Trang

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2018

Lược sử hình thành và những huyền thoại chung quanh giáo phái Đức Chúa Trời Mẹ


Lược sử hình thành và những huyền thoại chung quanh giáo phái Đức Chúa Trời Mẹ
Đặng Tự Do
29/Apr/2018

"Sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường". (2 Tim 4:3-4). 

Trong tuần qua, giáo phái Đức Chúa Trời Mẹ được đề cập đến nhiều tại Việt Nam. Từ lâu việc phát triển nhanh chóng của giáo phái này đã là một vấn đề đối với Giáo Hội Công Giáo tại Nam Hàn. Thật vậy, vào cuối năm 2017, thống kê của Giáo Hội Công Giáo tại Nam Hàn cho biết Giáo Hội có 1734 nhà thờ [1]. Trong khi đó, theo một thống kê vào tháng 6 năm 2013, giáo phái (hay tà phái) Đức Chúa Trời Mẹ tuyên bố có đến 450 nhà thờ tại Nam Hàn và 6,000 nhà thờ tại hải ngoại [2]. Nhiều quan sát viên cho rằng các con số này có lẽ không xa sự thật bao nhiêu.

Dưới đây là lược sử hình thành và những huyền thoại chung quanh giáo phái này.

Nhân vật Ahn Sahng-hong

Ahn Sahng-hong (안상홍) sinh ngày 13 tháng Giêng năm 1918 tại một ngôi làng nhỏ bé tại huyện Myeongdeok-ri, tỉnh North Jeolla, trong thời kỳ bị Nhật Bản chiếm đóng. Cả cha lẫn mẹ đều là người Hàn quốc theo Phật Giáo.

Sau đó, gia đình ông dọn lên thành phố Busan. Ông đã lớn lên tại quận Haeundae của thành phố này; và đó cũng là nơi ông lập ra một giáo phái mới.

Từ năm 1937 cho đến hết thế chiến hai, Ahn Sahng-hong sống với mẹ tại Nhật Bản trước khi trở về Hàn quốc vào năm 1946. Sau khi về nước, ông bắt đầu lui tới với Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm (Seventh-day Adventist) tại Incheon từ năm 1947. Theo lời kể của Ahn Sahng-hong, một năm sau đó ông tuyên bố từ bỏ Phật Giáo, và được Mục Sư Lee Myeong-deok ban phép Rửa Tội. Tuy nhiên, năm 2011, Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm ra một thông cáo nói giáo phái Tin Lành này không hề có Mục Sư nào tên là Lee Myeong-deok vào năm 1948, và cho biết thêm, theo sổ bộ của họ, Ahn Sahng-hong được Mục Sư Gim Seo-gyeong rửa tội vào ngày 9 tháng 10, 1954 lúc ông ta 36 tuổi [3]

Năm 1953, Ahn Sahng-hong tuyên bố mình nhận được Mạc Khải và ba năm sau tuyên bố rằng trong vòng 10 năm nữa Chúa lại đến lần thứ hai.

Tháng Tư 1958, ông kết hôn với bà Hwang Wonsun (1923–2008).

Tháng Ba 1962, ông bị Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm trục xuất sau những tranh cãi gay gắt về vấn đề thánh giá và các ảnh tượng trong nhà thờ. Theo Ahn Sahng-hong, tôn thờ thánh giá và các ảnh tượng trong nhà thờ là tôn thờ ngẫu tượng. 23 người trong Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm tại Incheon bỏ đi với ông.

Ngày 28 tháng Tư 1964, Ahn Sahng-hong tuyên bố thành lập giáo phái mới gọi là Witnesses of Jesus Church of God (Hội Thánh Đức Chúa Trời các chứng nhân của Chúa Giêsu) tại Busan. Trước khi ông qua đời vào năm 1985, giáo phái này có đến 13 cộng đoàn tại Nam Hàn.

Những tin tưởng của Ahn Sahng-hong


Về cơ bản, các tin tưởng của Ahn Sahng-hong cũng tương tự những gì được tin tưởng trong Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm. Tuy nhiên, trong hơn 20 quyển sách do ông viết, Ahn Sahng-hong nhấn mạnh đến cuộc sống của Giáo Hội trong thời các Thánh Tông Đồ và đưa ra một số giải thích cực đoan về Kinh Thánh để quy định rằng:

1. Phụ nữ phải trùm đầu trong khi cầu nguyện.

2. Phép rửa là bước đầu tiên hướng tới sự cứu rỗi. Không tồn tại ơn cứu độ bên ngoài những người không được rửa tội.

3. Ngày Sa-bát nên được cử hành vào các ngày thứ Bảy, chứ không phải Chúa Nhật.

4. Ngày 25 tháng 12 không nên được cử hành như là lễ Chúa Giáng sinh bởi vì nó là ngày lễ thần mặt trời.

5. Thập giá và các ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ và các thánh bị coi là một hình thức tôn thờ ngẫu tượng.

6. Cần đề cao và cử hành các ngày lễ Do Thái Giáo như Lễ Vượt Qua, Lễ Bánh Không Men và các ngày lễ khác được nêu trong chương 23 của Sách Lê-vi: lễ hoả tế, lễ dâng bó lúa đầu mùa, lễ lều…

Cánh chung luận

Với mục đích gây hoang mang ngõ hầu chiêu dụ tín đồ, Ahn Sahng-hong đặc biệt quan tâm đến những tiên đoán về ngày tận thế. Ông cảnh cáo các tín hữu là họ đang sống trong “thời sau hết”.

Năm 1956, ông tiên đoán là trong vòng 10 năm nữa Chúa lại đến lần thứ hai; và đó là ngày thế mạt.

Tư tưởng cánh chung luận của ông được nhiều người Hàn quốc đón nhận một phần lớn vì hoàn cảnh lịch sử của đất nước này. Họ đồng hoá việc chiếm đóng của Nhật Bản với ách cai trị đè nặng lên dân Do Thái là “dân tộc đang bước đi trong tối tăm”.

Trong cuốn “The Bridegroom Was a Long Time in Coming, and They All Became Drowsy and Fell Asleep” (Chú rể đến muộn, và các cô phù dâu thiếp đi) phát hành vào năm 1980, Ahn Sahng-hong lại dự đoán tận thế sẽ diễn ra vào năm 2012.[4]

Cô dâu Thiên quốc

Vào năm 1978, một nhóm người trong giáo phái của Ahn Sahng-hong tôn vinh một thành viên nữ giàu có tên là Um Sooin (sinh năm 1941) lên hàng thần thánh. Một loạt ấn bản được tung ra quả quyết bà ta là “cô dâu duy nhất” trên thiên quốc được sai xuống để an ủi loài người. Mặc dù, đã cẩn thận tôn vinh cả Ahn Sahng-hong là Chúa Kitô xuống thế lần thứ hai; cả nhóm cùng với bà Um Sooin bị Ahn Sahng-hong trục xuất ra khỏi giáo phái.

Ahn Sahng-hong tỏ ra rất khinh miệt phụ nữ. Trong cuốn “Problems with the New Jerusalem, the Bride and Women's Veils” (1980, in lại 1983) (Vấn nạn với nhóm Tân Giêrusalem, Cô Dâu và khăn che đầu của phụ nữ) [5], Ahn Sahng-hong viết: “Đàn bà nên học mọi sự trong lặng lẽ và trong sự phục tùng. Tôi không cho phép một người phụ nữ giảng dạy hoặc có quyền hành trên một người đàn ông; đàn bà phải biết im lặng. Adong được tạo ra trước rồi mới đến Evà. Và Adong không phải là người bị [con rắn] lừa dối; mà chính là người đàn bà đã bị lừa dối và trở thành tội nhân.”

Cái chết của Ahn Sahng-hong

Ngày 24 tháng Hai 1985, Ahn Sahng-hong bị nhồi máu cơ tim đang khi ăn trưa. Ông được đưa vào nhà thương. Tuy nhiên, trên đường đi cấp cứu, Ahn Sahng-hong lại bị thêm tai biến mạch máu não. Ngày hôm sau, 25 tháng Hai, 1985 ông qua đời tại nhà thương Công Giáo Maryknoll của thành phố Busan bỏ lại người vợ và 3 đứa con.

Ông được chôn cất tại nghĩa trang Seokgye cách thành phố Busan 30km về phía Bắc. Trên phần mộ của ông, người ta đọc thấy dòng chữ sau: “Phần mộ của tiên tri Êlia Ahn Sahng-hong”[6].

Giáo phái Đức Chúa Trời Mẹ


Sau cái chết bất ngờ của Ahn Sahng-hong, tranh chấp nổi lên trong giáo phái Hội Thánh Đức Chúa Trời các chứng nhân của Chúa Giêsu do ông thành lập.

Lần này, một nhóm người khác lại tôn vinh một người đàn bà khác, 41 tuổi, làm lãnh đạo tinh thần của họ. Đó là bà Jang Gil-ja (장길자). Bà này sinh ngày 29 tháng 10 năm 1943. Jang Gil-ja là chủ tịch của hai quỹ từ thiện rất giàu có tên là 국제위러브유 운동 (Chúng tôi thương mến bạn) và 새생명복지회 (Phúc Lợi trong cuộc sống mới) [7].

Sau Đại Hội Bất Thường vào ngày 4 tháng Ba năm 1985, giáo phái do Ahn Sahng-hong thành lập lúc đầu tách ra thành 2 giáo phái:

Thứ nhất là nhóm New Covenant Passover Church of God - Hội Thánh Đức Chúa Trời Giao ước Mới trong Lễ Vượt Qua. Nhóm này do vợ và các con của Ahn Sahng-hong lãnh đạo và vẫn đặt trụ sở tại địa điểm cũ tại thành phố Busan.

Phóng viên Lee Seung-yeon của tờ Modern Religion viết vào tháng Hai 2012 rằng “Các buổi lễ được thực hiện tại nhà thờ của nhóm Giao ước Mới trong Lễ Vượt Qua không khác bao nhiêu với các giáo hội [Tin Lành] chính thống. Các giáo dân cầu nguyện cùng danh Chúa Giêsu Kitô và đọc kinh Lạy Cha. Họ hát những bài thánh ca chính thống không có sửa đổi. Giống như các tín đồ Cơ Đốc Phục Lâm, họ giữ ngày thứ Bảy là ngày Sa-bát.”

Nhóm thứ hai, là nhóm truyền vào Việt Nam từ năm 2001, có tên là Witnesses of Ahn Sahng-hong Church of God (Hội Thánh Đức Chúa Trời các chứng nhân của Ahn Sahng-hong), sau lại đổi tên thành World Mission Society Church of God (Hội Thánh Đức Chúa Trời Hiệp hội Truyền giáo Thế giới) thường được gọi với cái tên phổ biến hơn là giáo phái Đức Chúa Trời Mẹ. Nhóm này dời trụ sở từ Busan về Hán Thành.

Trong Đại Hội ngày 2 tháng Sáu, 1985, tại Hán Thành, nhóm này đưa ra 3 quan điểm mới.

Thứ nhất, Ahn Sahng-hong phải được nhìn nhận là Chúa Kitô xuống thế lần thứ hai. Xa hơn, Ahn Sahng-hong phải được xem là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Thứ hai, bà Jang Gil-ja được gọi là Đức Chúa Trời Mẹ, tức là hình ảnh phụ nữ của Đức Chúa Trời.

Thứ ba, các kinh nguyện kêu cầu cùng Thiên Chúa phải được sửa lại để kêu cầu cùng Ahn Sahng-hong.

Việc tôn phong người phàm lên hàng thần thánh đã bị Hội Đồng Quốc Gia Các Giáo Hội Kitô Nam Hàn lên án mạnh mẽ coi giáo phái này là một tà giáo phạm thượng, phản nghịch cùng Thiên Chúa. [9]

Tuy bị lên án như thế, tà giáo “Hội Thánh Đức Chúa Trời các chứng nhân của Ahn Sahng-hong” dưới quyền lãnh đạo của bà Jang Gil-ja và tổng Mục Sư Joo-Cheol Kim tỏ ra thành công vượt bậc và gây không ít khó khăn cho Giáo Hội Công Giáo tại Nam Hàn.

Jang Gil-ja và Joo-Cheol Kim là những người có tài làm thương mại lại có vốn từ các tín hữu đóng góp nên họ làm chủ các đại công ty và có nhiều cổ phần trong những công ty lớn khác tại Nam Hàn, Hoa Kỳ và các nước khác.

Ngày nay tà phái này có đến 450 nhà thờ tại Nam Hàn và 6,000 nhà thờ tại 175 quốc gia khác.

Phương thức hoạt động của tà giáo này tỏ ra rất thành công tại các quốc gia kém mở mang tại Á, Phi. Chẳng hạn như tại Nigeria, trong tư cách chủ nhân các siêu thị, và các công ty lớn, họ thường thuê mướn một số lớn các nhân công vào đó để …ngồi chơi xơi nước, gần như không làm gì cả trong một thời gian ngắn. Sau đó, một thời gian họ dùng công ăn việc làm gây sức ép buộc gia nhập giáo phái, nếu không chịu thì mất việc làm. Tại các nước phát triển, họ lại hoạt động theo một phương thức khác. Theo Chris Harris của People.com[10], tà phái này tận dụng Internet để tiếp cận với những người có khó khăn trong cuộc sống, các cựu chiến binh khủng hoảng sau khi trở về từ chiến tranh, và cả những người nghiện sex muốn được sống cuộc sống bầy đàn chung chạ.

Những huyền thoại chung quanh tà phái Đức Chúa Trời Mẹ

Chung quanh câu chuyện về tà phái Đức Chúa Trời Mẹ như đã được các phương tiện truyền thông và các mạng xã hội Việt Nam đưa lên có những điều, chúng tôi thiết nghĩ, không đúng.

Bà Jang Gil-ja là vợ của Ahn Sahng-hong. Không đúng, bà ta không phải là vợ của Ahn Sahng-hong.

Ahn Sahng-hong xưng mình là Chúa Kitô, là Chúa Ba Ngôi. Không đúng. Ông ta không có gan đó. Những gì được viết trên mộ chí của ông ta cho thấy ông ta cùng lắm chỉ dám ví mính với tiên tri Êlia.

Ahn Sahng-hong chủ trương rằng bà Jang Gil-ja là hình ảnh phụ nữ của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời Mẹ. Không đúng. Đó không phải là chủ trương của Ahn Sahng-hong. Trong các tác phẩm của mình Ahn Sahng-hong thường tỏ ra khinh miệt phụ nữ và không ngại coi phụ nữ như một trong những “mối tội đầu” (x. 4 thượng dẫn).

Tà giáo Đức Chúa Trời Mẹ cho người ta uống một thứ nước thánh khiến cho con người “mụ mị” ra. Về phương diện khoa học, có tồn tại hay không một chất có tác dụng lâu dài như thế? Làm sao một chất như thế có thể thoát được sự kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan chức năng Hoa Kỳ nơi tà giáo này được báo cáo có đến 150,000 ngàn thành viên (x. 10 thượng dẫn). Chiêu thức của tà giáo này có lẽ chủ yếu là những lèo lái về tâm lý và áp lực công ăn việc làm hơn là dùng đến các chất hóa học.

[1] Catholic Church in Korea Statistics 2017- Revised version 12 April 2018
[2] “WATV – Worldwide”. Retrieved 3 June 2013.
[3] International Korean Christian Coalition against Heresy (2012-02-24). 안상홍 교적부 있는 부산 해운대안식일교회 (in Korean). Retrieved 2013-08-18.
[4] The Bridegroom Was a Long Time in Coming, and They All Became Drowsy and Fell Asleep (in Korean). Korea: Witnesses of Jesus Church of God. 1980. Retrieved 2013-08-18.
[5] "Problems with the New Jerusalem, the Bride and Women's Veils” http://ncpcog.co.kr/rb/home/b/0604/441
[6] International Korean Christian Coalition against Heresy. 하나님의교회 안상홍증인회 - 안상홍의 정체 [Witnesses of An Sang-hong Church of God – An Sang-hong's identity] (in Korean). Retrieved 2013-08-18.
[7] “We love U - Intro”. Retrieved 2013-03-22.
[8] 이 (Lee), 명덕 (Seung-yeon) (2012). “하나님의교회는'장길자'증인회! 안상홍씨 친아들 안광섭씨가 말하는 하나님의교회” [The Church of God is Zahng Gil-Ja's Congregation! Ahn Sahng-hong's son Ahn Kwang-sup speaks out about the Church of God]. 현대종교 (Modern Religion). Hyudae Jongyo (2): 28–33. Retrieved 2013-08-18.
[9]기독교 이단 사이비 종교 명단과 종교차별 신고 (in Korean). The National Council of Churches in Korea. 2012-12-13. Retrieved 2013-08-18.
[10] Former Members Allege New Jersey Church, South Korea-Based World Mission Society Church of God, is Actually a 'Cult'



Tại sao cần đọc các giáo phụ


Tại sao cần đọc các giáo phụ
Vũ Văn An
29/Apr/2018

Hạn từ Giáo Phụ được người Công Giáo và nhiều hệ phái Kitô Giáo khác sử dụng để chỉ các bậc thầy nổi tiếng về đức tin Kitô Giáo cổ thời. Ý tưởng đứng đàng sau việc gọi các vị này là “Phụ” (Cha) là: thầy dậy Đức Tin Kitô Giáo quả là người cha thiêng liêng giúp hạ sinh những đứa con thiêng liêng vốn tiếp nhận giáo huấn của ngài. Thánh Phaolô, chẳng hạn, cũng từng cho mình là cha thiêng liêng của những ai tiếp nhận Tin Mừng qua lời giảng dậy của ngài: “Tôi không viết điều này để anh em phải xấu hổ, nhưng để khuyên nhủ anh em như những người con qúy yêu của tôi. Vì dù anh em có vô vàn các người hướng dẫn trong Chúa Kitô, nhưng anh em không có nhiều người cha đâu. Vì tôi đã trở thành cha của anh em trong Chúa Giêsu Kitô nhờ Tin Mừng” (1Cr 4:14-15). Thánh Irênê (khoảng các năm 125 – 202 CN), vốn là một Giáo Phụ, đã giải thích ý niệm làm cha thiêng liêng này trong tác phẩm nổi danh của ngài là Chống Các Ly Giáo như sau: “Vì khi một người được dạy dỗ từ cửa miệng một người khác, họ được gọi là con của người dậy dỗ họ, và người dạy dỗ này [được gọi] là cha của họ” (IV, 41, 2).
Thực sự, có hàng trăm Giáo Phụ mà tác phẩm của các ngài, một mình chúng, có thể chiếm trọn cả một thư viện. Nói chung, các ngài được phân thành hai nhóm chính: Các Giáo Phụ Hy Lạp hay Đông Phương, và các Giáo Phụ La Tinh hay Tây Phương. Các Giáo Phụ Hy Lạp hay Đông Phương là các tác giả Kitô Giáo nổi danh sống ở miền Đông của thế giới Kitô Giáo cổ thời. Phần lớn các vị này viết bằng chữ Hy Lạp, dù có một số Giáo Phụ Đông Phương viết bằng tiếng Syriac, Coptic hay Armenian. Các Giáo Phụ Đông Phương nổi danh nhất là Thánh Irênê, Thánh Clêmentê thành Alexandria, Thánh Anatasiô, Thánh Gioan Kim Khẩu, và 3 Giáo Phụ Cappadocian: Thánh Basilêô Cả, Thánh Grêgôriô Nazianzen và Thánh Grêgôriô thành Nyssa. Các Giáo Phụ La Tinh hay Tây Phương là các Giáo Phụ sống tại miền Tây thế giới Kitô Giáo, tất cả các vị này trước tác bằng tiếng La Tinh. Các giáo Phụ Tây Phương nổi danh nhất là Thánh Ambrôsiô, Thánh Augustinô, Thánh Giêrônimô, và Thánh Grêgôriô Cả. Phần lớn các Giáo Phụ là giám mục (như các Thánh Augustinô và Thánh Gioan Kim Khẩu), nhưng cũng cò một vài vị giáo hoàng (như các Thánh Clêmentê thành Rôma, Thánh Lêô Cả, Thánh Grêgôriô Cả), một số vị là linh mục (như Thánh Giêrônimô), phó tế (như Thánh Êphrem người Syria) và thậm chí là giáo dân (như Thánh Giustinô Tử Đạo).

Ba Lý Do 

Có 3 lý do thực sự hữu lý khiến ta nên đọc các Giáo Phụ. Thứ nhất, quả là việc có giá trị to lớn khi ta đọc các trước tác của các tác giả sống ở một thời và một nơi khác với chúng ta. Tác giả Kitô Giáo vĩ đại là C.S. Lewis, trong bài dẫn nhập của ông vào tác phẩm nổi danh của Thánh Giáo Phụ Anatasiô, Về Việc Nhập Thể, đã khuyên mọi người nên thường xuyên đọc một số “sách cổ” để quân bình hoá việc đọc các tác phẩm hiện đại. Như Lewis giải thích, mọi thời đại đều đặc biệt thích đáng để nhìn ra một số sự thật, và mỗi thời đại đều có một sự mù quáng đặc trưng nào đó khiến họ không nhìn thấy sai lạc hay lỗi lầm của mình. Ông viết “Biện pháp giải quyết duy nhất là giữ cho làn gío biển trong lành của các thế kỷ thổi qua tâm trí ta, và điều này chỉ có thể thực hiện bằng cách đọc các sách cổ”. Khi đọc “các sách cổ”, ta có thể tiếp nhận được kiến thức và túi khôn của những thời đi trước, giúp ta vừa nắm được các sự thật bị quên bỏ vừa nhận ra một cách tốt hơn các sai lầm của thời ta. Như một luật chung, Lewis cho rằng: sau khi đọc một tác phẩm đương thời, đừng bao giờ đọc thêm một tác phẩm đương thời nào khác cho tới khi đã đọc một một cuốn “sách cổ”. Nhưng luật đọc sách cổ này áp dụng cho mọi loại sách có giá trị của những thời xa xưa. Vậy tại sao lại đặc biệt phải đọc các Giáo Phụ?

Lý do thứ hai, và là lý do chuyên biệt hơn, khiến bạn nên đọc các Giáo Phụ là để được trang bị tốt hơn trong cuộc chiến đấu bảo vệ đức tin Công Giáo, chống lại những người phỉ báng nó. Là người Công Giáo, chúng ta có bổn phận nặng nề phải biết đức tin của mình, chia sẻ nó với người khác, và, khi cần, bảo vệ nó khỏi bị bóp méo, trình bầy sai, và nhiều hình thức tấn phá khác: “Luôn sẵn sàng đưa ra lời bênh vực đối với bất cứ ai yêu cầu anh em giải thích niềm hy vọng hiện hữu trong anh em” (1 Pr 3:15). Bạn có muốn chỉ cho một người bạn thấy rằng Thánh Lễ Công Giáo, trong yếu tính, vốn cùng là hình thức thờ phượng đã được thực hành bởi các Kitô hữu tiên khởi không? Bạn hãy đọc rồi chia sẻ với bạn bè lời giải thích của Thánh Giustinô Tử Đạo trong cuốn Hộ Giáo Thứ Nhất (khoảng năm 155 CN) của ngài gửi Hoàng Đế Rôma Antoninus Pius, giải thích để ông ta hiểu các Kitô Hữu đã thực sự thờ phượng như thế nào bằng cách cử hành Thánh Lễ (I, 65–67). Còn nếu có ai phản đối tín lý Công Giáo về ngôi vị giáo hoàng, coi nó như một thoái hóa sau thời Constantinô thì sao? Bạn hãy đọc rồi chia sẻ với họ Thư Thứ Nhất Gửi Tín Hữu Côrintô (khoảng năm 92-101 CN) của Thánh Clêmentê Thành Rôma, trong đó, với tư cách Giám Mục Rôma và là giáo hoàng thứ tư, thuộc thế kỷ thứ nhất, đã trả lời thỉnh nguyện của Giáo Hội Côrintô muốn ngài can thiệp vào cuộc tranh luận ở đó về việc liệu các giáo dân có thể thay thế các linh mục trong việc cử hành Thánh Thể hay không (xin lưu ý: ngài đã trả lời Không). Nếu điều đó không thuyết phục được ai, thì bạn nên đọc và chia sẻ tác phẩm Chống Lạc Giáo của Thánh Irênê thành Lyons, trong đó, ngài nhấn mạnh rằng nền chính thống của Kitô Giáo tùy thuộc việc hợp nhất với Giáo Hội Rôma, “Vấn đề cần thiết là mọi Giáo Hội nên nhất trí với Giáo Hội này, vì thế giá ưu việt của nó” (III. 3). Về một ai đó cho rằng niềm tin Công Giáo vào sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể chỉ là một tạo hoẹt thời Trung Cổ thì sao? Trước nhất, bạn hãy đọc rồi chia sẻ với họ Thư Gửi Tín Hữu Philadelphia (khoảng năm 117 CN) của Thánh Inhaxiô thành Antiôkia, trong đó, ngài viết cho một cộng đồng Kitô hữu tiên khởi về cuộc hành trình tiến tới phúc tử đạo của ngài ở Rôma, “cho nên, anh em hãy ý tứ khi tham dự Phép Thánh Thể, vì ở đấy có thịt của Chúa Giêsu Kitô và chén thánh dẫn tới hiệp nhất nhờ máu Người (số 4), hay một lần nữa, chia sẻ cuốn Hộ Giáo Thứ Nhất của Thánh Giustinô Tử Đạo, trong đó, ngài giải thích cho Hoàng Đế Rôma về niềm tin Kitô Giáo vào sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Phép Thánh Thể, “Của ăn này được chúng tôi gọi là Phép Thánh Thể... Vì chúng tôi tiếp nhận những thứ này không phải như bánh và đồ uống thông thường; mà cùng một cách như Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế của chúng tôi, sau khi trở thành xác thịt bằng Lời Thiên Chúa, có cả thịt lẫn máu cho phần rỗi chúng tôi, nên, tương tự như thế, chúng tôi cũng được dạy rằng của ăn đã được chúc phúc bởi lời cầu nguyện bằng chính lời của Người, và từ đó, máu và thịt chúng tôi được nuôi dưỡng nhờ sự chuyển hóa, chính là thịt và máu của Chúa Giêsu Đấng đã trở thành xác thịt” (I, 66).

Dù đúng là các tín lý Công Giáo về ngôi vị giáo hoàng, Thánh Thể, lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria và các thánh, Thánh Truyền, Phép Rửa cho trẻ sơ sinh, sự cần thiết của đức tin và việc làm, và những điều tương tự, không ở dạng phát triển trọn vẹn như vào các thời sau này, nhưng các yếu tố thiết yếu của mỗi điều này đã có ngay từ buổi ban đầu, chỉ chờ cái nhìn thông sáng sâu sắc hơn, sự hiểu biết đầy đủ hơn, và phát triển hơn nữa của Giáo Hội. Như Chân Phúc John Henry Newman đã nhận xét trong công trình bậc thầy của ngài tựa là An Essay on the Development of Christian Doctrine (Một Khảo Luận Về Việc Phát Triển Tín Lý Kitô Giáo), như một hạt giống mọc thành một cây lớn và một đứa trẻ phát triển thành một người lớn theo thời gian, nhưng mỗi yếu tính vẫn y như cũ thế nào, thì các tín lý Kitô giáo cũng lớn lên và phát triển qua nhiều thế kỷ trong khi vẫn bảo tồn được thứ yếu tính nguyên thủy của chúng như vậy. Thật vậy, đối với Chân Phúc Newman, chính việc đọc các Giáo Phụ đã dẫn đến việc ngài trở lại Đạo Công Giáo từ Anh giáo: “Tôi vẫn không xấu hổ giữ vững lập trường của tôi về các Giáo Phụ, và không có có ý định nhúc nhích. … Các Giáo Phụ đã khiến tôi trở thành một người Công Giáo ”(Những Khó Khăn Mà Những Người Anh Giáo Cảm Thấy Trong Giáo Huấn Công Giáo, trang 357, 376).

Lý do thứ ba cần đọc các Giáo Phụ có lẽ là lý do quan trọng hơn cả: để đào sâu và làm phong phú thêm đức tin của bạn. Các Giáo Phụ, cùng với các Tông Đồ, đã được xem đúng là “Những Người Cha Sáng Lập” của Giáo Hội, những người đã giúp đặt nền móng cho Kitô Giáo ngay từ đầu bằng cách giảng dạy, giải thích, bảo vệ và truyền bá các sự thật cứu rỗi của Tin Mừng. Tiến Sĩ David Tamisiea nhớ lại khi ông bắt đầu đọc các Giáo Phụ một cách say sưa tại trường đại học, như thể cả một thế giới hoàn toàn mới mẻ được mở ra cho ông. Và ông tin điều này cũng có thể xẩy ra với mọi người. Bằng cách đọc các Giáo Phụ, bạn chắc chắn sẽ trở thành một người Công Giáo được thông tri, hiểu biết và trung thành hơn nhiều. Thánh Gioan Phaolô II giải thích lý do tại sao các Giáo Phụ lại quan trọng như thế đối với đức tin của Giáo Hội: “Giáo Hội hôm nay vẫn sống bằng sự sống đã nhận được từ các Giáo Phụ của mình và trên nền tảng được xây nên bởi những người xây dựng đầu tiên của mình, Giáo Hội ngày nay vẫn đang được xây dựng trong niềm vui và nỗi buồn của cuộc hành trình và sự sống hàng ngày của mình. … Được hướng dẫn bởi các điều chắc chắn này, Giáo hội không bao giờ mệt mỏi trong việc quay trở lại với các trước tác của các ngài – các trước tác đầy khôn ngoan và không thể già cỗi - và liên tục canh tân ký ức của họ ”(Patres Ecclesiae 1).

Bắt đầu từ đâu

Phải bắt đầu từ đâu? Ta có thể dễ dàng tìm thấy các trước tác của các Giáo Phụ trên internet hoặc thông qua những nơi bán sách trực tuyến. Bạn hãy để cho sở thích hoặc nhu cầu riêng của bạn hướng dẫn bạn. Nếu bạn thích tiểu sử, bạn có thể đọc cuốn Hạnh Thánh Bênêđictô của Thánh Grêgôriô Cả trong cuốn II tác phẩm Đối Thoại (The Dialogues) của ngài, hoặc cuốn nổi tiếng Hạnh Thánh Antôn của Thánh Atanasiô, một cuốn bán chạy nhất trong thế giới cổ đại về vị Thánh này, một trong các Giáo Phụ Sa Mạc vĩ đại ở Ai Cập, một cuốn sách đã giúp truyền bá ý niệm đơn tu Kitô giáo qua Châu Âu và xa hơn nữa. Nếu là một người mê lịch sử, bạn hãy xem xét việc đọc cuốn Lịch Sử Giáo Hội của Eusêbiô, một trình thuật của thế kỷ thứ tư về 300 năm đầu tiên của Giáo Hội. Bạn thích bắt đầu với một cuốn sách ngắn ư? Vậy bạn hãy đọc cuốn Didache (“Giảng dạy”) được một người ẩn danh viết ra. Đây là một cuốn giáo lý cổ xưa nhất còn lại tới ngày nay (khoảng năm 96 CN), với tiểu luận nổi tiếng về Đường Sự Sống đối với Đường Sự Chết. Nếu bạn đang tìm kiếm nguồn linh hứng, bạn có thể đọc bất kỳ bài giảng nào của Thánh Gioan Chrysostom (“Kim Khẩu”), người vẫn còn nổi tiếng vì tài thuyết giảng tuyệt vời của ngài. Nếu bạn cảm thấy can đảm và muốn nghiên cứu các chủ đề thần học khó khăn, thì bạn hãy xem xét việc đọc bất cứ số lượng tác phẩm nào của Thánh Augustinô, người được coi là nhà thần học vĩ đại nhất trong số các Giáo Phụ.

Tuy nhiên, nếu phải giới thiệu một tác phẩm của các Giáo Phụ trên tất cả các tác phẩm khác, tưởng bạn nên đọc cuốn Tự Thú của Thánh Augustinô. Đức Giáo Hoàng Hưu Trí Bênêđictô XVI, trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi hai cuốn sách nào ngài sẽ mang theo đến một hòn đảo hoang vắng, đã trả lời: Kinh Thánh và Tự Thú. Trong tác phẩm này, Thánh Augustinô đã đưa ra một tự truyện về sự hoán cải của ngài từ một kẻ có tội không chịu ăn năn qua một người hoàn toàn dấn thân cho Thiên Chúa. Trước tác của ngài nhấn mạnh cuộc đấu tranh nội tâm của ngài với tội lỗi, thói hư, và sai lầm, và khám phá cuối cùng của ngài ra sự thật về Thiên Chúa, giải phóng khỏi thói hư, và cuối cùng hoán cải qua đức tin Công Giáo. Cuộc đời của Thánh Augustinô, được thuật lại trong Tự Thú, chứng thực cho sự thật của câu châm ngôn, “Mọi tội nhân đều có một tương lai, và mọi vị thánh đều có một quá khứ,” và cung cấp cho ta một ví dụ mạnh mẽ rằng không ai nằm ngoài quyền lực cứu chuộc của Chúa Kitô. Trong Tự Thú, Thánh Augustinô cũng đưa ra lời bình luận sâu sắc và những thông sáng sâu xa về thân phận con người, được viết bằng một văn xuôi đẹp đẽ của một nhà văn có cách phát biểu không thua Cicero: “Chúa đã dựng nên chúng con cho chính Chúa, Lạy Chúa, và trái tim của chúng con không ngừng thổn thức cho đến lúc được nghỉ ngơi trong Chúa ”(Sách 1, Chương 1). “Sự náo động trong lòng con đẩy con vào [khu vườn], nơi không ai ngăn được trận chiến hoành hành mà con đã khởi động chống lại chính bản thân con, cho đến khi nó kết thúc như Chúa biết, nhưng cho tới lúc này con vẫn chưa biết. Con bị một sự điên loạn có sứ mệnh đem lại sự khỏe khoắn, và con đang ở trong một cơn hấp hối gần chết có sứ mệnh đem lại sự sống ”(Sách VIII, Chương 8). “Con đã yêu Chúa quá muộn, ôi vẻ đẹp quá cổ xưa và quá mới mẻ, con đã yêu Chúa quá muộn!. .. Chúa đã tỏa mùi thơm, và con đã hít thở vào, và con khao khát Chúa. Con đã được nếm Chúa, và con đói khát Chúa. Chúa đã chạm vào con, và con khao khát bình an của Chúa”(Sách X, Chương 27).

Trong một hoạt cảnh nổi tiếng tại một khu vườn, vốn là đỉnh điểm đầy cảm kích của cuốn sách, Thánh Augustinô kể lại việc ngài quỳ xuống nài xin Chúa giúp ngài thay đổi cuộc sống của ngài (Sách VIII, Chương 12). Đúng lúc đó, ngài nghe thấy giọng nói của một đứa trẻ vang lên, “Hãy cầm lấy và đọc, hãy cầm lấy và đọc”. Nghĩ rằng đây là một thông điệp Thiên Chúa gửi cho ngài, Thánh Augustinô đã cầm lấy cuốn Sách Thánh và đọc các câu đầu tiên mà mắt ngài gặp phải, và những câu này đã thay đổi cuộc sống của ngài: “Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13: 13–14).

Bạn hãy cầm lấy và đọc các tác phẩm của các Giáo Phụ, chắc chắn đời bạn sẽ không bao giờ còn như xưa




Câu chuyện của Nolwenn Jubin, một thiếu nữ 20 tuổi, đã có cuộc hoán cải tuyệt vời trong việc trở thành Kitô hữu


Câu chuyện của Nolwenn Jubin, một thiếu nữ 20 tuổi, đã có cuộc hoán cải tuyệt vời trong việc trở thành Kitô hữu

Nolwenn Jubin, một thiếu nữ 20 tuổi, kể lại sự hoán cải tuyệt vời của cô. Cô đã nhận bí tích thanh Tẩy trong đêm vọng Phục Sinh. Cô đã chia sẻ hành trình trở thành Kitô hữu của cô như sau:
Tôi sinh ra trong một gia đình hoàn toàn không Công giáo, nhìn chung là không thích tôn giáo. Tôi luôn sống với «văn hóa» này. Vào năm 2015 và 2016, tôi gặp vấn đề về sức khỏe: trải qua 4 lần phẫu thuật. Một tháng sau lần phẫu thuật thứ hai của tôi, chúng tôi phát hiện anh tôi bị bệnh bạch cầu. Trong lúc này, điều đó làm cho gia đình tôi suy sụp. Chúng tôi không biết anh tôi sẽ sống hay chết. Trong thời kỳ khó khăn này, tôi ở trong lưu xá. Tôi có một người bạn đạo Công giáo, người hay giúp đỡ nhiều người và chúng tôi thường thảo luận với nhau về tôn giáo. Trong lúc tuyệt vọng, tôi đã bắt đầu cầu nguyện trong căn phòng nhỏ của tôi, hy vọng ai đó lắng nghe tôi. Tôi không biết rõ tôi nói với ai nhưng điều đó làm cho tôi cảm thấy tốt hơn. Rồi  dần dần, những lời cầu nguyện đã được nhậm lời, anh tôi được chữa lành nhờ việc hiến tủy của tôi và tôi cũng nhận được những ân sủng vượt lên trên niềm hy vọng của tôi.
Được đánh động bởi điều đã xảy đến với mình, tôi đã kể với bạn tôi, cô ấy đã dẫn tôi đến gặp cha tuyên úy của trường tôi học. Chúng tôi đã thảo luận trong suốt hơn hai tiếng. Cha đã nói với tôi về Thiên Chúa. Trở về căn phòng nhỏ bé của mình, một lần nữa tôi cầu nguyện và cám ơn, tôi không biết rõ tôi nói với ai.Tôi nói: «nếu thật sự Ngài, Giêsu, đã làm tất cả những điều đó, con xin cám ơn ngàn lần về những điều Ngài đã làm cho con». Và tức thì, tôi cảm thấy có một luồn hơi nóng, một tình yêu, một sự hiện diện… tôi tưởng mình bị điên. Tôi cảm thấy một sức mạnh không phải sức mạnh con người. Người tôi cứng đơ rất đặc biệt. Tôi vừa khóc vừa nói điều đó với bạn tôi, tôi muốn hiểu điều đã xảy đến với tôi.
Suốt một năm tôi tiếp tục liên lạc với cha tuyên úy bởi điều kỳ diệu này. Vị linh mục nói đùa với tôi rằng ngài sẽ sớm rửa tội cho tôi nhưng tôi cười nhạo ngài; tôi không cho rằng mình là người Công giáo. Ngài đề nghị tôi tham dự một cuộc hành hương ở Mont Saint- Michel nhưng tôi thậm chí không biết hành hương là gì. Trước cuộc hành hương này, tôi tiếp tục cầu nguyện trong phòng với tượng nhỏ thiên thần mà một người bạn đã tặng tôi. Tôi thử làm điều đó mỗi ngày, nhưng lòng tin của tôi dừng lại ở đó. Trong cuộc hành hương tôi đã gặp rất nhiều sinh viên mà tôi không biết. Tôi dự thánh lễ đầu tiên và xảy đến với tôi nhiều cảm xúc! Tôi gặp nhiều người trẻ ca hát, họ cố gắng thu hút người khác và tôi tự hỏi điều gì tôi tìm kiếm ở đây. Tôi không biết, không hiểu gì cả, thế là tôi bắt đầu khóc bởi vì tôi không cảm thấy đây là chỗ của tôi. Tuy nhiên, các sinh viên đã rất tử tế với tôi. Chính trong lúc này tôi đã khám phá ra những giá trị của đạo công giáo: các khái niệm chia sẻ, đoàn kết, đoàn thể tôn giáo. Điều này đánh động tôi.
Cuộc hành hương này là một động lực thật sự, và là nền tảng. Việc thực hành tôn giáo của tôi thật sự bắt đầu ngay lúc đó. Việc khám phá đức tin này như một bước nhảy linh hoạt! nhưng tôi bắt đầu cứ nghi ngờ… tôi nghĩ về cha mẹ tôi, giữa chúng tôi có những mối bất hòa, tôi cảm thấy mình phản bội họ nhưng cũng bị họ phản bội vì đã bỏ rơi tôi. Thời gian này, tôi bị giằng co. Vì vậy tôi cần biết rằng điều mà tôi vừa mới khám phá được xứng đáng để tôi từ bỏ tất cả. Trong thời gian này, những người Công giáo bước vào Tuần Thánh. Thế là tôi để lòng tin mới chớm nở của mình gặp thử thách; tôi muốn kiểm chứng để thấy sự hoán cải của mình thật sự nghiêm túc. Tôi đã cắt đứt liên lạc với gia đình trong nhiều ngày để không bị ảnh hưởng và tôi đã tham dự Tuần Thánh trong công ty của cha tuyên úy ở Vannes. Ở đây tôi đã gặp gỡ những người rất đặc biệt, họ nâng đỡ tôi nhiều và Tuần Thánh khi kết thúc đã thuyết phục tôi. Tôi cảm thấy rằng sự nảy sinh trong con người tôi không phải là bất kỳ thứ gì, điều này không đơn giản là cơn khủng hoảng tuổi thiếu niên. Nó hoàn toàn vượt quá con người tôi.
Cha mẹ tôi không đến dự lễ rửa tội của tôi, có vẽ như họ nhượng bộ tôi, họ chấp nhận lòng tin của tôi. Cuối cùng tôi cũng hiểu đối với họ sự thực điều này rất khó khăn. Sự đảo lộn diễn ra cả hai bên. Nhưng với nhiều kiên nhẫn và nhiều ân sủng, những căng thẳng cuối cùng cũng biến mất. Chìa khóa tốt nhất đó là sự cầu nguyện và đối thoại.
Thật tuyệt vời! tôi có ấn tượng tôi lãnh nhận bí tích thanh tẩy nhờ gia đình tôi. Tôi đã dấn thân cùng với các bạn trẻ trong nhiều hoạt động, chúng tôi cùng nhau sống những điều rất mãnh liệt. Nhiều người đã có mặt trong lễ rửa tội của tôi. Họ không phải là gia đình tôi với nghĩa đen nhưng họ chính là gia đình của tôi trong Đức Kitô và đây là điều hoàn toàn đánh động và làm cho tôi cảm động.
Tôi còn là sinh viên nhưng tôi tham gia nhiều sinh hoạt. Tôi thể hiện niềm tin mọi nơi. Năm nay tôi vào học năm thứ nhất ngành xã hội học nhưng tôi đã quyết định theo hướng mới để giúp mọi người. Hiện nay, tôi trải qua một tuần thử trong việc phục vụ người nghèo ở Arche. Tôi thực sự ước muốn gắn kết đức tin của tôi với dự án cá nhân của tôi. Cho cuộc sống của tôi có ý nghĩa thực sự. Thật tuyệt là người Công giáo nhưng nếu bạn không thực hành đức tin của bạn trong cuộc sống hàng ngày đó là điều tệ hại.
Theo tôi để sống đức tin tốt cần phải củng cố đức tin và biết giữ lòng trung thành. Gặp Chúa Giêsu, giống như phải lòng và trong các mối quan hệ , ban đầu, luôn luôn tốt đẹp rồi người ta đi sâu vào đó. Những cảm giác rất mạnh và một cách tự nhiên người ta đón nhận nó. Tiếp theo công việc hàng ngày và thói quen để chúng ta gặp thử thách: phải biết kiên trì trong đức tin. (Aleteia 11-4-2018)
Ngọc Yến


Phái đoàn GM Đức về Roma để thảo luận với Tòa Thánh


Phái đoàn GM Đức về Roma để thảo luận với Tòa Thánh

VATICAN. Thứ năm 3-5-2018, một phái đoàn HY, GM Đức sẽ về Roma, thảo luận với Tòa Thánh về vấn đề cho những người Tin Lành kết hôn với người Công Giáo được rước lễ.
 HĐGM Đức, dưới sự lãnh đạo của ĐHY Chủ tịch Reinhard Marx, TGM Munich, đã thông qua một chỉ nam về vấn đề cho những người Tin Lành kết hôn với người Công Giáo được rước lễ. Các vị dựa vào giải thích khoản giáo luật so 844, triệt 4 nói rằng ”Trong trường hợp nguy tử, hoặc theo phán đoán của GM giáo phận hay HĐGM, có sự cần thiết trầm trọng, thì các thừa tác viên Công Giáo có thể ban bí tích hợp pháp cho các tín hữu Kitô khác chưa hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo, nếu họ không thể đến gặp thừa tác viên cộng đoàn của họ và nếu họ tự ý xin thừa tác viên Công Giáo, miễn là họ bày tỏ niềm tin của Công Giáo đối với các bí tích ấy và ở trong tình trạng sẵn sàng”.
 Chỉ nam đã được 2 phần 3 thành viên trong HĐGM Đức thông qua, nhưng có 7 vị đứng đầu là ĐHY Rainer Maria Woelki, TGM giáo phận Koeln, viết thư cho Bộ giáo lý đức tin, thỉnh cầu làm sáng tỏ vấn đề, nhất là thẩm quyền của HĐGM trong vấn đề này. Một số vị khác đã phê bình cuốn chỉ nam này, trong đó có ĐHY Gerhard Mueller, cựu Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin.
 Trong thông cáo công bố hôm 30-4 vừa qua, Phòng báo chí Tòa Thánh cho biết phái đoàn HĐGM Đức gồm có 7 HY và GM, đứng đầu là ĐHY Marx và ĐHY Woelki, cùng với cha Tổng thư ký HĐGM Hans Langendoerfer.
 Về phía Tòa Thánh có Đức TGM Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin Luis Ladaria, ĐHY Kurt Koch, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô, và Đức Ông Markus Graulich, SDB, Phó Tổng thư ký Hội đồng Tòa Thánh về các văn bản luật, Cha Hermann Geissler, Trưởng Phân Bộ đạo lý thuộc Bộ giáo lý đức tin (Rei 30-4-2018)
 G. Trần Đức Anh OP 


Cần lưu tâm đến sự tò mò trong thế giới ảo


Cần lưu tâm đến sự tò mò trong thế giới ảo

Các trẻ em tò mò đi vào thế giới ảo. Và ở đó, các em tìm thấy biết bao điều xấu. Chúng ta cần giúp các em để các em không bị biến thành tù nhân của sự tò mò này, để giúp các em có thể nhận ra đâu là sự tò mò tốt và đâu là sự tò mò xấu. Đức Thánh Cha chia sẻ như thế trong thánh lễ sáng nay tại nhà nguyện Marta.
Sự tò mò tựa nét đẹp của tuổi trẻ
Cuộc sống của chúng ta muôn màu muôn vẻ. Thế nên, cuộc sống làm cho chúng ta tò mò. Có sự tò mò tốt, ví như các trẻ em luôn đặt câu hỏi tại sao. Các em đặt câu hỏi, các em không ngừng lớn lên. Các em nhận thấy nhiều điều không hiểu, và các em cần tìm những lời giải thích. Đây là sự tò mò tốt. Sự tò mò ấy giúp trẻ em lớn lên, và phát triển khả năng tự chủ. Trong sự tò mò này, các em nhìn ngắm, suy ngẫm, nhận thấy mình không hiểu và bắt đầu đặt câu hỏi.
Hãy lưu tâm cuộc trò chuyện và thế giới ảo
Ăn nói huyên thuyên là kiểu tò mò không tốt. Đây là di sản của cả người nam lẫn nữ. Ngay cả có người nói rằng, các ông nhiều khi còn lắm lời hơn các bà. Sự tò mò xấu xa bao gồm việc thích xía vào chuyện người khác, thích tìm cách đi đến chỗ nói xấu người khác, thích đi tìm hiểu những điều mà bạn không có quyền biết. Loại tò mò xấu xa này sẽ đi theo ta suốt cuộc đời, và luôn cám dỗ ta. Để chống lại thứ cám dỗ này, chúng ta phải luôn luôn tự cảnh giác bản thân.
Đừng sợ, nhưng hãnh cẩn thận, hãy biết nói không: điều đó tôi không cần hỏi, điều đó tôi không phải nhìn, điều đó tôi không muốn. Ví dụ, có biết bao thứ tò mò trong thế giới ảo, trên màn hình điện thoại thông minh… Các trẻ em tò mò đi vào thế giới đó và tìm thấy biết bao điều xấu xa. Chẳng có chút kỷ luật gì trong thứ tò mò này. Chúng ta phải giúp các trẻ em, giúp người trẻ biết cách sống trong thế giới này, để các em biết rằng, có những điều không cần phải tò mò, để giúp các em không trở thành tù nhân cho loại tò mò xấu xa.
Chúa Thánh Thần hướng dẫn
Bài Tin Mừng kể về sự tò mò của các Tông Đồ, và đó là sự tò mò tốt. Đáp lại lòng khao khát muốn biết muốn hiểu của các môn đệ, Chúa Giêsu hứa ban Chúa Thánh Thần cho họ. Chúa Thánh Thần sẽ dạy họ mọi điều và nhắc nhớ mọi điều Chúa Giêsu đã nói với các ông.
Trong cuộc sống, sự chắc chắn mà Chúa Thánh Thần ban không giống như một kiện hàng chúng ta nhận được. Không như thế, vì trong cuộc đời, khi cầu nguyện, Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta trong giây phút đó, câu trả lời là dành cho khoảnh khắc đó. Chúa Thánh Thần là người bạn luôn đồng hành bên ta. Các môn đệ hỏi và muốn hiểu, rồi Chúa Thánh Thần nhắc các ông nhớ lại điều Chúa Giêsu đã nói. Ở đây có cuộc đối thoại giữa sự tò mò của con người và sự chắc chắn của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần như bạn đồng hành của trí nhớ, và Ngài giúp chúng ta tránh sai lầm, Ngài giúp chúng ta đi tới niềm vui đích thực.

Hôm nay chúng ta hãy cầu xin hai điều. Thứ nhất là xin thanh tẩy những tò mò của chúng ta, để những tò mò của chúng ta được trong sạch, để ta biết nói không với những tò mò xấu, rằng có những điều tôi không nhất thiết phải thấy, có những điều tôi không cần phải hỏi. Thứ hai là xin ơn mở lòng cho Chúa Thánh Thần, vì nơi Ngài ta nhận được sự hướng dẫn chắc chắn, vì Ngài là người bạn đồng hành trong cuộc đời. Vì Ngài sẽ dạy ta hiểu mọi điều Chúa Giêsu đã nói, và Ngài sẽ nhắc ta nhớ mọi điều.
Tứ Quyết SJ


Đức Thánh Cha tiếp Hiệp Hội giúp những người bị bệnh họa hiếm


Đức Thánh Cha tiếp Hiệp Hội giúp những người bị bệnh họa hiếm

VATICAN. ĐTC khích lệ hiệp hội nghiên cứu và liên đới với các bệnh nhân bị bệnh họa hiếm.
 Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 30-4-2018 dành cho 62 thành viên Hiệp Hội ”Một đời sống họa hiếm”, một tổ chức theo đuổi mục tiêu liên đới xã hội, hỗ trợ việc nghiên cứu khoa học bảo vệ sức khỏe để chăm sóc những người bị bệnh họa hiếm, đặc biệt là những người bị hiệu chứng gọi là Allan-Herndon-Dugle, một thứ bệnh chậm trí liên quan đến nhiễm sắc thể X.
 Ngỏ lời với các thành viên hiệp hội, ĐTC bày tỏ lòng ngưỡng mộ ý chí của những gia đình có con cái bị bệnh họa hiếm, liên kết với nhau để đương đầu với tình cảnh tiêu cực và cố gắng cải tiến cuộc sống ấy. Ngài nhận xét rằng các hội viên đã có gắng nhìn những khía cạnh tích cực: mỗi cuộc sống con người là duy nhất. ĐTC nói:
 ”Cái nhìn tích cực này là một ”phép lạ” tiêu biểu của tình thương. Chính tình thương thực hiện điều này là: biết nhìn điều thiện hảo trong một hoàn cảnh tiêu cực, biết bảo tồn ngọn lửa bé nhỏ giữa đêm tối.. Tình yêu cũng thực hiện một phép lạ khác nữa, đó là giúp chúng ta cởi mở đối với tha nhân, có khả năng chia sẻ, liên đới, cả khi ta chịu đau khổ vì một thứ bệnh hoặc một hoàn cảnh nặng nề, làm hao mòn sức lực trong cuộc sống thường nhật”.
 ĐTC cũng cám ơn Chúa vì sáng kiến đi 700 cây số từ nhà của nhiều hội viên để đến Roma ngày hôm nay: một cuộc bộ hành cho sự sống và hy vọng” (Rei 30-4-2018)
 G. Trần Đức Anh OP


APRIL 30, 2018 : MONDAY OF THE FIFTH WEEK OF EASTER


Monday of the Fifth Week of Easter
Lectionary: 285

Reading 1ACTS 14:5-18
There was an attempt in Iconium
by both the Gentiles and the Jews,
together with their leaders,
to attack and stone Paul and Barnabas.
They realized it,
and fled to the Lycaonian cities of Lystra and Derbe
and to the surrounding countryside,
where they continued to proclaim the Good News.

At Lystra there was a crippled man, lame from birth,
who had never walked. 
He listened to Paul speaking, who looked intently at him,
saw that he had the faith to be healed,
and called out in a loud voice, "Stand up straight on your feet."
He jumped up and began to walk about.
When the crowds saw what Paul had done,
they cried out in Lycaonian,
"The gods have come down to us in human form." 
They called Barnabas "Zeus" and Paul "Hermes,"
because he was the chief speaker.
And the priest of Zeus, whose temple was at the entrance to the city,
brought oxen and garlands to the gates,
for he together with the people intended to offer sacrifice.

The Apostles Barnabas and Paul tore their garments
when they heard this and rushed out into the crowd, shouting,
"Men, why are you doing this? 
We are of the same nature as you, human beings. 
We proclaim to you good news
that you should turn from these idols to the living God,
who made heaven and earth and sea and all that is in them.
In past generations he allowed all Gentiles to go their own ways;
yet, in bestowing his goodness,
he did not leave himself without witness,
for he gave you rains from heaven and fruitful seasons,
and filled you with nourishment and gladness for your hearts."
Even with these words, they scarcely restrained the crowds
from offering sacrifice to them.
Responsorial PsalmPS 115:1-2, 3-4, 15-16
R. (1ab) Not to us, O Lord, but to your name give the glory.
or:
R. Alleluia.
Not to us, O LORD, not to us
but to your name give glory
because of your mercy, because of your truth.
Why should the pagans say,
"Where is their God?"
R. Not to us, O Lord, but to your name give the glory.
or:
R. Alleluia.
Our God is in heaven;
whatever he wills, he does.
Their idols are silver and gold,
the handiwork of men.
R. Not to us, O Lord, but to your name give the glory.
or:
R. Alleluia.
May you be blessed by the LORD,
who made heaven and earth.
Heaven is the heaven of the LORD,
but the earth he has given to the children of men.
R. Not to us, O Lord, but to your name give the glory.
or:
R. Alleluia.

AlleluiaJN 14:26
R. Alleluia, alleluia.
The Holy Spirit will teach you everything
and remind you of all I told you.
R. Alleluia, alleluia.
Jesus said to his disciples:
"Whoever has my commandments and observes them
is the one who loves me.
Whoever loves me will be loved by my Father,
and I will love him and reveal myself to him."
Judas, not the Iscariot, said to him,
"Master, then what happened that you will reveal yourself to us
and not to the world?"
Jesus answered and said to him,
"Whoever loves me will keep my word,
and my Father will love him,
and we will come to him and make our dwelling with him.
Whoever does not love me does not keep my words;
yet the word you hear is not mine
but that of the Father who sent me.

"I have told you this while I am with you.
The Advocate, the Holy Spirit 
whom the Father will send in my name --
he will teach you everything
and remind you of all that I told you."


Meditation: "If you love me, keep my word"
Do you know the love that surpasses all, that is stronger than death itself (Song of Songs 8:6)? In Jesus' last supper discourse he speaks of the love he has for his disciples and of his Father's love. He prepares his disciples for his imminent departure to return to his Father by exhorting them to prove their love for him through their loyalty and obedience to his word. He promises them the abiding instruction and consolation of the Holy Spirit.
Saint Augustine says the Lord loves each of us as if there were only one of us to love. God’s love for each of us is as real and tangible as the love of a mother for her child and the love of a lover who gives all for his beloved. God made us in love for love - to know him personally and to grow in the knowledge of his great love for us and to love him in return.
God's love has been poured into our hearts through the Holy Spirit
How can we know and be assured of the love of God? The Holy Spirit helps us to grow in the knowledge of God and his great love. The Spirit enables us to experience the love of God and to be assured of the Lord’s abiding presence with us
 (see Romans 5:5 and 8:35-39). The Holy Spirit also opens our ears to hear and understand the word of God. Do you listen attentively to God's word and believe it? Ask the Holy Spirit to inflame your heart with the love of God and his word.
"Lord Jesus, in love you created me and you drew me to yourself. May I never lose sight of you nor forget your steadfast love and faithfulness. And may I daily dwell upon your word and give you praise in the sanctuary of my heart, You who are my All."
Daily Quote from the early church fathers: God is pleased to dwell in us, by Augustine of Hippo, 354-430 A.D.
"God is not too grand to come, he is not too fussy or shy, he is not too proud - on the contrary he is pleased to come if you do not displease him. Listen to the promise he makes. Listen to him indeed promising with pleasure, not threatening in displeasure, "We shall come to him," he says, "I and the Father." To the one he had earlier called his friend, the one who obeys his precepts, the keeper of his commandment, the lover of God, the lover of his neighbor, he says, "We shall come to him and make our abode with him." (excerpt from Sermon 23,6)


MONDAY, APRIL 30, JOHN 14:21-26
Easter Weekday

​(Acts 14:5-18; Psalm 115)

KEY VERSE: "Whoever has my commandments and observes them is the one who loves me" (v.21).
TO KNOW: As Jesus prepared to return to the Father, he comforted his fearful and bewildered disciples about his impending departure. The disciples were afraid that Jesus was abandoning them, but he assured them that he would not leave them orphans. He and the Father would send another "Advocate" (Greek, parakletos, an intercessor, one who defends someone as in a court of law) who would give them help in time of need. Jesus gave a "new commandment" to his followers, to "love one another" as he loved them (Jn 13:34). Judas (not the Iscariot) asked, “Master, why is it that you will reveal yourself to us and not to the world?” Jesus said that the unbelieving world could not accept this truth because they did not love him, nor did they keep his commands. Jesus' disciples would prove their love by obedience to his word and by loving one another. Jesus promised that he and the Father would make their dwelling within the hearts of believers. The Holy Spirit, or the "Advocate," would be sent by the Father in Jesus' name to remind his followers of everything that he taught them.
TO LOVE: Have I kept Jesus' command to love those who may be difficult to love?
TO SERVE: Holy Spirit, be my advocate when I face a difficult situation.

Optional Memorial of Saint Pius V, pope

Upon his ascension to the papacy, Pius V faced the task of enacting the reforms of the Council of Trent. Foundations were established to spread the faith and preserve the doctrine of the Church. New seminaries were opened, a new breviary, a new missal, and a new catechism were published. Pius spent much time personally working with the needy. He built hospitals and used the papal treasury to care for the poor. At the time of his death he was working on a Christian, European alliance to break the power of the Islamic states.



Monday 30 April 2018

St Pius V.
Acts 14:5-18. Psalm 113B(115):1-4, 15-16. John 14:21-26.
Not to us, O Lord, but to your name give the glory—Psalm 113B(115):1-4, 15-16.
The Holy Spirit, who the Father will send, will teach you all things.
In my prayerful reflection today I will endeavour to hear the words of Jesus recorded in this Gospel extract from his supper discourse as if they were addressed to me personally. Calling me by name, Jesus says to me: ‘If you love me, you will keep my word and my Father will love you and we will come to you and make our home with you.’
To me he promises to send the Holy Spirit who will teach me everything and remind me of all that he has said to me. O Lord, may I never forget your steadfast love and faithfulness. Draw me ever more closely to yourself and open my ears to hear your saving word, to understand it more fully and to live my life in accordance with it.


Saint Pius V
Saint of the Day for April 30
(January 17, 1504 – May 1, 1572)


Saint Pius V’s Story
This is the pope whose job it was to implement the historic Council of Trent. If we think popes had difficulties in implementing Vatican Council II, Pius V had even greater problems after Trent four centuries earlier.
During his papacy (1566-1572), Pius V was faced with the almost overwhelming responsibility of getting a shattered and scattered Church back on its feet. The family of God had been shaken by corruption, by the Reformation, by the constant threat of Turkish invasion, and by the bloody bickering of the young nation-states. In 1545, a previous pope convened the Council of Trent in an attempt to deal with all these pressing problems. Off and on over 18 years, the Fathers of the Church discussed, condemned, affirmed, and decided upon a course of action. The Council closed in 1563.
Pius V was elected in 1566 and charged with the task of implementing the sweeping reforms called for by the Council. He ordered the founding of seminaries for the proper training of priests. He published a new missal, a new breviary, a new catechism, and established the Confraternity of Christian Doctrine classes for the young. Pius zealously enforced legislation against abuses in the Church. He patiently served the sick and the poor by building hospitals, providing food for the hungry, and giving money customarily used for the papal banquets to poor Roman converts. His decision to keep wearing his Dominican habit led to the custom–to this day–of the pope wearing a white cassock.
In striving to reform both Church and state, Pius encountered vehement opposition from England’s Queen Elizabeth and the Roman Emperor Maximilian II. Problems in France and in the Netherlands also hindered Pius’s hopes for a Europe united against the Turks. Only at the last minute was he able to organize a fleet which won a decisive victory in the Gulf of Lepanto, off Greece, on October 7, 1571.
Pius’s ceaseless papal quest for a renewal of the Church was grounded in his personal life as a Dominican friar. He spent long hours with his God in prayer, fasted rigorously, deprived himself of many customary papal luxuries, and faithfully observed the spirit of the Dominican Rule that he had professed.

Reflection
In their personal lives and in their actions as popes, Saint Pius V and Blessed Paul VI both led the family of God in the process of interiorizing and implementing the new birth called for by the Spirit in major Councils. With zeal and patience, Pius and Paul pursued the changes urged by the Council Fathers. Like Pius and Paul, we too are called to constant change of heart and life.


LECTIO DIVINA: JOHN 14,21-26
Lectio Divina: 
 Monday, April 30, 2018
Easter Time

1) OPENING PRAYER
Lord God, loving Father,
we look for your presence
in the temple of nature
and in churches built by our hands,
and you are there with your people.
But above all, you have made your temple
right in our hearts.
God, give us eyes of faith and love
to recognize that you live in us
with your Son and the Holy Spirit
if we keep the word of Jesus Christ,
your Son and our Lord for ever.
2) GOSPEL READING - JOHN 14,21-26
Jesus said to his disciples: "Whoever holds to my commandments and keeps them is the one who loves me; and whoever loves me will be loved by my Father, and I shall love him and reveal myself to him.' Judas -- not Judas Iscariot -- said to him, 'Lord, what has happened, that you intend to show yourself to us and not to the world?' Jesus replied: Anyone who loves me will keep my word, and my Father will love him, and we shall come to him and make a home in him. Anyone who does not love me does not keep my words. And the word that you hear is not my own: it is the word of the Father who sent me. I have said these things to you while still with you; but the Paraclete, the Holy Spirit, whom the Father will send in my name, will teach you everything and remind you of all I have said to you.
3) REFLECTION
• As we said at the beginning, chapter 14 of the Gospel of John is a beautiful example of how the catechesis was done in the communities of Asia Minor, at the end of the first century. Through the questions of the disciples and the responses of Jesus, the Christians formed their conscience and found an orientation for their problems. In chapter 14, we find the question of Thomas and the answer of Jesus (Jn 14, 5-7), the question of Philip and the response of Jesus (Jn 14, 8-21), and the question of Judas and the answer of Jesus (Jn 12, 22-26). The last phrase of the answer of Jesus to Philip (Jn 14, 21) forms the first verse of today’s Gospel.
• John 14, 21: I shall love him and reveal myself to him. This verse presents the summary of the response of Jesus to Philip. Philip had said: “Show us the Father and then we shall be satisfied!” (Jn 14, 8). Moses had asked God: “Show me your glory!” (Ex 33, 18). God answered: “My face you cannot see, for no human being can see me and survive” (Ex 33, 20). The Father cannot be shown. God lives in inaccessible light (1 Tim 6, 16). “Nobody has ever seen God” (I Jn 4, 12). But the presence of the Father can be experienced through the experience of love. The First Letter of Saint John says: “He who does not love does not know God because God is Love”. Jesus tells Philip: “Whoever loves me will be loved by my Father, and I shall love him and reveal myself to him”. By observing the commandment of Jesus, which is the commandment to love our neighbour (Jn 15, 17), the person shows his love for Jesus. And whoever loves Jesus, will be loved by the Father and can be certain that the Father will manifest himself to him. In the response to Judas, Jesus will say how this manifestation of the Father will take place in our life.
• John 14, 22: The question of Judas is the question of all. The question of Judas: “Lord, what has happened that you intend to show yourself to us and not to the world?” This question of Judas mirrors a problem which is real even today. Sometimes, among us, Christians, there arises the idea of being better than the others and of being loved by God more than others. Do we attribute to God the distinction among persons?
• John 14, 23-24: The answer of Jesus. The answer of Jesus is simple and profound. He repeats what he had just said to Philip. The problem is not if we, Christians, are loved more by God than others, or that the others are despised by God. This is not the criterion for the preference of the Father. The criterion for the preference of the Father is always the same: love. “If anyone loves me, he will observe my word, and my Father will love him and we shall come to him and make a home in him. Anyone who does not love me does not keep my words”. Independently of whether the person is Christian or not, the Father manifests himself to all those who observe the commandment of Jesus which is love for neighbour (Jn 15, 17). In what does the manifestation of the Father consist? The response to this question is engraved in the heart of humanity, in the universal human experience. Observe the life of the persons who practice love and make of their life a gift for others. Examine their experience, independently of religion, of social class, of race or colour, the practice of love gives us a profound peace and it is a great joy that they succeed to live and bear together pain and suffering. This experience is the reflection of the manifestation of the Father in the life of the person. It is the realization of the promise: “I and the Father will come to him and make our home in him.
• John 14, 25-26: The promise of the Holy Spirit. Jesus ends his response to Judas saying: I have said these things to you while still with you. Jesus communicates everything which he has heard from the Father (Jn 15, 15). His words are a source of life and they should be meditated, deepened and updated constantly in the light of the always new reality which surrounds us. For this constant meditation of his words, Jesus promises us the help of the Holy Spirit: “The Consoler, the Holy Spirit that the Father will send in my name will teach you everything and remind you of all I have said to you.
4) PERSONAL QUESTIONS
• Jesus says: We will come to him and make our home in him. How do I experience this promise?
• We have the promise of the gift of the Spirit to help us understand the word of Jesus. Do I invoke the light of the Spirit when I prepare myself to read and meditate the Scripture?
5) CONCLUDING PRAYER
Day after day I shall bless you,
I shall praise your name for ever and ever.
Great is Yahweh and worthy of all praise,
his greatness beyond all reckoning. (Ps 145,2-3)