi bách bộ một mình trong vườn, bà này đi vào với hai đứa tớ
gái. Bà bảo hai đứa đóng cửa vườn lại, rồi đi ra. Bấy giờ một chàng thanh niên
đã ẩn núp trong vườn tiến tới gần bà và phạm tội với bà. Lúc đó chúng tôi núp ở
góc vườn, nhìn thấy tội ác, chúng tôi liền chạy đến bắt quả tang hai người đang
phạm tội. Chúng tôi không bắt được chàng thanh niên, vì anh ta khoẻ mạnh hơn
chúng tôi, nên đã mở cửa tẩu thoát. Còn bà này chúng tôi bắt được, chúng tôi gạn
hỏi chàng thanh niên đó là ai, nhưng bà không muốn nói cho chúng tôi biết. Ðó
là điều chúng tôi xin làm chứng”. Dân chúng tin lời hai ông nói, vì hai ông là
bậc kỳ lão trong dân và là thẩm phán, nên họ lên án tử hình cho bà.
Bấy giờ bà
Su-san-na kêu lớn tiếng rằng: “Lạy Chúa hằng hữu, Ðấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi
sự trước khi xảy ra, Chúa biết họ làm chứng gian hại con; và đây con phải chết,
dù con không làm điều gì mà họ ác ý vu khống cho con”.
Chúa nhậm
lời bà. Khi họ dẫn bà đi xử tử, thì Chúa giục thần trí một đứa trẻ tên là
Ða-ni-en. Trẻ này kêu lớn rằng: “Còn tôi, tôi không vấy máu bà này”. Mọi người
hướng mắt nhìn về đứa trẻ và nói: “Lời mi nói có ý nghĩa gì?” Ðứa trẻ ra đứng
giữa mọi người và nói: “Hỡi con cái Ít-ra-en, các ngươi ngu muội thế sao, khi
chưa xét xử và chưa biết sự thật thế nào, mà lại lên án một thiếu nữ Ít-ra-en?
Các người hãy xét xử lại, vì hai ông đã làm chứng dối hại bà”.
Bấy giờ
dân chúng vội vã trở lại. Các kỳ lão nói với Ða-ni-en: “Này, em hãy ngồi giữa
chúng tôi và bảo cho chúng tôi, vì Thiên Chúa đã cho em danh dự của bậc kỳ
lão”. Ða-ni-en liền nói với họ: “Các người hãy tách biệt hai ông ra, và cho hai
ông đứng xa nhau, rồi tôi xét xử hai vị kỳ lão cho”.
Khi hai
ông đứng xa nhau, Ða-ni-en gọi ông thứ nhất đến và nói: “Hỡi lão già độc ác,
các tội xưa kia ông đã phạm, giờ đây lại tái phạm, ông đã xét xử bất công, đã
lên án kẻ vô tội và tha cho người có tội, mặc dầu có lời Chúa phán: “Ngươi chớ
giết kẻ vô tội và người công chính”. Vậy nếu ông thấy bà Su-san-na phạm tội,
thì hãy nói hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới cây chò”.
Ða-ni-en liền nói: “Ðúng là ông nói dối. Ðây sứ thần Chúa được lệnh phân thây
ông”. Ða-ni-en cho ông ta lui ra, và bảo dẫn ông kia đến. Ða-ni-en nói với ông
này rằng: “Hỡi dòng giống Ca-na-an, chớ không phải dòng giống Giu-đa, sắc đẹp
đã mê hoặc ông, và tình dục đã làm cho tâm hồn ông ra đồi bại. Ông đã cư xử như
thế đối với các thiếu nữ Ít-ra-en, các cô vì sợ mà phạm tội với ông. Nhưng một
thiếu nữ Giuđa không chiều theo tội ác của ông. Vậy bây giờ, ông hãy nói cho
tôi biết ông đã bắt được hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới
cây sồi”. Ða-ni-en liền nói: “Cả ông nữa, ông hoàn toàn nói dối, cho nên thiên
thần Chúa, tay cầm gươm, chờ đợi phân thây tiêu diệt ông”.
Bấy giờ tất
cả dân chúng hô lớn tiếng và chúc tụng Chúa đã cứu thoát những kẻ trông cậy vào
Chúa. Ðoạn họ nghiêm trị hai vị kỳ lão mà Ða-ni-en đã minh chứng rằng hai ông
đã vu khống, họ đã xử với hai ông như hai ông đã xử độc ác với kẻ khác. Chiếu
theo luật Mô-sê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày hôm đó máu người vô tội khỏi
đổ oan.
Ðó là lời
Chúa.
Hoặc đọc bài ngắn này: Ðn 13, 41c-62
Trích sách
Tiên tri Ða-ni-en.
Trong những
ngày ấy, dân chúng lên án tử hình bà Su-san-na. Bấy giờ bà Su-san-na kêu lớn tiếng
rằng: “Lạy Chúa hằng hữu, Ðấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi sự trước khi xảy ra,
Chúa biết họ làm chứng gian hại con; và đây con phải chết, dù con không làm điều
gì mà họ ác ý vu khống cho con”.
Chúa nhậm
lời bà. Khi họ dẫn bà đi xử tử, thì Chúa giục thần trí một đứa trẻ tên là
Ða-ni-en. Trẻ này kêu lớn rằng: “Còn tôi, tôi không vấy máu bà này”. Mọi người
hướng mắt nhìn về đứa trẻ và nói: “Lời mi nói có ý nghĩa gì?” Ðứa trẻ ra đứng
giữa mọi người và nói: “Hỡi con cái Ít-ra-en, các ngươi ngu muội thế sao, khi
chưa xét xử và chưa biết sự thật thế nào, mà lại lên án một thiếu nữ Ít-ra-en?
Các người hãy xét xử lại, vì hai ông đã làm chứng dối hại bà”.
Bấy giờ
dân chúng vội vã trở lại. Các kỳ lão nói với Ða-ni-en: “Này, em hãy ngồi giữa
chúng tôi và bảo cho chúng tôi, vì Thiên Chúa đã cho em danh dự của bậc kỳ
lão”. Ða-ni-en liền nói với họ: “Các người hãy tách biệt hai ông ra, và cho hai
ông đứng xa nhau, rồi tôi xét xử hai vị kỳ lão cho”.
Khi hai
ông đứng xa nhau, Ða-ni-en gọi ông thứ nhất đến và nói: “Hỡi lão già độc ác,
các tội xưa kia ông đã phạm, giờ đây lại tái phạm. Ông đã xét xử bất công, đã
lên án kẻ vô tội và tha cho người có tội, mặc dầu có lời Chúa phán: “Ngươi chớ
giết kẻ vô tội và người công chính”. Vậy nếu ông thấy bà Su-san-na phạm tội,
thì hãy nói hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới cây chò”.
Ða-ni-en liền nói: “Ðúng là ông nói dối. Ðây sứ thần Chúa được lệnh phân thây
ông”. Ða-ni-en cho ông ta lui ra, và bảo dẫn ông kia đến. Ða-ni-en nói với ông
này rằng: “Hỡi dòng giống Ca-na-an, chứ không phải dòng giống Giu-đa, sắc đẹp
đã mê hoặc ông, và tình dục đã làm cho tâm hồn ông ra đồi bại. Ông đã cư xử như
thế đối với các thiếu nữ Ít-ra-en, các cô vì sợ mà phạm tội với ông. Nhưng một
thiếu nữ Giu-đa không chiều theo tội ác của ông. Vậy bây giờ, ông hãy nói cho
tôi biết ông đã bắt được hai người phạm tội dưới cây gì?” Ông ta trả lời: “Dưới
cây sồi”. Ða-ni-en liền nói: “Cả ông nữa, ông hoàn toàn nói dối, cho nên thiên
thần Chúa, tay cầm gươm, chờ đợi phân thây tiêu diệt ông”.
Bấy giờ tất
cả dân chúng hô lớn tiếng và chúc tụng Chúa đã cứu thoát những kẻ trông cậy vào
Chúa. Ðoạn họ nghiêm trị hai vị kỳ lão mà Ða-ni-en đã minh chứng rằng hai ông
đã vu khống; họ đã xử với hai ông như hai ông đã xử độc ác với kẻ khác. Chiếu
theo luật Mô-sê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày hôm đó máu người vô tội khỏi
đổ oan.
Ðó là lời
Chúa.
Ðáp Ca: Tv 22, 1-3a.
3b-4. 5. 6
Ðáp: Dù bước đi trong thung lũng tối,
con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con
Xướng: Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu
thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ
ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
Xướng: Ngài dẫn tôi qua những con đường
đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. (Lạy Chúa), dù bước đi trong thung lũng tối,
con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều
an ủi lòng con. – Ðáp.
Xướng: Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay
trước mặt những kẻ đối phương. Ðầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy
tràn chan chứa.
Xướng: Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo
tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời
gian rất ư lâu dài.
Câu Xướng Trước Phúc
Âm: 2 Cr 6, 2b
Ðây là lúc
thuận tiện, đây là ngày cứu độ.
Phúc Âm: Ga 8, 1-11
“Ai
trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi”.
Tin Mừng
Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Gio-an.
Khi ấy,
Chúa Giê-su lên núi cây dầu. Và từ sáng sớm, Người lại vào trong đền thờ. Toàn
dân đến cùng Người, nên Người ngồi xuống và bắt đầu giảng dạy. Lúc đó, luật sĩ
và biệt phái dẫn đến Người một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình,
và họ đặt nàng đứng trước mặt mọi người. Họ hỏi Chúa Giê-su: “Thưa Thầy, thiếu
phụ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mà theo luật Mô-sê, hạng phụ nữ
này phải bị ném đá. Còn Thầy, Thầy dạy sao?” Họ nói thế có ý gài bẫy Người để
có thể tố cáo Người. Nhưng Chúa Giê-su cúi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết
trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người đứng lên và bảo họ: “Ai trong các ngươi sạch
tội, hãy ném đá chị này trước đi”. Và Người ngồi xuống và lại viết trên đất.
Nghe nói thế họ rút lui từng người một, bắt đầu là những người nhiều tuổi nhất,
và còn lại một mình Chúa Giê-su với người thiếu phụ vẫn đứng đó. Bấy giờ Chúa
Giê-su đứng thẳng dậy và bảo nàng: “Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả
rồi? Không ai kết án chị ư?” Nàng đáp: “Thưa Thầy, không có ai”. Chúa Giê-su bảo:
“Ta cũng thế, Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”.
Ðó là lời
Chúa.
Chú giải về Đa-ni-en 13,1-9. 15-17. 19-30. 33-62 hoặc Đa-ni-en 13,41-62
Hai chương cuối của sách Đa-ni-en không thuộc kinh điển Do
Thái. Những câu chuyện ngắn trong hai chương này có thể ban đầu viết về một hoặc
nhiều Đa-ni-en khác, khác với nhân vật chính của phần chính trong sách. Các văn
bản này hiện chỉ còn bản tiếng Hy Lạp, nhưng có lẽ ban đầu được viết bằng tiếng
Do Thái hoặc tiếng Aram. Chúng không xuất hiện trong các bản Kinh Thánh không
thuộc Công giáo, nhưng Giáo hội Công giáo luôn coi chúng là những tác phẩm được
soi dẫn.
Hai chương này chứa hai câu chuyện nổi tiếng, một về Su-san-na, người bị vu oan tội ngoại
tình, và một câu chuyện khác về những sự kiện dẫn đến việc Đa-ni-en bị ném vào
hang sư tử.
Một số người quá khắt khe về tôn giáo thường bỏ qua hoặc thay
thế câu chuyện về Su-san-na bằng
một văn bản ít gây hại hơn (hoặc tệ hơn, bị bỏ qua vì quá dài bởi những người cử
hành nghi lễ cho rằng nghi lễ tốt duy nhất là nghi lễ ngắn gọn!). Nhưng như Hồng
y Newman từng nói:
“Chúng ta không thể viết một tác phẩm văn học không tì vết về
con người tội lỗi.”
Điều này rất đúng với Kinh Thánh. Chỉ trong bối cảnh sự yếu
đuối tội lỗi của chúng ta, chúng ta mới có thể trọn vẹn trân trọng sự vĩ đại và
lòng thương xót của Thiên Chúa.
Tình cảnh của Susanna cần được giải thích một chút vì, tùy
thuộc vào các câu Kinh Thánh được chọn cho Bài đọc thứ nhất, phần đầu của câu
chuyện có thể không có trong bài đọc của chúng ta. Đó là câu chuyện về hai người
đàn ông dâm đãng và một người phụ nữ đã kết hôn vô tội (Susanna) bị dẫn vào một
cái bẫy tinh vi mà dường như không có lối thoát. Tuy nhiên, người phụ nữ đã bảo
vệ sự trong sạch của mình bất chấp nguy cơ bị vu oan là không chung thủy với chồng,
trong một xã hội thậm chí còn ít khoan dung hơn xã hội của chúng ta trong những
vấn đề này. Trên thực tế, toàn thể cộng đồng, sau khi nghe lời khai của hai người
đàn ông, đã sẵn sàng ném đá bà vì tội ngoại tình và thể hiện điều này bằng cách
đặt tay lên đầu người phụ nữ.
Bà chắc chắn đã bị xử tử bằng cách ném đá nếu “chàng trai trẻ
tên là Đa-ni-en” không xuất
hiện. Phần còn lại của câu chuyện là mô tả về sự chính trực, ý thức công lý và
sự sáng suốt của ông. Qua việc khéo léo và riêng biệt điều tra những người tố
cáo người phụ nữ, ông đã chứng minh họ là kẻ nói dối, và sự tương phản rõ rệt
giữa hai cái cây được nhắc đến—một cây khá nhỏ và một cây rất cao lớn và hùng
vĩ—càng làm nổi bật sự mâu thuẫn trong lời khai của hai người đàn ông. Theo luật,
cuối cùng họ phải nhận hình phạt vốn dành cho người phụ nữ.
Trọng tâm của câu chuyện dài và đầy kịch tính này thực sự là
về Đa-ni-en, về sự nhận thức và trí tuệ của ông, và về ông như một người bảo vệ
công lý. Ngược lại, phụng vụ của Phúc Âm Gioan (Gioan 8,1-11, được đọc hôm qua,
Chúa Nhật Tuần thứ 5 Mùa Chay Năm C và hôm nay trong Năm A và B), kể câu chuyện
về một trường hợp ngoại tình khác và rất khác biệt. Đó là một tình huống mà người
phụ nữ rõ ràng là có tội, nhưng vẫn nhận được sự tha thứ hoàn toàn của Chúa
Giê-su.
Khi đọc cả hai câu chuyện, chúng ta có thể suy ngẫm về việc
chúng ta thường xuyên phán xét người khác như thế nào, đặc biệt là trong lĩnh vực
tình dục. Ngoại tình là một chủ đề rất phổ biến xuyên suốt nhiều câu chuyện
trong Kinh Thánh, cũng như hình phạt tử hình dành cho tội này. Tuy nhiên, chúng
ta nên nhớ rằng người ta không phạm tội ngoại tình một mình, và điều này không
nên bị xem nhẹ.
Chú giải về Gioan 8:1-11
Có một số nghi ngờ về việc câu chuyện về người phụ nữ bị buộc
tội ngoại tình này có thực sự thuộc về Phúc Âm Gioan hay không. Một số người
cho rằng phong cách này gợi nhớ nhiều hơn đến Lu-ca, và người ta dễ dàng hình
dung nó phù hợp với Phúc Âm của ông.
Cảnh tượng diễn ra trên Núi Ô-liu, ngay bên ngoài tường
thành Giê-ru-sa-lem. Đây là lần duy nhất khu vực này được nhắc đến trong các
Phúc Âm, ngoài những tường thuật về sự đau khổ trong vườn Ghết-xê-ma-ni. Tuy
nhiên, có khả năng Chúa Giê-su và các môn đệ của Ngài đã đến đó nhiều lần.
Không có nghi ngờ gì, ở bất kỳ giai đoạn nào của câu chuyện,
rằng người phụ nữ có tội như bị buộc tội. Tất nhiên, chúng ta có thể muốn hỏi
điều gì đã xảy ra với người đàn ông. Cần có hai người để phạm tội ngoại tình
(trừ khi đó là trong bí mật). Và ai trong số họ là người bạn đời đã kết hôn? Cả
hai người? Hay chỉ là người đàn ông?
Nhưng trong một xã hội rất quan tâm đến tính hợp pháp và sự
tiếp nối dòng dõi gia đình, gánh nặng về sự liêm chính đặt lên vai người vợ. Những
mối quan hệ “ngoại hôn” của người chồng được xem xét ít nghiêm túc hơn nhiều.
Theo quan niệm thời đó, con cái sinh ra từ mối quan hệ như vậy là vấn đề của
người phụ nữ, và không ảnh hưởng đến sự “thuần khiết” của dòng dõi gia đình.
Điều đáng ghê tởm trong cảnh này là người phụ nữ bị các thầy
dạy luật và người Pha-ri-sêu lôi kéo vào như một con tốt trong trò chơi mà họ
đang chơi với Chúa Giê-su. Đó là một ví dụ về nhiều “con tốt” mà các nhà lãnh đạo
tôn giáo đã giăng ra trước mặt Chúa Giê-su trong các câu chuyện Phúc Âm.
Người Pha-ri-sêu thách thức Ngài rằng:
Luật Môi-se truyền dạy
chúng ta phải ném đá những người phụ nữ như vậy. Bây giờ Ngài nói gì?
Nó hơi giống câu hỏi về việc nộp thuế cho Caesar. Bất kể
Chúa Giê-su có thể nói gì, Ngài sẽ tự kết tội mình bằng chính miệng mình.
Thực tế, Luật pháp quy định hình phạt tử hình, nhưng không
quy định cách thức hành quyết đối với những người ngoại tình. Tuy nhiên, sách Đệ
Nhị Luật quy định ném đá đối với trinh nữ đã đính hôn bị bắt quả tang ngoại
tình (hãy nhận ra rằng nếu không nhờ Giuse, đây có thể là số phận của Maria khi
bà bị phát hiện mang thai). Những người chứng kiến tội ngoại tình cũng có quyền
ném đá trước (xem Đệ Nhị Luật
17,7) – do đó, Chúa Giê-su đã mời gọi những người tố cáo Ngài.
Nếu Chúa Giê-su nói rằng bà ta nên được tha thứ, thì Ngài đã
vi phạm Luật pháp – nếu Ngài nói rằng bà ta nên bị trừng phạt, thì Ngài đã mâu
thuẫn với chính lời dạy của mình về lòng thương xót và sự cảm thông đối với người
tội lỗi. Chúa Giê-su khéo léo đẩy trách nhiệm trở lại cho họ:
Ai trong các ngươi
không có tội, hãy ném đá vào người phụ nữ này trước.
Với một biểu hiện khiêm nhường kỳ lạ, họ không trả lời. Họ
im lặng và từng người một, bắt đầu từ người lớn tuổi nhất, họ bỏ đi.
Cuối cùng, chỉ còn lại Chúa Giê-su và người phụ nữ, và hãy
lưu ý rằng Chúa Giê-su không hề xấu hổ khi ở một mình trước mặt một người bị kết
tội ngoại tình (“người bệnh là những người cần thầy thuốc”):
Này người phụ nữ, họ
đâu rồi? Không ai kết tội bà sao?” Bà đáp: “Không ai cả, thưa ngài.” Chúa
Giê-su nói: “Ta cũng không kết tội bà. Hãy đi, và từ nay về sau đừng phạm tội nữa.”
Điều này có nghĩa là Chúa Giê-su dung túng tội ngoại tình
sao? Hoàn toàn không. Nhưng Ngài nhìn thấy nơi người phụ nữ ấy mầm mống của sự
ăn năn và tiềm năng hoán cải. Chúa Giê-su luôn nhìn vào hiện tại và tương
lai—không bao giờ nhìn vào quá khứ.
Nhìn vào câu chuyện này, trước hết chúng ta có thể tự tin hướng
tới lòng thương xót tương tự từ Chúa Giê-su dành cho tội lỗi của chúng ta.
Nhưng chúng ta cũng cần có sự thành thật của những người Pha-ri-sêu, những người
không dám trừng phạt người phụ nữ vì họ thừa nhận rằng chính họ cũng là những kẻ
tội lỗi.
Đã bao nhiêu lần chúng ta không ngần ngại phán xét người
khác về những lỗi lầm họ đã gây ra, mà không hề nghĩ đến lỗi lầm của chính
mình—soi những hạt bụi trong mắt người khác, trong khi chính mình lại có cả
khúc gỗ trong mắt?
https://livingspace.sacredspace.ie/l1052g/
Suy Niệm: Thiên Chúa sự sống
Sự chết
rình rập tiêu diệt con người. Con người tự nộp mình vào chỗ chết khi phạm tội.
Con người tiêu diệt lẫn nhau bằng những âm mưu hiểm độc gian dối. Nếu không có
Chúa ta không có hi vọng được cứu sống.
Chúa cứu sống
bà Su-za-na bằng cuộc phân xử công minh. Phơi bầy sự thật. Vạch trần gian dối.
Người công chính được minh oan. Kẻ gian ác bị trừng phạt. Chúa đảo ngược thế cờ.
Không để cho sự dữ hoành hành. Không để cho kẻ ác thống trị. Người lành được
bình an. Thế giới được hạnh phúc. Công minh tuyệt đối. Đó là Cựu ước. Nhưng đến
thời Tân ước có những bước tiến mới hơn công minh.
Chúa cứu
người phụ nữ ngoại tình bằng một cuộc phân xử khác. Công minh và nhân hậu.
Công minh
khi Chúa hỏi những người tố cáo: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy
đá mà ném trước đi”. Thực vậy nếu phải ném đá có lẽ phải ném chính bản
thân. Vì trước mặt Chúa nào có ai vô tội? Đã không kết án mình đâu còn dám kết
án người khác.
Nhân hậu
khi Chúa nói với người phụ nữ: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu!”.
Và lòng nhân hậu lên đến tuyệt đỉnh khi Chúa nói: “Thôi chị cứ về đi, và từ
nay đừng phạm tội nữa”. Không kết án. Không giết chết. Nhưng còn hơn thế nữa,
mở cho ta con đường sự sống. Không đóng đinh con người vào quá khứ. Nhưng mở
cho con người một tương lai. Không nghi ngờ con người yếu đuối. Nhưng tin tưởng
thiện chí và khả năng đổi mới.
Không chỉ
cứu mạng sống thân xác chóng qua. Nhưng cứu sự sống của linh hồn bất tử. Không
chỉ cứu một người phụ nữ. Nhưng cứu tất cả mọi người. Những người có mặt hôm ấy
khi về nhà phải duyệt xét lương tâm. Biết mình có tội. Biết sám hối. Mọi người
sẽ được sự sống.
Quả thực
Chúa là vị thẩm phán công minh và nhân hậu. Xử án không phải để kết án nhưng để
tha thứ. Không phải để giết chết nhưng để cứu sống. Vì Chúa là Thiên Chúa sự sống.
(TGM Giuse
Ngô Quang Kiệt)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét