Trang

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

30.03.2026: THỨ HAI TUẦN THÁNH

 30/03/2026

 THỨ HAI TUẦN THÁNH

 


Bài Ðọc I: Is 42, 1-7

“Người sẽ không lớn tiếng; không ai nghe tiếng người ở công trường“.

Trích sách Tiên tri I-sai-a.

Này là tôi tớ Ta mà Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn, Ta hài lòng về người. Ta ban Thần trí Ta trên người. Người sẽ xét xử chư dân. Người sẽ không lớn tiếng, không thiên vị ai, không ai nghe tiếng người ở công trường. Người không bẻ gãy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói. Người sẽ xét xử trong công lý. Người sẽ không buồn phiền, không nao núng, cho đến khi đặt công lý trên mặt đất, vì các đảo mong đợi lề luật người.

Chúa là Thiên Chúa đã phán như thế, Người là Ðấng đã tác tạo và mở rộng các tầng trời, đã củng cố mặt đất và các sản phẩm của nó, đã ban hơi thở cho dân sống trên mặt đất và ban sức sống cho những kẻ trên đó. Ta là Chúa, Ta đã gọi con trong công lý, đã cầm lấy tay con, đã gìn giữ con, đã đặt con thành giao ước của dân, và nên ánh sáng của chư dân, để con mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm.

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 26, 1. 2. 3. 13-14

Ðáp: Chúa là sự sáng, và là Ðấng cứu độ tôi

Xướng: Chúa là sự sáng, là Ðấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Ðấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?

Xướng: Khi những đứa ác xông vào để xả thịt tôi, bọn thù ghét tôi sẽ xiêu té và ngã gục.

Xướng: Nếu thiên hạ đồn binh hạ trại để hại tôi, lòng tôi sẽ không kinh hãi; nếu thiên hạ gây chiến với tôi, tôi vẫn tự tin.

Xướng: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa!

 

Câu Xướng Trước Phúc Âm

Kính chào Vua chúng con: Chỉ có nhà Vua là người thương hại đến những lỗi lầm của chúng con.

 

Phúc Âm: Ga 12, 1-11

Hãy để mặc cô ấy làm công việc chỉ về ngày táng xác Ta”.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Gio-an.

Sáu ngày trước Lễ Vượt Qua, Chúa Giê-su đến làng Bê-ta-ni-a, nơi La-da-rô đã chết được Người cho sống lại. Tại đây người ta dọn bữa cho Người ăn. Mác-ta hầu bàn. Còn La-da-rô cũng là một trong những kẻ đồng bàn với Người. Bấy giờ Ma-ri-a lấy một cân dầu thơm, dầu cam tùng hảo hạng, và xức chân Chúa Giê-su, rồi lấy tóc mình mà lau. Hương thơm toả đầy nhà. Một môn đệ là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ sẽ phản nộp Người, liền nói: “Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đồng mà cho người nghèo khó?” Hắn nói thế không phải vì lo lắng cho người nghèo khó đâu, mà vì hắn là tên trộm cắp, lại được giữ túi tiền, nên bớt xén các khoản tiền người ta bỏ vào đó. Vậy Chúa Giê-su nói: “Hãy để mặc cô ấy làm công việc chỉ về ngày táng xác Ta. Vì các ngươi sẽ có người nghèo luôn bên cạnh các ngươi, còn Ta, các ngươi sẽ không gặp Ta mãi đâu”.

Có đám đông người Do-thái biết Người đang ở đó, nên tuôn đến, không những vì Chúa Giê-su, mà còn để thấy La-da-rô, kẻ đã chết được Người cho sống lại. Thế là các Thượng tế quyết định giết luôn cả La-da-rô, vì tại ông mà nhiều người Do-thái đã bỏ họ và tin theo Chúa Giê-su.

Ðó là lời Chúa.

 

 




Chú giải về I-sai-a 42,1-7

Hôm nay chúng ta có bài ca đầu tiên trong bốn bài ca về Người Tôi Tớ của Đức Chúa từ sách I-sai-a. Cả bốn bài ca cùng nhau mô tả những phẩm chất tốt đẹp nhất của Ít-ra-en và các vị lãnh đạo vĩ đại của họ. Bài ca hôm nay mô tả một “người được chọn” giống như Môi-se, Đa-vít và toàn thể dân Ít-ra-en. Là Người Tôi Tớ, ông hoàn thành vai trò của vua Đa-vít và tiên tri. Đó là một mô tả tuyệt đẹp về một người tôi tớ nhiệm màu của Đức Chúa Trời mà Giáo Hội từ lâu đã nhận ra rằng nó áp dụng rất thích hợp cho Chúa Giê-su.

Đoạn Kinh Thánh này được trích từ “Sách An Ủi”, hay I-sai-a thứ hai (chương 40-55). Nó nói về Ít-ra-en như một “Người Tôi Tớ của Đức Chúa”, được chọn hoặc được biệt riêng ra, để làm chứng nhân của Đức Chúa Trời trước các dân tộc. Nhưng bốn Bài Ca về Tôi Tớ của Đức Chúa (42,1-9; 49,1-6; 50,4-11; 52,13-53,12) trình bày một “tôi tớ” bí ẩn, người mà trong một số khía cạnh giống với “tôi tớ Ít-ra-en” trong các đoạn Kinh Thánh khác. Tuy nhiên, trong đoạn Kinh Thánh hôm nay, người ấy được phân biệt với tôi tớ Ít-ra-en và được thể hiện là có những phẩm chất khác cho thấy người ấy là một cá nhân đặc biệt.

Được Đức Chúa gọi khi còn trong bụng mẹ, được Ngài “hình thành”, được tràn đầy Thánh Linh của Ngài, tôi tớ là một “giao ước” (tức là môn đồ). Đức Chúa đã mở tai người ấy, để, bằng cách thiết lập công lý trên đất, người ấy có thể hướng dẫn loài người, phân loại và phán xét họ theo lời Ngài. Người ấy thực hiện nhiệm vụ của mình một cách nhẹ nhàng và không phô trương, thậm chí dường như thất bại trong đó. Người ấy chấp nhận sự sỉ nhục và khinh miệt nhưng không khuất phục vì Đức Chúa nâng đỡ người ấy.

Đức Chúa đang phán và nói: “Đây là tôi tớ của Ta”. Ngài chỉ định và thánh hiến Người Tôi Tớ. Trong thuật ngữ hoàng gia của vùng Cận Đông cổ đại, “tôi tớ” có thể có nghĩa là “sứ giả đáng tin cậy” hoặc “đại diện bí mật”.

Chúa Giê-su cũng tự gọi mình là “tôi tớ”:

Vì Con Người đến không phải để được phục vụ, mà để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người. (Mác-cô 10,45)

Ngài đã nêu gương một cách hùng hồn khi quỳ xuống và rửa chân các môn đồ trong Bữa Tiệc Ly (Gioan 13,1-17).

Ngài không chỉ “tập hợp” dân Ít-ra-en, mà còn là ánh sáng cho các dân tộc khắp nơi. Tân Ước xem Chúa Giê-su là người tôi tớ này—trong con người Ngài, các thuộc tính của Vua Mê-si-a, Con của Đa-vít, được kết hợp với các thuộc tính của người tôi tớ chịu khổ (xem thêm Lu-ca 4,17-21).

Trong chương trước, Vua Ky-rô của Ba Tư đã được giới thiệu là người giải cứu dân Ít-ra-en khỏi cảnh tù đày ở Ba-by-lôn, nhưng Người Tôi Tớ sẽ giải cứu toàn thế giới khỏi ngục tù tội lỗi.

Đoạn Kinh Thánh này nói về sự hiền lành và bất bạo động, một thông điệp vô cùng cần thiết cho thời đại chúng ta. Ngài hiền lành, nhưng không yếu đuối hay thụ động:

Ngài không kêu la hay la hét…

Ngài là người mang đến sự hòa hợp và bình an, chứ không phải tiếng ồn ào và hỗn loạn:

…cây sậy bị dập nát Ngài sẽ không bẻ,

và ngọn đèn leo lét Ngài sẽ không dập tắt…

Ngài không lợi dụng kẻ yếu để phô trương quyền lực, mà ban sức mạnh bằng cách mang đến sự chữa lành và trọn vẹn cho những người yếu đuối và mong manh. Đó chính xác là những gì Chúa Giê-su đã làm trong sứ mệnh của Ngài đối với dân chúng.

Ngài sẽ không nản lòng hay bị nghiền nát

cho đến khi Ngài thiết lập công lý trên trái đất,

và các vùng ven biển chờ đợi lời dạy của Ngài.

Đoạn Kinh Thánh này được Mát-thêu trích dẫn trong Phúc Âm của ông (Mt 12,18-21). Trong sự hiền lành và lòng thương xót của Ngài, không có sự yếu đuối. Có một sức mạnh nội tại lớn lao, nhưng hoàn toàn từ chối bạo lực.

Đoạn Kinh Thánh đó cũng nói rằng:

…các vùng ven biển chờ đợi lời dạy của Ngài…

Điều này ám chỉ các vùng đất Địa Trung Hải và, ngụ ý, các vùng đất ngoại giáo nằm ngoài Israel. Người Tôi Tớ có sứ mệnh dành cho tất cả mọi người, chứ không chỉ một số ít.

Rồi đến lời kêu gọi đặc biệt của Đức Chúa Trời dành cho Người Tôi Tớ:

Ta đã gọi ngươi trong sự công chính…

Điều này tương tự như lời kêu gọi trước đó dành cho Vua Ky-rô, người sẽ giải cứu người Do Thái khỏi cuộc lưu đày ở Babylon và cho phép họ trở về quê hương. Đoạn Kinh Thánh tiếp tục:

Ta đã nắm tay ngươi và giữ gìn ngươi…

Trong tiếng Do Thái, từ “giữ gìn” cũng được dịch là “hình thành”, và được sử dụng trong câu chuyện sáng tạo của Sách Sáng Thế để mô tả việc Đức Chúa Trời “hình thành” hay “tạo hình” thân thể của người đàn ông đầu tiên. Tất nhiên, Chúa Giê-su là A-đam Mới.

Ta đã ban ngươi làm giao ước cho dân,

làm ánh sáng cho các quốc gia…

Chúa Giê-su, với tư cách là Đấng Mê-si-a, sẽ khai mở Giao Ước Mới bằng sự đau khổ và cái chết của Ngài, một giao ước giờ đây bao trùm tất cả các dân tộc ở khắp mọi nơi. Chúng ta sẽ thấy điều đó rõ ràng hơn khi đọc thêm về Người Tôi Tớ Chịu Khổ trong Tuần Thánh.

Người Tôi Tớ này được Thiên Chúa, Đấng tạo dựng muôn vật, kêu gọi để làm công việc của Ngài và thực hiện ý muốn của Ngài. Ngài sẽ là “ánh sáng cho các dân tộc” và sẽ:

…mở mắt cho người mù…giải thoát tù nhân khỏi ngục tối, khỏi nhà tù những người ngồi trong bóng tối…

Ban đầu, điều này đề cập đến sự giải thoát khỏi ngục tù lưu đày ở Babylon, nhưng nó cũng chỉ ra niềm hy vọng về sự giải phóng cho mỗi người khỏi mọi sự ràng buộc về tinh thần và đạo đức.

Khi bắt đầu Tuần Thánh, chúng ta được nhắc nhở rằng công việc của người tôi tớ Chúa, mà chúng ta cũng là, phải tiếp tục thông qua chúng ta. Chúng ta không ở đây trong tuần này chỉ để làm khán giả, ngay cả những khán giả biết ơn. Chúng ta phải là một phần của công việc mà Mầu nhiệm Phục Sinh đã khai mở. Chúng ta cũng phải là những người tôi tớ, sẵn sàng, nếu cần thiết, chịu đau khổ như Chúa Giêsu đã chịu vì anh chị em chúng ta.

 

 


Chú giải về Gioan 12,1-11

Bài Phúc Âm hôm nay là khúc dạo đầu tuyệt vời cho cuộc Khổ nạn của Chúa Giê-su. Chúa Giê-su trở lại nhà của những người bạn Ngài, Maria, Mác-ta và tất nhiên, La-da-rô—người vừa mới được sống lại từ cõi chết. Có lẽ đây là những khoảnh khắc cuối cùng Chúa Giê-su ở bên cạnh họ trước những điều kinh hoàng sắp xảy ra.

Đúng như tính cách của mình, Mác-ta là người chủ nhà năng động. Maria, người trầm tư, mang vào một lọ dầu thơm đắt tiền và đổ khắp chân Chúa Giê-su, làm cho cả nhà tràn ngập hương thơm. Đó là dấu hiệu của tình yêu thương lớn lao và vang vọng điều mà người phụ nữ “tội lỗi” trong Phúc Âm Lu-ca cũng đã làm. Câu chuyện này có lẽ giống với câu chuyện được mô tả trong Mác-cô (14,3-9) và Mát-thêu (26,6-13), nhưng khác với câu chuyện về người phụ nữ trong Lu-ca (7,36-50).

Trái ngược với “Môn đồ yêu dấu” trong Phúc âm Gioan (một nhân vật vô danh), Giuđa, mặt khác, là một người duy vật mù quáng về mặt tâm linh, và coi những gì mình thấy là sự lãng phí khủng khiếp. Một cách giả tạo, hắn cho rằng số tiền đó lẽ ra nên được dùng để giúp đỡ người nghèo. Gioan cáo buộc Giuđa là “một tên trộm”, quan tâm đến việc chiếm đoạt tiền bạc cho bản thân hơn là chia sẻ với những người cần giúp đỡ.

Chúa Giê-su nhìn thấy một ý nghĩa hoàn toàn khác trong hành động của Maria. Ngài nhìn thấy tình yêu bao la đằng sau hành động đó, và giải thích nó như một nghi thức xức dầu mang tính biểu tượng cho việc chôn cất Ngài. Chết như một tên tội phạm thông thường, Chúa Giê-su thường sẽ không được xức dầu (và trên thực tế, Ngài không được xức dầu sau khi chôn cất; khi các phụ nữ đến làm việc đó vào sáng Chủ nhật, Chúa Giê-su đã sống lại). Chúa Giê-su đáp lại:

Các con luôn có người nghèo ở bên cạnh, nhưng các con không luôn có Ta.

Điều này không nên được hiểu theo bất kỳ cách nào mang tính hoài nghi. Người nghèo không thể được yêu thương chân thành ngoại trừ trong Chúa và trong Chúa Giê-su:

Thật vậy, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của ta, thì các ngươi làm cho ta vậy. (Mát-thêu 25,40)

Chỉ những ai thật lòng yêu mến Chúa (bất kể họ gọi Ngài bằng tên nào) mới có thể thật lòng yêu thương người nghèo và tất cả những người thiếu thốn—và ngược lại. Ngoài ra, trong truyền thống Do Thái, có sự bất đồng về việc bố thí cho người nghèo hay chôn cất người chết (bao gồm cả việc xức dầu) là hành động thương xót lớn hơn. Những người ủng hộ việc chôn cất cho rằng đó là điều kiện thiết yếu để được chia sẻ trong sự phục sinh cuối cùng.

Cuối cùng, chúng ta được biết rằng mạng sống của La-da-rô cũng gặp nguy hiểm giống như mạng sống của Chúa Giê-su. La-da-rô được xem là dấu hiệu sống động về quyền năng thiêng liêng của Chúa Giê-su, và vì vậy cả hai đều phải bị tiêu diệt. Nhiều vị tử đạo của Giáo hội đã chết vì lý do tương tự. Từ "tử đạo" có nghĩa là "nhân chứng", làm chứng cho chân lý, tình yêu và quyền năng của Chúa Kitô.

Liệu tôi có sẵn lòng trở thành chứng nhân tử đạo vì Chúa Kitô, đứng bên cạnh Ngài trên thập tự giá khi Ngài bị chế nhạo và sỉ nhục? Tuần này là thời điểm để tôi tìm ra câu trả lời cho câu hỏi đó.

 

https://livingspace.sacredspace.ie/l1062g/

 

 


Suy Niệm: Thần Khí sự sống

Ngưởi Tôi Trung của Chúa là người tràn đầy Thần Khí. Với các hiệu quả là không phô trương “không kêu to, không nói lớn”. Nhân từ “Không bẻ gẫy cây lau bị giập, không dập tắt tim đèn leo lét”. Nhưng “không yếu hèn, không chịu phục, cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu”. Nhờ đó Người “ban sinh khí cho toàn thể cư dân”, cho thế giới được phục hồi và được sống. Sống trong ánh sáng và tự do. Vì Người “mở mắt cho những ai mù lòa, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ”.

Chúa Giêsu chính là Người Tôi Trung tràn đầy Thần Khí. Tất cả được tỏ hiện tại ngôi nhà Bê-tha-ni-a. Sự sống được thực hiện trong La-za-rô, người đã chết 4 ngày được Chúa cho sống lại. Chết quá 3 ngày là chết thật rồi. Vì thế sống lại là một việc lạ lùng ngoài luật tự nhiên. Là kết quả của Thần Khí.

Ánh sáng và tự do được thể hiện trong Ma-ri-a. Cô được tràn đầy Thần Khí nên biết phải làm gì. Việc xức dầu vừa loan báo Chúa chịu chết vừa loan báo Chúa Phục Sinh. Ngày Chúa chịu chết được an táng vội vàng nên không kịp xức dầu thơm. Ngày Chúa nhật các phụ nữ mang dầu thơm đến xức thì Chúa đã sống lại rồi. Vì thế Maria làm việc này theo ánh sáng Thần Khí. Và Chúa đã xác nhận.

Ma-ri-a làm trong tự do của lòng yêu mến. Cô tự do nên không bị ý kiến nào chi phối. Dù việc làm của cô có bị phản đối. Đặc biệt cô tự do với lòng quảng đại. Bình dầu thơm có giá trị lớn bằng cả một năm làm việc. Đó là tất cả sự sống của cô. Nhưng sự sống của cô là bởi Chúa. Nhất là Chúa mới trả lại sự sống cho La-za-rô. Đó là món quà quí nhất. Dù có dâng lại tất cả cũng chưa xứng đáng. Huống hồ một bình dầu thơm.

Giu-đa không có Thần Khí nên không có ánh sáng và tự do. Ông không biết làm đúng việc ở đúng nơi vào đúng lúc. Hơn nữa ông bị tiền bạc trói buộc nên mọi tư tưởng lời nói việc làm của ông đều mất tự do. Và vì thế không có sự sống. Dẫn đến cái chết thảm khốc.

Mùi dầu thơm lan tỏa khắp nhà. Hương thơm của sự sống. Của Thần Khí. Xin cho con được tràn đầy Thần Khí Chúa. Xin cho đời sống con tỏa hương thơm ca tụng Chúa. Bằng ánh sáng và tự do.

(TGM Giuse Ngô Quang Kiệt)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét