Trang

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Bài phỏng vấn Ðức Thánh Cha Phanxicô sau khi kết thúc Ngày Quốc Tế Giới Trẻ tại Rio de Janeiro

Bài phỏng vấn Ðức Thánh Cha Phanxicô
sau khi kết thúc Ngày Quốc Tế Giới Trẻ
tại Rio de Janeiro


Bài phỏng vấn Ðức Thánh Cha Phanxicô dành cho đài truyền hình Brasil Globo sau khi kết thúc Ngày Quốc Tế Giới Trẻ tại Rio de Janeiro.

Brazil (SD 29-07-2013; Vat. 30-07-2013) - Chuyến viếng thăm Brasil của Ðức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Quốc Tế Giới Trẻ tại Rio de Janeiro đã kết thúc rất tốt đẹp. Trước khi rời Brasil để trở về Roma Ðức Thánh Cha đã dành cho đài truyền hình Brasil Globo một buổi phỏng vấn dài. Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn nội dung bài phỏng vấn này.

Hỏi: Thưa Ðức Thánh Cha, Ðức Thánh Cha đã được tiếp đón ra sao tại Brasil?

Ðáp: Tôi đã được tiếp đón với lòng trìu mến mà tôi đã không biết đến, một cách rất nồng nhiệt. Người dân Brasil có một trái tim rất lớn. Liên quan tới sự cạnh tranh giữa Brasil và Argentina, thì tôi tin là nó đã được vượt thắng rồi. Chúng tôi đã làm một áp phe với nhau: Ðức Thánh Cha là người Argentina, nhưng mà Thiên Chúa là người Brasil.

Hỏi: Tại Brasil này Ðức Thánh Cha đã dùng một chiếc xe rất đơn sơ. Thế rồi ngài lại còn ở nhà trọ thánh Marta nữa. Sự đơn sơ này có phải là một chỉ dẫn mới cho các Linh Mục, Giám Mục và các Hồng Y không?

Ðáp: Ðó là những điều khác nhau. Cần phải phân biệt và giải thích chúng. Chiếc xe mà tôi dùng bên Brasil này rất giống chiếc xe tôi dùng ở Roma, một chiếc xe Ford Focus mầu xanh. Ðó là một chiếc xe đơn sơ, ai đó có thể mua được. Trong điều này tôi tin rằng chúng tôi phải làm chứng cho sự đơn sơ, cả cho sự nghèo túng nữa. Người dân của chúng ta đòi hỏi sự nghèo nàn nơi các Linh Mục của họ. Họ đòi buộc trong nghĩa tốt, chứ họ không xin chúng tôi điều đó. Người dân cảm thấy con tim bị thương tích, khi trông thấy các người sống đời thánh hiến bám víu vào tiền bạc. Và đó là điều xấu. Thế rồi không phải là gương tốt để theo, khi một Linh Mục có một chiếc xe mốt mới nhất. Tôi tin rằng... tôi đã luôn luôn nói với các cha xứ ở Buenos Aires: linh mục cần một chiếc xe, đó là điều cần thiết. Trong giáo xứ có hàng ngàn việc phải làm, các di chuyển là điều cần thiết. Nhưng nó phải là một chiếc xe khiêm tốn. Ðó là liên quan tới xe.
Về việc quyết định sống tại nhà trọ thánh Marta, tôi đã không quyết định vì sự đơn sơ, bởi vì căn hộ của Giáo Hoàng lớn, nhưng không sang trọng. Nó đẹp, nhưng không có sự sang trọng như trong thư viện của các tầng bên dưới, nơi chúng tôi tiếp khách. Có rất nhiều tác phẩm tuyệt tác, rất đẹp, nhưng căn hộ thì đơn sơ. Tuy nhiên, quyết định ở lại trong nhà trọ thánh Marta liên quan tới tôi, như tôi được tạo dựng nên như vây. Tôi không sống một mình được. Tôi không thể sống đóng kín. Tôi cần sự hiện diện của người ta. Vì thế tôi quyết định giải thích nó như thế này: tôi quyết định ở lại trong nhà trọ thánh Marta, bởi vì nhà phân tâm học khuyên tôi như thế.
Ðể không phải sống một sự cô đơn không tốt cho tôi. Và cũng là để tiết kiệm nữa, nếu không thì tôi phải tiêu nhiều tiền cho các nhà phân tâm, và như thế thì không tốt. Tôi sống ở đây để ớ với người ta. Nhà trọ thánh Marta là một nhà tiếp đón, trong đó có 40 Giám Mục và Linh Mục làm việc trong Tòa Thánh. Có trên dưới 130 phòng, có các Linh Mục, Giám Mục, Hồng Y và giáo dân ở trong đó. Tôi dùng bữa với tất cả mọi người, ăn sáng, ăn trưa và ăn tối. Chúng tôi luôn gặp những người khác, và tôi thích điều này. Ðó là các lý do chính. Bây giờ tôi xin qua luật tổng quát: tôi tin rằng Thiên Chúa xin chúng ta sống đơn sơ hơn trong lúc này đây. Nó là một cái gì đến từ bên trong, làm tâm trí vui sướng. Công Ðồng đã lôi kéo sự chú ý tới điều này: một cuộc sống đơn sơ hơn, nghèo hơn. Tôi không biết đã trả lời cho các câu hỏi liên quan tới xe và nhà trọ thánh Marta, và các luật lệ tổng quát hay chưa.

Hỏi: Ðức Thánh Cha đã nhắc cho con biết việc tôn phong Hiển thánh cho Ðức Gioan XXIII. Ðây có phải là một mẫu gương mà Ðức Thánh Cha muốn lấy lại hay không?

Ðáp: Tôi tin rằng hai vị Giáo Hoàng sẽ được phong Hiển thánh trong cùng một lễ nghi là hai gương mẫu bổ túc cho nhau trong Giáo Hội. Cả hai vị đã làm chứng cho việc canh tân Giáo Hội và đồng thời, cũng đã biết duy trì truyền thống của Giáo Hội. Cả hai vị đã mở các cánh cửa cho tương lai. Ðức Gioan XXIII đã mở cửa của Công Ðồng cho tới ngày nay còn linh hứng cho chúng ta, nhưng vẫn chưa được thực hành. Ðem ra thực hành các quyết định của Công Ðồng không phải là dễ, cần phải chờ đợi. Ðể thực thi các quyết định của một Công Ðồng trung bình phải cần tới 100 năm. Như thế chúng ta mới đi được nửa đường thôi. Và Ðức Gioan Phaolô II đã cầm vali và đi đó đây trên thế giới. Ngài đã là một thừa sai, ngài đã đi phổ biến sứ điệp của Giáo Hội. Một thừa sai. Ðó là hai vĩ nhân đối với Giáo Hội ngày nay. Vì thế đối với tôi sẽ là một niềm vui lớn trông thấy cả hai vị được tôn phong Hiển thánh trong cùng một ngày, trong cùng một buổi cử hành.

Hỏi: Khi Ðức Thánh Cha tới Brasil, việc giữ an ninh đã không được đúng đắn. Với xe chở ngài bị dừng lại ở đó giữa đám đông, Ðức Thánh Cha Phanxicô có sợ hãi không? Ðức Thánh Cha đã cảm thấy gì trong lúc đó?

Ðáp: Tôi không sợ hãi. Tôi vô ý thức, nhưng tôi không sợ hãi. Tôi biết là không có ai chết trong Kinh Chiều. Khi tới, thì điều Thiên Chúa muốn sẽ đến. Nhưng trước chuyến du hành, tôi đã đi coi chiếc xe sẽ phải gửi qua Brasil. Nó hoàn toàn bọc kính, kín mít. Nếu chúng ta muốn ở với những người chúng ta yêu mến, với các bạn bè, chúng ta muốn thông truyền với nhau, thì đừng du hành với một căn nhà bằng kính. Không, tôi sẽ không thể nào đến đây để trông thấy dân chúng có con tim vĩ đại như thế, mà bị đóng kín trong một cái hộp bằng kính được. Và khi tôi ở trong xe, dọc đường tôi quay kính xuống. Ðể có thể giơ tay chào dân chúng. Tôi muốn nói rằng: hoặc là tất cả hoặc là không gì hết. Hoặc là du hành như phải làm, hay là không du hành.
Việc thông truyền một nửa là điều không tốt. Tôi xin cám ơn lực lượng an ninh Vaticăng về cung cách tổ chức chuyến viếng thăm và sự chú ý mà họ luôn luôn có. Về điểm này tôi phải rất là rõ ràng. Và tôi cũng xin cám ơn lực lượng an ninh Brasil rất nhiều, thật vậy. Bởi vì ở đây họ lo lắng cho tôi để không xảy ra điều gì đáng tiếc. Ðiều gì đó có thể xảy ra, một người nào đó có thể đánh tôi... có thể xảy ra. Tất cả các lực lượng an ninh đã làm việc rất tốt. Tuy nhiên, họ biết tôi thiếu kỷ luật trong nghĩa này. Không phải vì tôi hành động như là một đứa bé vô kỷ luật. Không, nhưng bởi vì tôi đã tới thăm dân chúng và tôi muốn đụng vào họ.

Hỏi: Thưa Ðức Thánh Cha, Ðức Hồng Y Claudio Hummes, là bạn thân của Ðức Thánh Cha, đã đề cập tới nỗi lo lắng về sự kiện tín hữu công giáo tại châu Mỹ Latinh hướng tới các tôn giáo khác, nhất là các giáo phái tin lành. Vậy con xin hỏi Ðức Thánh Cha: tại sao lại xảy ra chuyện vậy này, và có thể làm gì bây giờ?

Ðáp: Tôi không biết các lý do và cũng không biết con số. Tôi đã nghe nói về đề tài này trong hai Thượng Hội Ðồng Giám Mục. Năm 2001, là điều chắc chắn, rồi trong một Thượng Hội Ðồng Giám Mục khác nữa, đã có nỗi âu lo đối với cuộc xuất hành của các tín hữu khỏi Giáo Hội công giáo. Tôi không biết cuộc sống Brasil, để có thể đưa ra một câu trả lời. Tôi tin có lẽ Ðức Hồng Y Hummes nói về điều này, nhưng tôi không chắc chắn, nhưng nếu qúy vị nói với tôi là bởi vì qúy vị biết. Tôi không biết giải thích hiện tượng này. Tôi xin đưa ra một giả thiết: đối với tôi việc gần gữi với Giáo Hội là điều nền tảng, bởi vì Giáo Hội là mẹ, và chúng ta không biết một bà mẹ qua liên lạc từ xa. Mẹ nâng niu chúng ta, đụng chạm tới chúng ta, hôn chúng ta và yêu thương chúng ta. Khi Giáo Hội dấn thân trong hàng ngàn việc, lơ là sự gần gũi này, lơ là điều đó, và chỉ thông truyền với các tài liệu, thì giống như một bà mẹ liên lạc với con cái qua thư từ. Tôi không biết đó có phải là điều xảy ra tại Brasil này hay không, nhưng tôi biết là nó đã xảy ra trong một vài vùng bên Argentina: Giáo Hội thiếu sự gần gũi. Thiếu các Linh Mục. Thiếu các Linh Mục, vì thế vài vùng bị bỏ trống. Và người dân tìm kiếm, họ cần đến Tin Mừng.
Có một Linh Mục kể lại với tôi rằng cha đã đi làm việc thừa sai tại một vùng ở niền nam nước Argentina, nơi từ 20 năm qua đã không có một Linh Mục nào. Ðương nhiên là dân chúng lắng nghe vị mục sư, vì họ cần lắng nghe Lời Chúa. Khi cha đến nơi, thì có một bà rất là thông thái nói với cha rằng: "Con giận lắm, vì Giáo Hội đã bỏ rơi chúng con. Bây giờ mỗi Chúa Nhật con đi nghe mục sư giảng, bởi vì chính ông ta đã dưỡng nuôi đức tin của chúng con trong một thời gian dài". Ðã thiếu sự gần gũi. Họ đã đề cập tới vấn đề này, và vị linh mục đã lắng nghe bà, và khi cha sắp từ giã bà, thì bà nói: "Xin cha chờ một chút, xin cha tới đây." Rồi bà đến gần cái tủ, nơi bà cất giữ ảnh Ðức Trinh Nữ. Bà nói với vị linh mục: "Con đã giấu Ðức Mẹ ở đây để cho mục sư không thấy được". Người đàn bà này đến với mục sư, kính trọng ông, vì ông nói với bà về Lời Chúa và bà chấp nhận ông ta, bởi vì bà đã không có linh mục. Nhưng bà đã duy trì gốc rễ đức tin của mình và cất giấu nó trong một cái tủ. Ðối với tôi đây là vấn đề nghiêm trọng nhất. Giai thoại này chứng minh cho thấy rất rõ ràng thảm cảnh của hiện tượng tín hữu trốn khỏi Giáo Hội, thảm cảnh của sự thay đổi này. Thiếu sự gần gũi. Tôi xin lập lại hình ảnh của bà mẹ lo lắng, hôn hít, nâng niu và dưỡng nuôi đứa con của mình, không phải bằng thư tín.

Hỏi: Như thế là chúng ta phải sống gần gũi, có phải thế không ạ?

Ðáp: Vâng, sống gần gũi. Ðó là một trong những chỉ dẫn cho Giáo Hội ngày nay: tôi muốn một Giáo Hội gần gũi với dân chúng.

Hỏi: Thưa Ðức Thánh Cha Phanxicô, khi ngài đã được bầu trong Mật Nghị Hồng Y, các cơ quan Trung Ương Tòa Thánh đã bị các Hồng Y phê bình nhiều. Tâm tình mà con cảm thấy bây giờ sau khi nói chuyện với vài vị Hồng Y, là tâm tình của sự thay đổi. Có đúng như vậy không?

Ðáp: Tôi xin mở một dấu ngoặc, một lúc. Khi tôi được bầu, tôi đã có bên cạnh người bạn của tôi là Ðức Hồng Y Hummes. Bởi vì chúng tôi ngồi cạnh nhau. Chính ngài đã nói với tôi một câu khiến cho tôi hạnh phúc: "Ðừng quên người nghèo". Thật là đẹp. Về điểm này thì các cơ quan Trung Ương Tòa Thánh đã luôn luôn bị chỉ trích, ít nhiều như thế. Trung Ương Tòa thánh phải giải quyết nhiều việc. Có vài điều tôi thích, các điều khác thì ít hơn, vài cung cách làm việc có nền tảng vững chắc, các cung cách khác có lửa sai lầm, cũng như tất cả mọi tổ chức. Tôi thì tôi sẽ nói như thế này: trong các cơ quan Trung Ương Tòa Thánh có nhiều vị thánh: có các Hồng Y thánh, Giám Mục thánh, Linh Mục, tu sĩ và giáo dân... Người của Thiên Chúa yêu mến Giáo Hội. Ðiều này thì người ta ít thấy. Một cây đổ thì gây nhiều tiếng động hơn là cả một cánh rừng đang lớn lên. Người ta nghe tiếng của các vụ xì căng đan. Chính trong lúc này đây chúng ta có một vụ: đó là việc chuyển ngân 10, 20 triệu mỹ kim của một Ðức Ông. Thật là một đặc ân đẹp vị ấy làm cho Giáo Hội, đúng không? Chúng tôi thừa nhận rằng vị ấy đã hành xử xấu, Giáo Hội phải trừng phạt vị ấy trong hình thức đúng đắn, bởi vì Ðức Ông ấy hành động xấu. Có những trường hợp thuộc loại này. Trước Mật Nghị Hồng Y, các Hồng Y chúng tôi đã có một tuần hội họp với nhau gọi là các phiên nhóm khoáng đại hay toàn thể. Chúng tôi đã đề cập tới mọi vấn đề. Bởi vì chỉ có chúng tôi với nhau và thảo luận với mục đích hiểu biết các thực tại và vạch ra một chân dung của vị Giáo Hoàng mới. Và từ các phiên nhóm đó đã nảy sinh ra nhiều vấn đề mà qúy vị cũng đã biết rồi: Vatileaks vv... Cũng có vấn đề các vụ xì căng đan. Nhưng mà cũng có các thánh. Những người này đã tận hiến cuộc sống để làm việc cho Giáo Hội trong thinh lặng trong Hội Ðồng Tông Tòa. Chúng tôi cũng đã nói tới việc cải tổ các guồng máy cần thiết. Có đúng thật là như vậy. Các Hồng Y đã yêu cầu vị Giáo Hoàng mới thành lập một Ủy ban từ bên ngoài, để nghiên cứu các vấn đề tổ chức Cơ quan trung ương Tòa Thánh. Một tháng sau khi tôi đựơc bầu, tôi đã chỉ định Ủy ban tám Hồng Y, mỗi đại lục một vị, với châu Mỹ hai vị: một vị Bắc Mỹ một vị Nam Mỹ, với một vị điều hợp cũng là người Mỹ châu Latinh và một thư ký người Italia. Ủy ban này đã bắt đầu làm việc, thu thập ý kiến của các Giám Mục, của Các Hội Ðồng Giám Mục, liên quan tới các cải tổ trong năng động của các Thượng Hội Ðồng Giám Mục.
Ðã có nhiều tài liệu được gửi đến. Chúng tôi sẽ có một phiên họp chính thức vào tháng 10 tới đây. Chúng tôi sẽ thảo luận các đường nét hướng dẫn. Tôi không tin rằng chúng tôi sẽ đạt đươc điều gì định đoạt, bởi vì việc cải cách các cơ quan Trung Ương của Tòa Thánh là điều rất nghiêm chỉnh, các đề nghị cũng là điều nghiêm trọng cần phải được chín mùi. Tôi dự kiến hai hay ba cuộc họp khác nữa trước khi có bất cứ cải tổ định đoạt nào.
Ðàng khác, các thầm học gia nói bằng tiếng la tinh rằng, tôi không biết có phải ngay từ thời Trung Cổ hay không: "Giáo Hội phải luôn luôn được cải tổ". Ðể không ở lại đàng sau đuôi. Có các điều ích lợi trong các thế kỷ qúa khứ, trong các thời đại khác, có các quan điểm khác, mà bây giờ không còn cần nữa và phải được tổ chức trở lại. Giáo Hội là năng động và trả lời cho các chuyện của cuộc sống. Và tất cả những điều đó đã được yêu cầu trong các phiên họp của các Hồng Y, trước Mật Nghị Hồng Y bầu Giáo Hoàng. Chúng đã được nói lên một cách rất rõ ràng, các đề nghị cũng rất là rõ ràng và súc tích. Chúng tôi theo đường hướng này. Không biết tôi đã trả lời cho câu hỏi của qúy vị chưa.

Hỏi: Thưa Ðức Thánh Cha Phanxicô, đâu là sứ điệp của Ðức Thánh Cha cho người trẻ? Cả những người trẻ đang phản đối tại các quảng trường...

Ðáp: Trước hết tôi muốn nói rõ là tôi không biết các lý do khiến các bạn trẻ ấy phản đối. Vì vậy nếu tôi nói điều gì về một vấn đề mà tôi không biết rõ, thì tôi làm sai, tôi có thể gây hại cho tất cả mọi người vì đây sẽ là một phán xét vô căn cứ. Tôi xin thẳng thắn nói là tôi không biết rõ tại sao các bạn trẻ kia đang phản đối. Ðây là điểm đầu tiên. Ðiểm thứ hai: tôi không thích một người trẻ không phản đối gì cả. Bởi vì người trẻ luôn mơ mộng đến điều không tưởng, và không phải điều không tưởng nào cũng tiêu cực. Không tưởng là hít thở và nhìn về tương lai. Người trẻ thường không mạch lạc, không có nhiều kinh nghiệm sống cụ thể, điều ấy đúng. Nhưng nhiều khi chính những kinh nghiệm sống ấy lại ngăn cản chúng ta. Và rồi người trẻ có nhiều năng lực hơn để bảo vệ lý tưởng của họ. Người trẻ cốt yếu là người ngược đời, đây là điều rất tốt, là điều hầu như là chung cho mọi người trẻ. Vì thế chúng ta phải lắng nghe người trẻ, phải cung cấp cho người trẻ phương tiện để họ phát biểu tư tưởng, và phải bảo vệ làm sao để người trẻ không bị lèo lái lợi dụng. Biết bao nhiêu người đang bị lạm dụng - với nạn bóc lột sức lao động chẳng hạn - biết bao nhiêu hình thức lợi dụng... Tôi có thể nói rằng có biết bao nhiêu người đang tìm cách lợi dụng giới trẻ, bằng cách lèo lái mộng mơ của họ, lèo lái khát vọng đi ngược đời của người trẻ để rồi phá tan cuộc đời người trẻ. Bởi thế, cần phải đề phòng những mưu toan lèo lái người trẻ. Chúng ta phải luôn luôn lắng nghe người trẻ. Phải thận trọng. Nếu trong một gia đình, các bậc cha mẹ không lắng nghe người con nhỏ, thì rốt cuộc sẽ cô lập con, sẽ gieo rắc buồn đau trong tâm lòng nó, và sẽ không tạo ra được sự trao đổi phong phú, mặc dù nó thiếu kinh nghiệm sống. Cần phải lắng nghe người trẻ và bảo vệ người trẻ trước những âm mưu lèo lái ý thức hệ hay xã hội luân lý. Con đường duy nhất là lắng nghe người trẻ, cho họ quyền lên tiếng phát biểu tư tưởng. Ðiều này khiến tôi đi đến một vấn đề khác, một vấn đề mà một cách nào đó, tôi đã nêu lên trong cuộc gặp gỡ các bạn trẻ người Argentina tại nhà thờ chính tòa hôm nay.

Trong một buổi tiếp các tân đại sứ đến trình ủy nhiệm thư, tôi có nói rằng thế giới chúng ta đang sống ngày nay đã rơi vào tình trạng tuyệt đối tôn thờ tiền bạc, và ngay cả chính trường thế giới cũng bị cuốn hút chạy theo thần tượng bạc tiền. Tiền bạc nắm quyền chỉ huy tối cao ngày nay. Ðiều này đưa đến một nền chính trị duy kinh tế, không còn chịu bất cứ một kiểm soát luân lý đạo đức nào nữa, một chủ thuyết duy kinh tế tự đủ, chia xã hội ra thành từng nhóm tùy theo căn bản lợi nhuận. Ðiều gì sẽ xảy ra lúc ấy? Khi thế giới bị ngự trị bởi thần tượng tuyệt đối là tiền bạc, thế giới sẽ chỉ chú trọng đến trung tâm điểm và mọi thái cực khác của xã hội sẽ bị lãng quên hờ hững bỏ rơi. Cho đến lúc này, chúng ta đã thấy rõ là người già đã bị gạt bỏ ra bên lề xã hội thế nào. Có cả một triết thuyết để gạt bỏ người già ngày nay. Người già vô dụng. Người già đâu còn sản xuất gì được nữa. Cả người trẻ cũng không sản xuất được gì nhiều. Họ cần phải được huấn luyện. Ðiều mà chứng ta đang chứng kiến ngày nay là người trẻ cũng đang sắp bị loại trừ. Tình trạng thất nghiệp tại Âu châu hiện rất đáng lo âu. Tôi không nói rõ là nước nào, nhưng tôi chỉ xin đan cử hai quốc gia châu Âu giàu có làm thí dụ. Một nước có tỷ lệ thất nghiệp là 25%, và trong số này tỷ lệ người trẻ thất nghiệp là 44%. Tại quốc gia thứ hai, tỷ lệ thất nghiệp là 30% và số người trẻ thất nghiệp lên tới quá 50%. Ðó là hiện tượng người trẻ bị gạt ra ngoài lề. Như thế, để bảo trợ cho kiểu mẫu chính trị duy kinh tế toàn cầu này, chúng ta đang gạt bỏ các thái cực ra ngoài lề xã hội, các thái cực vốn là hứa hẹn tương lai. Bởi vì người trẻ là nền tảng tương lai của chúng ta, người trẻ sẽ phải tiến bước xây dựng tương lai, còn người già là những người truyền dạy kinh nghiệm cho giới trẻ. Nếu chúng ta gạt bỏ cả hai ra ngoài lề, thì thế giới sẽ sụp đổ. Không biết là tôi có giải thích rõ chưa.

Vấn đề chung của toàn thế giới hiện nay là thiếu một nền tảng luân lý nhân bản, mỗi địa phương dưới một khía cạnh khác. Tôi xin nói thêm một điều về vấn đề này. Vào thế kỷ thứ XII, tôi nhớ tới Thánh Toma Aquino, vào thế kỷ thứ XII có một Rabbi thông thái, hay viết lách. Rabbi viết chuyện cho cộng đoàn của mình, đề cập đến những vấn đề đạo đức luân lý xuất hiện trong vài trình thuật Thánh Kinh. Một lần, Rabbi giải thích vấn đề tháp Babel. Vị Rabbi thời trung cổ, vào thế kỷ XII giải thích thế này: Ðâu là vấn đề của tháp Babel? Tại sao lại có việc Thiên Chúa trừng phạt như thế? Ðể xây tháp, người ta phải đúc gạch. Người ta phải moi đất sét, nhồi với rơm rạ, phải nén, cắt, đúc gạch, phải phơi khô, nung gạch cho chín trong lò, rồi mới khuân lên cao để tiếp tục xây tường. Nếu một hòn gạch rơi xuống bể nát, thì thật là một tai họa cho cả dân tộc. Nhưng nếu một người thợ xảy chân té xuống, thì chẳng sao cả. Ngày nay, có những bé con không có gì để ăn, những trẻ thơ chết vì đói nghèo, vì thiếu dinh dưỡng. Chỉ cần nhìn những bức ảnh đến từ một số quốc gia là đủ biết. Có bao nhiêu người nam nữ không có gia cư và phải chết thảm trong những ngày đông giá. Có những trẻ em không được giáo dục học hành. Nhưng những điều này không làm nên tin tức. Thế nhưng khi thị trường chứng khoán tụt mất 3 hay 4 điểm, thì đây là một tai họa lớn, là một thảm kịch. Bạn hiểu chứ? Ðây là thảm kịch của thuyết nhân bản vô nhân, mà chúng ta đang sống ngày nay. Vì thế, chúng ta phải hồi phục hai thái cực người trẻ và người già. Và khômg được rơi vào sự hoàn vũ hóa thái độ dửng dưng đối với hai thái cực này, vì người trẻ và người già là tương lai của xã hội. Tôi xin lỗi đã quá dài dòng, nhưng tôi phải nói thế để quảng diễn cho đúng quan điểm của tôi. Ðiều gì đang xảy ra cho các bạn trẻ Brasil, tôi không biết rõ. Nhưng tôi chỉ xin đừng lèo lái họ, mà hãy lắng nghe họ, bởi vì đây là hiện tượng chung của thế giới, chứ không chỉ giới hạn tại Brasil mà thôi.

Hỏi: Thưa Ðức Thánh Cha Phanxicô, Ðức Thánh Cha để lại sứ điệp nào cho người công giáo Brasil và cho cả những người ngoài công giáo? Ðức Thánh Cha muốn để lại sứ điệp nào cho một quốc gia như Brasil?

Ðáp: Tôi nghĩ rằng chúng ta nên thăng tiến một nền văn hóa gặp gỡ trên toàn thế giới, như thế để mỗi người cảm thấy nhu cầu cống hiến cho thế giới những giá trị luân lý đạo đức cần thiết cho toàn nhân loại. Và bảo vệ thực tại nhân loại. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là mọi người chúng ta nên hoạt động phục vụ tha nhân, giảm bớt sự ích kỷ. Công cuộc phục vụ tha nhân này phải đặt nền tảng trên các giá trị của Ðức Tin cá nhân. Mỗi tín ngưỡng có một Ðức Tin riêng, nhưng mọi người cần phục vụ tha nhân trong những giá trị lòng tin của mình. Và công cuộc phục vụ tha nhân này phải là điểm đồng quy, là nơi gặp gỡ chung. Nếu còn có một trẻ thơ đói ăn, không được học hành, chúng ta phải hoạt động để trẻ thơ ấy không còn bị đói hay bị vô học nữa.

Còn việc giáo dục trẻ thơ ấy do người công giáo hay chính thống, tin lành hay do thái làm, điều này không quan trọng. Ðiều quan trọng là trẻ thơ ấy được đủ ăn và được học hành. Ðây là điểm mà chúng ta phải đạt đến thỏa thuận. Ngày nay tình trạng đã khẩn trương đến độ chúng ta không thể tiếp tục bàn cãi giữa chúng ta, làm ngơ trước sự đau khổ của người khác nữa, nhưng phải cấp thiết ra tay hành động cho tha nhân, rồi sau đó, đối thoại giữa chúng ta một cách rộng rãi, không quên Ðức Tin của mình, nhưng trong bầu khí tôn trọng lẫn nhau. Vấn đề quan trọng hiện nay là thái độ đối với tha nhân. Chúng ta phải ra khỏi chính mình để tìm cách giải quyết các vấn đề lớn của thế giới. Tôi nghĩ rằng các tôn giáo khác nhau trên toàn trái đất không thể nào ngủ yên giấc, khi còn một trẻ em không được học hành hay không có đủ ăn, khi còn một người trẻ hay một cụ già không được săn sóc sức khỏe. Dĩ nhiên, hoạt động của các tôn giáo không phải là thiện nguyện. Ðiều đó đúng, nhưng chúng ta là người công giáo, cũng như các giáo hội Kitô khác, chúng ta sẽ bị phán xét trên những hoạt động bác ái này. Và bàn luận về thần học sẽ chẳng có nghĩa lý gì, nếu chúng ta không có khả năng ra khỏi chính mình để giúp đỡ tha nhân, nhất là trong thế giới hiện nay, đang có những người rơi khỏi tháp mà không ai nói gì cả.

(SD 29-7-2013)

Linh Tiến Khải - Mai Anh
(Radio Vatican)


JULY 31, 2013 : MEMORIAL OF SAINT IGNATIUS OF LOYOLA, PRIEST

Memorial of Saint Ignatius of Loyola, Priest 
Lectionary: 403

Reading 1EX 34:29-35
As Moses came down from Mount Sinai
with the two tablets of the commandments in his hands,
he did not know that the skin of his face had become radiant
while he conversed with the LORD.
When Aaron, then, and the other children of Israel saw Moses
and noticed how radiant the skin of his face had become,
they were afraid to come near him.
Only after Moses called to them did Aaron
and all the rulers of the community come back to him.
Moses then spoke to them.
Later on, all the children of Israel came up to him,
and he enjoined on them all that the LORD
had told him on Mount Sinai.
When he finished speaking with them,
he put a veil over his face.
Whenever Moses entered the presence of the LORD to converse with him,
he removed the veil until he came out again.
On coming out, he would tell the children of Israel
all that had been commanded.
Then the children of Israel would see
that the skin of Moses’ face was radiant;
so he would again put the veil over his face
until he went in to converse with the LORD.
Responsorial PsalmPS 99:5, 6, 7, 9
R. (see 9c) Holy is the Lord our God.
Extol the LORD, our God,
and worship at his footstool;
holy is he!
R. 
Holy is the Lord our God.
Moses and Aaron were among his priests,
and Samuel, among those who called upon his name;
they called upon the LORD, and he answered them.
R. 
Holy is the Lord our God.
From the pillar of cloud he spoke to them;
they heard his decrees and the law he gave them.
R. 
Holy is the Lord our God.
Extol the LORD, our God,
and worship at his holy mountain;
for holy is the LORD, our God.
R. 
Holy is the Lord our God.
Jesus said to his disciples:
“The Kingdom of heaven is like a treasure buried in a field,
which a person finds and hides again,
and out of joy goes and sells all that he has and buys that field.
Again, the Kingdom of heaven is like a merchant
searching for fine pearls.
When he finds a pearl of great price,
he goes and sells all that he has and buys it.”


Meditation: "The heavenly treasure and the pearl of great price"
 What do you most treasure and how do you keep it secure? In a peasant community the best safe was often the earth. The man in the parable "went in his joy" to sell everything. Why? Because he found a treasure worth possessing above everything else he had. He did not, however, have enough to buy the treasure. Fortunately, he only needed enough money to buy the field. In a similar fashion, God offers his kingdom as incomparable treasure at a price we can afford! We can't pay the full price for the life which God gives us; but when we exchange our life for the life which God offers, we receive a treasure beyond compare. The pearl of great price also tells us a similar lesson. Pearls in the ancient world came to represent the supremely valuable. Jesus remarked that one should not cast pearls before swine (Matthew 7:6). Why would a merchant sell everything for a peerless pearl? No doubt because he was attracted to what he thought was the greatest treasure he could possess.
Discovering God's kingdom is like stumbling across hidden treasure or finding the one pearl of great price. When we discover the kingdom of God we receive the greatest possible treasure – the Lord himself. Selling all that we have to obtain this incomparable treasure could mean many things – our friends, job, our "style of life", what we do with our free time. Treasure has a special connection to the heart, the place of desire and longing, the place of will and focus. The thing we most set our heart on is our highest treasure. In this parable what does the treasure of the kingdom refer to? It certainly refers to the kingdom of God in all its aspects. But in a special way, the Lord himself is the treasure we seek. If the Almighty is your gold and your precious silver, then you will delight yourself in the Almighty (Job 22:22-23).  Is the Lord the treasure and delight of your heart?
"Lord Jesus, reveal to me the true riches of your kingdom. Help me to set my heart on you alone as the treasure beyond compare with any other. Free my heart of any inordinate desires or attachment to other things that I may freely give to you all that I have in joy and gratitude for all that you have given to me. May I always find joy and delight in your presence."


The Treasure Hunt
Memorial of Saint Ignatius of Loyola, priest

Matthew 13: 44-46
Jesus said to his disciples: "The Kingdom of heaven is like a treasure buried in a field, which a person finds and hides again, and out of joy goes and sells all that he has and buys that field. Again, the Kingdom of heaven is like a merchant searching for fine pearls. When he finds a pearl of great price, he goes and sells all that he has and buys it."
Introductory Prayer: Lord, you have made me for yourself, and my heart is restless until I rest in you. I want to encounter you more deeply today so that you can be my treasure. Thank you for the gift of this new day. I know you love me. I wish to discover your love more deeply and give it to others.
Petition: Lord, help me to treasure the gift of your friendship.
1. In Search of a Treasure: The restlessness in our hearts can be compared to a hunt for treasure. In different ways we all experience the desire for unconditional love, true goodness, the answer to our deepest questions. In Christ, God has come to give himself to us. He is the one we truly long for; he is our greatest treasure. During this time of prayer let us deepen our awareness of the greatness of his gift of friendship, and let us strengthen this friendship by our openness to his love.
2. The Priceless Treasure: In Christ we have experienced the overwhelming faithfulness of God’s love for us. In his mercy we discover that our life has infinite value in the Father’s eyes. In his teachings we discover the wisdom to build our life on solid ground. In his grace we receive the strength to grow in love and holiness. This is where we can build a true future. This is where we can live up to our calling to greatness. But we must be willing to leave aside all other concerns to really possess this treasure. We must leave aside anything that tries to give us a false sense of security outside of God. Am I making my friendship with Christ the one value that guides my heart and my decisions?
3. The Unopened Treasure Chest: Unpacking this treasure is the work of our spiritual life. We need to cooperate with Christ’s grace in order to truly possess this treasure. The cultivation of faith, hope and charity helps us discover and live this treasure more fully each day. Our sacrifices and renunciations done to put on the new man help us dig this treasure out of the earthy make-up of our lives. Living generous charity helps us make this treasure truly last and enrich our lives. Am I sincerely allowing Christ’s treasure to transform me?
Conversation with Christ: Lord, thank you for the gift of your love. You are the treasure I truly long for. Help me to enter more deeply into your heart this day by doing things your way no matter what the cost. Help me to value the gift of your friendship above everything else.
Resolution: I will make a small sacrifice of my time to do something extra for someone who needs God’s love.

WEDNESDAY, JULY 31
MATTHEW 13:44-46

(Exodus 34:29-35, Psalm 99)
KEY VERSE: "The kingdom of heaven is like a treasure buried in a field" (v 44).
READING: Jesus described the role of his disciples in terms of human labor: planting, harvesting, fishing, and baking bread. He told them three more parables to help them understand the meaning of God's reign. In the parable of the buried treasure, there was the great joy in the discovery that made the man willing to give up everything to make the treasure his own. Nothing else really mattered. The irony was that the treasure was foundunexpectedly when he was going about his daily business. In the parable of the priceless pearl, Jesus' point was that the effort to search for and attain the kingdom of God was of inestimable worth and nothing could be compared to it. Jesus' followers had come to value the kingdom as a precious treasure that would last for all eternity. Because they discovered its true worth, they willingly sacrificed everything for its attainment. Jesus further compared God's work to a dragnet that brought forth both worthwhile and useless things. Like the story of the weeds among the wheat (v 24-30), it was not the responsibility of Jesus' disciples to judge the actions of others. God would ultimately reveal what was good and what was evil in the world.
REFLECTING: Do I seek heavenly treasure or is my sight set on the riches that the world offers?
PRAYING: Lord Jesus, help me to value your kingdom above all else.
Memorial of Ignatius of Loyola, priest

Born in 1491 at Loyola, Spain, Ignatius was wounded in the leg by a cannonball at the siege of Pampeluna in 1521, an injury that left him partially crippled for life. During his recuperation the only books he had access to were The Golden Legend, a collection of lives of the saints, and The Life of Christ. These books, and the time spent in contemplation, changed him. Upon his recovery he took a vow of chastity, hung his sword before the altar of the Virgin of Montserrat, and donned a pilgrim's robes. He journeyed to Rome and the Holy Land where he worked to convert Muslims. His meditations, prayers, visions and insights led to forming the Constitutions of the Society of Jesus (Jesuits) on 15 August 1534. He traveled to Europe and the Holy Lands, then settled in Rome to direct the Jesuit order. His health suffered in later years, and he was nearly blind at death. The Jesuits today have over 500 universities and colleges, 30,000 members, and teach over 200,000 students each year.

"Teach us to be generous, good Lord; teach us to serve You as You deserve; to give and not to count the cost, to fight and not to heed the wounds, to toil and not to seek for rest, to labor and not to ask for any reward save that of knowing we do Your will." - Prayer, Ignatius of Loyola 

Holy is the Lord our God
He sells everything he owns and buys the field.
Matthew presents Jesus' teaching on the kingdom of heaven in a series of short parables. Today we meet two men, an agricultural worker and a presumably well-to-do merchant, who both make the same radical decision. They invest all their worldly wealth in pursuit of one exceptionally valuable object which they believe will fulfil their deepest yearnings.

However, our Christian faith tells us that only in God can our restless human heart find true peace and joy. To achieve this end we too must make a radical commitment not only of what we possess but also of our very selves because to offer God less than all is to settle for less than God. The cost of discipleship is, in the poet's words, 'not less than everything'.


July 31
St. Ignatius of Loyola
(1491-1556)

The founder of the Jesuits was on his way to military fame and fortune when a cannon ball shattered his leg. Because there were no books of romance on hand during his convalescence, Ignatius whiled away the time reading a life of Christ and lives of the saints. His conscience was deeply touched, and a long, painful turning to Christ began. Having seen the Mother of God in a vision, he made a pilgrimage to her shrine at Montserrat (near Barcelona). He remained for almost a year at nearby Manresa, sometimes with the Dominicans, sometimes in a pauper’s hospice, often in a cave in the hills praying. After a period of great peace of mind, he went through a harrowing trial of scruples. There was no comfort in anything—prayer, fasting, sacraments, penance. At length, his peace of mind returned.
It was during this year of conversion that Ignatius began to write down material that later became his greatest work, the Spiritual Exercises.
He finally achieved his purpose of going to the Holy Land, but could not remain, as he planned, because of the hostility of the Turks. He spent the next 11 years in various European universities, studying with great difficulty, beginning almost as a child. Like many others, his orthodoxy was questioned; Ignatius was twice jailed for brief periods.
In 1534, at the age of 43, he and six others (one of whom was St. Francis Xavier, December 2) vowed to live in poverty and chastity and to go to the Holy Land. If this became impossible, they vowed to offer themselves to the apostolic service of the pope. The latter became the only choice. Four years later Ignatius made the association permanent. The new Society of Jesus was approved by Paul III, and Ignatius was elected to serve as the first general.
When companions were sent on various missions by the pope, Ignatius remained in Rome, consolidating the new venture, but still finding time to found homes for orphans, catechumens and penitents. He founded the Roman College, intended to be the model of all other colleges of the Society.
Ignatius was a true mystic. He centered his spiritual life on the essential foundations of Christianity—the Trinity, Christ, the Eucharist. His spirituality is expressed in the Jesuit motto, ad majorem Dei gloriam—“for the greater glory of God.” In his concept, obedience was to be the prominent virtue, to assure the effectiveness and mobility of his men. All activity was to be guided by a true love of the Church and unconditional obedience to the Holy Father, for which reason all professed members took a fourth vow to go wherever the pope should send them for the salvation of souls.


Comment:

Luther nailed his theses to the church door at Wittenberg in 1517. Seventeen years later, Ignatius founded the Society that was to play so prominent a part in the Catholic Reformation. He was an implacable foe of Protestantism. Yet the seeds of ecumenism may be found in his words: “Great care must be taken to show forth orthodox truth in such a way that if any heretics happen to be present they may have an example of charity and Christian moderation. No hard words should be used nor any sort of contempt for their errors be shown.” One of the greatest 20thh-century ecumenists was Cardinal Bea, a Jesuit.
Quote:

Ignatius recommended this prayer to penitents: “Receive, Lord, all my liberty, my memory, my understanding and my whole will. You have given me all that I have, all that I am, and I surrender all to your divine will, that you dispose of me. Give me only your love and your grace. With this I am rich enough, and I have no more to ask.”
Patron Saint of:

Retreats

LECTIO: MATTHEW 13,44-46
Lectio: 

 Wednesday, July 31, 2013  
Ordinary Time
1) Opening prayer
God our Father and protector,
without you nothing is holy,
nothing has value.
Guide us to everlasting life
by helping us to use wisely
the blessings you have given to the world.
We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son,
who lives and reigns with you and the Holy Spirit,
one God, for ever and ever. Amen.
2) Gospel Reading
Jesus said to his disciples: 'The kingdom of Heaven is like treasure hidden in a field which someone has found; he hides it again, goes off in his joy, sells everything he owns and buys the field.
'Again, the kingdom of Heaven is like a merchant looking for fine pearls; when he finds one of great value he goes and sells everything he owns and buys it.
3) Reflection
• The Gospel today presents two brief parables from the discourse of the Parables. Both are similar to each other, but with significant differences to clarify better determinate aspects of the Mystery of the Kingdom, which the parables are revealing.
• Matthew 13,44: The parable of the treasure hidden in the field. Jesus tells a very simple and brief story which could happen in the life of any person. He says: The Kingdom of Heaven is like a treasure hidden in a field; someone finds it and hides it again, then he goes off with great joy, he sells everything he owns and buys the field”. Jesus does not explain, he only says: “The Kingdom of Heaven is similar to a treasure hidden in a field”. In this way he urges the auditors to share with others what this story has aroused in them. I share some points that are discovered: (a) The treasure, the Kingdom, is already found in the field, in life. It is hidden. We go through the field and step over the plants without being aware. (b) The man finds the treasure, just out of chance. He did not expect to find it, because he was not looking for it. (c) Seeing that it is a question of a very important treasure, what does he do? He does what we all would do in order to take possession of the treasure. He goes and he sells everything that he has and he buys the field. And, thus, together with the field he obtains the treasure also, the Kingdom. The condition is to sell everything! (d) If the treasure, the Kingdom, is already in my life, then an important aspect of life begins to have a new value. (e) In this story, what dominates is gratuity. The treasure is found by chance, independently of our programmes. The Kingdom comes! And we must draw the consequences and not allow this moment of grace to go by without bearing fruit.
• Matthew 13,45-46: The parable of the merchant of fine pearls. The second parable is similar to the first one, but with an important difference. Let us try to discover it. The story is the following: “The Kingdom of Heaven is like a merchant looking for fine pearls; when he finds one of great value, he goes off and sells everything he owns and buys it”. I share some points that I have discovered: (a) it is the story of a merchant of pearls. His profession is to look for pearls. This is the only thing that he does in his life: to look for and to find pearls. Looking, he finds a pearl of great value. Here the discovery of the Kingdom is not just by chance, but it is the fruit of a long search. (b) The merchant of pearls knows the value of the pearls, because many persons would like to sell him the pearls that they find. But the merchant does not allow himself to be deceived. He knows the value of his merchandise. (c) When he finds a pearl of great value, he goes and sells everything which he owns and buys the pearl. The Kingdom is the greatest value.
• Summarizing the teaching of the two parables. Both of them have the same objective: to reveal the presence of the Kingdom, but each one reveals it in a diverse way: through the discovery of the gratuity of God’s action in us, and through the effort and the search which each human being makes to discover always better, the sense of his/her life.
4) Personal questions
• A hidden treasure: have I found it sometimes? Have I sold everything in order to be able to buy it?
• To look for pearls: which is the pearl that you are looking for and you have not as yet found?
5) Concluding Prayer
I will sing of your strength,
in the morning acclaim your faithful love;
you have been a stronghold for me,
a refuge when I was in trouble. (Ps 59,16)

www.ocarm.org

31-07-2013 : THỨ TƯ TUẦN XVII MÙA THƯỜNG NIÊN - THÁNH I-NHA-XI-Ô (lễ nhớ)

Thứ Tư Ngày 31/07/2013
Tuần 17 Mùa Thường Niên Năm Lẻ
 
Xh 34,29
BÀI ĐỌC I: Xh 34, 29-35
"Thấy mặt ông Môsê, họ sợ không dám đến gần".

Trích sách Xuất Hành.
Khi ông Môsê từ trên núi Sinai đi xuống, ông mang hai bia đá chứng từ; và ông không biết do sự đàm đạo với Chúa, mặt ông sáng láng rực rỡ. Nhưng ông Aaron và con cái Israel thấy mặt ông Môsê sáng láng rực rỡ, thì sợ không dám đến gần. Ông Môsê gọi họ, thì cả Aaron lẫn các thủ lãnh hội đường mới quay lại. Sau khi ông nói chuyện với họ, tất cả con cái Israel mới đến gần ông. Ông truyền lại cho họ tất cả những điều ông đã nghe Chúa phán trên núi Sinai. Nói xong, ông lấy khăn che mặt mình. Khi ông vào trước mặt Chúa và đàm đạo với Người, thì ông cất khăn cho đến lúc ông trở ra và bấy giờ ông thuật lại cho con cái Israel những điều Chúa đã truyền dạy ông. Lúc ông Môsê ra đi, họ thấy mặt ông sáng láng rực rỡ; nhưng khi ông nói với họ, ông che mặt ông lại.  Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA:  Tv 98, 5. 6. 7. 9
Đáp: Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Đấng Thánh (c. 9c).

1) Hãy cao rao Chúa là Thiên Chúa chúng ta. Hãy sấp mình dưới bệ kê chân Người; đây là bệ ngọc chí thánh. -  Đáp.
2) Trong hàng tư tế của Người có Môsê và Aaron, và có Samuel trong số người cầu đảo danh Người. Các ông kêu cầu Chúa và chính Người nhậm lời các ông. -  Đáp.
3) Trong cột mây, bấy giờ Người phán bảo; các ông đã nghe những huấn lệnh của Người, và chỉ thị Người đã truyền cho các ông giữ. -  Đáp.
4) Hãy cao rao Chúa là Thiên Chúng chúng ta; hãy sấp mình trên núi thánh của Người: vì Thiên Chúa, Chúa chúng ta, là Đấng Thánh.   -  Đáp.

ALLELUIA:  1 Sm 3, 9

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe: Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

PHÚC ÂM:   Mt 13, 44-46
"Anh bán tất cả những gì anh có mà mua thửa ruộng đó".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Nước trời giống như kho tàng chôn giấu trong ruộng, người kia tìm được, vội chôn vùi xuống, vui mừng trở về bán tất cả những gì anh có mà mua thửa ruộng ấy. Nước trời cũng giống như người buôn nọ đi tìm ngọc quý. Tìm được một viên ngọc quý, anh trở về bán mọi của cải mà mua viên ngọc ấy.  Đó là lời Chúa.


SUY NIỆM : Kho Tàng Quí Giá

Bài thơ "Viên Ngọc Quí Giá Nhất" của thi hào Tagore có nội dung như sau: Sanathan cầu nguyện đang lúc đi bách bộ dọc theo bờ sông, bỗng có một thanh niên tiến đến và thành khẩn van xin ngài bố thí. Nhà hiền triết đáp: "Ta không có gì cả. Ta đã cho đi tất cả rồi, Ta chỉ còn cái bị ăn mày này thôi".
Người thanh niên tiếp tục nài nỉ:
- Thiên Chúa đã cho tôi đến gặp ngài, vì chỉ có ngài mới có thể giúp tôi và làm cho tôi nên giàu có.
Nhà hiền triết mới sực nhớ ngày nọ ông đã cất giấu bên cạnh bờ biển một viên ngọc quí mà ông đã tình cờ tìm được. Ông nghĩ rằng biết đâu viên ngọc này một ngày nào đó sẽ giúp ích cho một ai đó. Ông liền chỉ cho người thanh niên nơi cất giấu viên ngọc.
Người thanh niên ra đi đào bới và đã tìm được viên ngọc quí. Cầm viên ngọc sáng ngời trong tay, người thanh niên ngồi trên bãi biển và suy nghĩ suốt đêm. Khi bình minh vừa ló dạng, anh tìm đến với nhà hiền triết và khẩn khoản nài xin:
- Thưa ngài, xin hãy cho tôi viên ngọc quí hơn mọi viên ngọc quí. Xin hãy cho tôi thứ của cải vượt trên mọi thứ của cải.
Nói xong, anh ném viên ngọc xuống dòng sông và đứng dậy đi theo nhà hiền triết.
Bài thơ trên đây có thể minh họa cho chúng ta cái nghịch lý chạy xuyên suốt toàn bộ Tin Mừng: mất mát là được lợi lộc, cho là được nhận lãnh, chết là được sống. Ðó là cái nghịch lý mà Chúa Giêsu đã quảng bá và sống cho đến tận cùng: cái chết trên Thập giá và sự Phục sinh vinh hiển của Ngài là một thể hiện của cái nghịch lý ấy.
Trong Tin Mừng hôm nay, với hai dụ ngôn có nội dung gần như nhau, một lần nữa, Chúa Giêsu muốn đề ra cái nghịch lý ấy: vì Nước Trời, con người phải bán đi tất cả, phải chấp nhận mất tất cả. Thế nhưng Nước Trời là gì? Chúa Giêsu xem ra đã không mất giờ và dài dòng trong những lý thuyết khô khan. Với các môn đệ, Ngài nói như một mệnh lệnh: "Hãy theo Ta" và họ đã bỏ mọi sự để đi theo Ngài. Với người thanh niên giàu có, Ngài mời gọi: "Hãy về bán tất cả tài sản, phân phát cho người nghèo, và trở lại đi theo Ta".
Hãy đi theo Ngài, vì Ngài là tất cả. Hãy đánh đổi mọi sự để được sống với Ngài. Chúa Giêsu chính là hiện thân của Nước Trời: nơi Ngài, con người tìm được kho tàng quí giá nhất; nơi Ngài, con người được sống và sống sung mãn. Chính Chúa Giêsu đã nói: "Ta đến để cho chúng được sống và sống dồi dào". Các môn đệ được kêu gọi trước tiên để sống với Ngài. Ðược sống với Ngài, đi theo Ngài, lấy Ngài làm lẽ sống, đó là nội dung đích thực của tư cách làm môn đệ.
Kitô giáo do đó thiết yếu chính là Chúa Giêsu Kitô. Làm Kitô hữu có nghĩa là chọn Chúa làm gia nghiệp và sẵn sàng đánh đổi tất cả để sống cho Ngài và vì Ngài. Làm Kitô hữu có nghĩa là đặt Ngài vào trọng tâm cuộc sống, để dù khi ăn, dù khi uống, dù làm bất cứ việc gì, luôn luôn tôn vinh Ngài. Làm Kitô hữu là sống cho Ngài và sống bằng chính sức sống của Ngài, để có thể thốt lên như thánh Phaolô: "Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi". Một cuộc sống như thế chắc chắn đòi hỏi nhiều hy sinh, phấn đấu, mất mát.
Dù sống trong hoàn cảnh nào, bất cứ người môn đệ nào của Chúa Kitô cũng đều cảm nghiệm được lời tiên báo của Ngài: "Vì Danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghét bỏ". Không bị bách hại công khai, thì cũng bị chống đối hay loại trừ, đó là số phận của người Kitô hữu.
Nguyện xin Chúa Kitô, Ðấng chúng ta đã chọn làm gia nghiệp, luôn gìn giữ chúng ta trên bước đường theo Chúa, và củng cố chúng ta trong nghịch lý mà Ngài đã sống: mất mát là lợi lộc, cho là lãnh nhận, chết là được sống.
(Veritas Asia)


Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Tư Tuần 17 TN1, Năm lẻ.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ:
Lựa chọn phần tốt nhất: lắng nghe và đàm đạo với Thiên Chúa.

Khi đương đầu với cuộc sống quá bận rộn, nhiều người không còn biết phải chọn điều gì và bỏ điều gì nữa. Rốt cuộc, họ chỉ còn biết phản ứng và làm điều gì tới trước. Phản ứng như thế không khôn ngoan, vì mọi việc phải có thứ tự ưu tiên của chúng. Nhiều lần chúng tôi đã đề cập đến chiếc kiềng ba chân mà chúng ta phải đứng vững trên đó, và thứ tự ưu tiên của chúng: (1) mối liên hệ với Thiên Chúa, (2) mối liên hệ với tha nhân, và (3) mối liên hệ với của cải vật chất. Theo thứ tự của Thập Giới và thứ tự của chiếc kiềng ba chân này, mối liên hệ của con người với Thiên Chúa chiếm vị thế hàng đầu trong cuộc sống. Con người phải thờ phượng và kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự.

Các Bài Đọc hôm nay muốn làm nổi bật các người đã chọn phần tốt nhất. Trong Bài Đọc I, ông Moses được diễm phúc nhìn thấy Thiên Chúa và đàm đạo với Ngài. Hậu quả là vinh quang của Thiên Chúa phản chiếu rạng ngời trên khuôn mặt ông đến độ con cái Israel không dám nhìn ông vì sợ hãi. Ông phải đeo một tấm vải để che bớt sự rạng rỡ này. Phúc Âm tường thuật biến cố Chúa Giêsu đến thăm hai chị em Martha và Maria. Chị Martha than phiền vì em Maria không chịu giúp chị lo việc phục vụ Chúa, mà chỉ ngồi dưới chân để lắng nghe Ngài. Chúa Giêsu sửa lỗi chị Martha: "Martha! Martha ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi."

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Vinh quang Thiên Chúa biểu tỏ trên mặt ông Moses.

1.1/ Lý do của việc chiếu sáng: "Ông Moses không biết rằng da mặt ông sáng chói bởi đã đàm đạo với Thiên Chúa." Tục ngữ Việt-nam có câu: "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng." Câu tục ngữ này có nghĩa: khi một người làm bạn với những người tốt lành, thánh thiện, anh sẽ được chiếu sáng và học được những thói quen tốt lành này; ngược lại, nếu anh giao du với phường trộm cướp gian manh, anh sẽ trở nên tối tăm vì nhiễm lây những thói quen xấu xa của họ. Vì ông Moses gần gũi Thiên Chúa và đàm đạo với Ngài thường xuyên, nên vinh quang của Ngài chiếu tỏa và ở lại trên khuôn mặt ông.

Trong biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi Thabor, các thánh ký cũng tường thuật mặt của Chúa Giêsu sáng chói như mặt trời và áo của Ngài trở nên trắng như tuyết. Điều này dạy chúng ta bài học: phải để vinh quang của Thiên Chúa chiếu sáng trong cuộc đời chúng ta qua việc cầu nguyện, tham dự Thánh Lễ, và kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa; nếu không, sự tối tăm của ma quỉ sẽ bao trùm cuộc sống, và chúng ta sẽ sợ hãi và tránh né những con cái của sự sáng, như con cái Israel tránh né ông Moses vậy. Nếu họ không dám nhìn mặt của Moses, chỉ là phản chiếu của vinh quang Thiên Chúa, làm sao họ dám nhìn Thiên Chúa, là nguồn sáng như chính mặt trời?

1.2/ Thiên Chúa nói với dân qua người lãnh đạo: Ông Moses gọi họ: "ông Aaron và các đầu mục của cộng đồng trở lại với ông, và ông nói chuyện với họ. Sau đó, toàn thể con cái Israel lại gần ông, và ông truyền cho họ tất cả những điều Đức Chúa đã phán với ông trên núi Sinai."

Bên cạnh vinh quang bên ngoài, ông Moses còn được soi sáng trong tâm hồn để hiểu biết những điều bí nhiệm của Thiên Chúa; nếu Thiên Chúa không mặc khải, không ai có thể hiểu biết những bí nhiệm này. Vì thế, chúng ta cần tôn trọng và năng chạy đến với các nhà lãnh đạo thánh thiện, các ngài thay mặt Chúa để dạy dỗ và mặc khải những bí nhiệm của Thiên Chúa cho chúng ta.

2/ Phúc Âm: Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi.

2.1/ Em Maria chọn ngồi bên chân Chúa để nghe Ngài giảng dạy: Nhiều người chắc cũng nghĩ như chị Martha: con bé này lười quá hay "mồm miệng đỡ tay chân!" Nhưng đây là một lựa chọn rất tính toán và khôn ngoan, như Chúa Giêsu đã phải khen Maria bên dưới. Một số lý do có thể Maria đã dựa vào để làm sự lựa chọn này:

+ Cô biết rõ thứ tự ưu tiên của cuộc đời: phải chọn Thiên Chúa trước hết. Maria biết chẳng có ai có những lời khôn ngoan và mang lại sự sống như Chúa Giêsu; vì thế, cô phải hoãn tất cả các việc khác để lắng nghe những gì Ngài muốn truyền đạt.

+ Cô biết nắm lấy cơ hội khi nó xảy đến: Một người bận rộn rao giảng như Chúa không dễ gặp. Cô biết cơ hội để đàm đạo với Chúa không thường xảy ra: nếu không biết nắm lấy ngay, cô không biết có còn cơ hội nào khác không! Chúng ta phải học nơi Maria điều này, để khi Chúa gởi những nhà rao giảng đến, chúng ta biết sắp xếp công việc hàng ngày để nghe những gì họ rao giảng. Đừng giả sử cơ hội sẽ có mãi, kẻo phải tiếc nuối sau này!

+ Khách đến nhà không chỉ để ăn, nhưng còn để chuyện vãn, tâm sự. Maria thấy chị bận rộn nấu nướng; cô chọn để trò chuyện với Chúa. Nhiều người chúng ta không chịu để ý đến khía cạnh tế nhị này; nên đã để cho khách ngồi một mình trong phòng khách chờ đợi trong khi chúng ta chuẩn bị thức ăn dưới bếp. Hiểu như thế, quyết định của Maria thật sáng suốt: chị lo nấu ăn, em lo tiếp khách.

2.2/ Chị Martha chọn để vất vả lo việc phục vụ Chúa Giêsu: Khi một thượng khách như Chúa Giêsu đến nhà, đó là lúc để chủ nhà biểu tỏ tài nội trợ, nấu nướng, và tính hiếu khách. Chúng ta không lạ gì khi Martha quá vất vả lo lắng tới độ cô tiến lại Chúa Giêsu và than phiền với Ngài: "Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!" Ngược lại với những gì Martha mong đợi, Chúa Giêsu đáp: "Martha! Martha ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi." Có nhiều điều chúng ta có thể học hỏi từ câu trả lời của Chúa Giêsu:

+ Martha không hiểu rõ thứ tự ưu tiên của cuộc đời: Chúa Giêsu sữa chữa lỗi lầm cho cô khi Ngài nói: "Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi." Thức ăn có ngon mấy chăng nữa rồi cũng qua đi; nhưng Lời Chúa sẽ ở lại trong tâm hồn và soi sáng cho con người biết cách sống thế nào để có hạnh phúc trong cuộc đời.

+ Martha không quan tâm đến người khác: Cô có thể nghĩ chỉ có việc của cô mới đáng làm, việc của Maria không quan trọng! Đây là một lỗi lầm mà nhiều người chúng ta mắc phải. Chúng ta đừng bắt người khác phải suy nghĩ và hành động như mình, vì mỗi người có những suy nghĩ và hành động khác nhau. Chúng ta cũng không hiểu đủ để xác quyết việc nào là việc tốt nhất, cho đến khi được tuyên bố rõ ràng bởi Thiên Chúa.

+ Martha không biết sắp xếp thời giờ: Có thể Martha không biết khi nào Chúa đến, vì ngày xưa không có thói quen có giờ hẹn như thời nay. Dù sao chăng nữa, Martha không nên lo lắng quá nhiều đến chuyện ăn uống, vì khách tới nhà để thăm viếng chứ không chỉ để ăn! Các gia đình Việt-nam chúng ta cần chú trọng điều này, để đừng làm quá nhiều thức ăn mỗi khi tiếp khách. Hầu hết trong các bữa tiệc, khách không dùng hết một nửa các thức ăn của chủ nhà bày ra. Hậu quả là gia chủ phải ăn đồ thừa hay phải lãng phí thức ăn cách không cần thiết.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta phải dành ưu tiên hàng đầu cho mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa bằng cách dành thời giờ để cầu nguyện, lắng nghe, học hỏi, và thực hành những gì Chúa dạy.

- Lời Chúa soi sáng cho chúng ta biết cách lựa chọn những điều xảy ra cho phù hợp với thánh ý của Thiên Chúa; đồng thời cũng cung cấp cho chúng ta sức mạnh để làm theo.


Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên OP


HẠT GIỐNG NẨY MẦM
- MÙA QUANH NĂM –
- TUẦN 17 -
"Có những hạt rơi vào đất tốt.
Chúng mọc và lớn lên, sinh hoa kết quả :
hạt thì được ba mươi, hạt thì được sáu mươi,
hạt thì được một trăm" (Mc 4,8)
Mt 13,44-46

A. Hạt giống...
Hai dụ ngôn này có cùng một ý nghĩa : Nước Trời rất quý giá nên đáng cho người ta bán tất cả những gì mình có để đổi lấy.
Hai dụ ngôn này chẳng qua cũng là nhấn mạnh thêm một tư tưởng chủ yếu mà Mt đã nhiều lần nói tới ở những chỗ khác, như : Chúa Giêsu nói với thanh niên nhà giàu "Hãy bán hết những gì anh có, đem chia cho người nghèo, bấy giờ anh sẽ được kho tàng thiên quốc, rồi hãy đến theo Ta" (19,16-22) ; để được Nước Trời, phải sẵn sàng mọi sự, kể cả nếu cần thì chặt tay, chặt chân, móc mắt (18,8-9).. Tóm lại, để được Nước Trời, chẳng có hy sinh nào được kể là quá lớn cả.

B.... nẩy mầm.
1. Nước Trời quý giá hơn tất cả, bởi vì chỉ có Nước Trời là tồn tại vĩnh viễn, còn mọi giá trị khác có ngày sẽ mất. “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì ?”.
2. Ngày xưa người ta chưa biết tới dịch vụ ngân hàng, nên cất dấu của cải bằng cách đem dấu ở một nơi người khác không biết. Nhưng cất dấu quá bí mật đến nỗi lắm khi chủ nhân chết đi thì không ai khác biết. Kho tàng trở thành vô chủ. Ta thử nghĩ nếu có ai đó tình cờ biết được kho tàng ấy, người đó sẽ sung sướng thế nào ! Và có ai biết nó mà vẫn thờ ơ chẳng tìm mọi cách để lấy cho bằng được hay không ?
Tôi là người được biết kho tàng Nước Trời đó. Vậy tôi phải cám ơn Chúa. Nhưng tôi có quá ngu dại để không tha thiết gì tới kho tàng ấy không ? Tại sao tôi lại không dám bỏ những thứ khác để đổi lấy kho tàng ấy ?
3. Nhiều khi tôi tiếc vì phải từ bỏ thứ này thứ nọ. Tôi không nhớ rằng Chúa Giêsu đã hứa sẽ bù lại cho tôi một kho tàng vô giá.
4. Một người nông dân đang nghe John Wesley giảng về việc xử dụng của cải. Trong phần thứ nhất, nhà giảng thuyết quảng diễn tư tưởng “Hãy thu hoạch (làm giàu) tối đa”. Người nông dân thúc cùi chõ người đứng bên cạnh và nói “Một bài giảng tuyệt vời”. Wesley khai triển điểm thứ hai “Hãy tiết kiệm tối đa”. Người nông dân lại khen “Chưa bao giờ tôi được nghe một bài giảng hay như vậy”. Wesley sang điểm thứ ba “Hãy chia sẻ tối đa”. Người nông dân mất hứng, rút lui khỏi nhà thờ và buồn bã về nhà (Góp nhặt)
5. Người nông dân bán đi tất cả để mua cho được thửa ruộng vì biết rằng trong đó có kho tàng ẩn dấu. Người thương gia cũng vội vã đầu tư mọi tài sản của mình vào viên ngọc quý.
Vì lợi nhuận, các nhà doanh nghiệp chẳng ngần ngại đầu tư tiền bạc vào các công trình. Vì chiến thắng, các vận động viên đầu tư mọi sức lực vào việc luyện tập. Vì tương lai, người trẻ sẵn sàng đầu tư chất xám và thời gian cho sự học hỏi.
Tôi tự hỏi : “Vì Nước Trời, tôi đã dám nghĩ đến chuyện đầu tư cho đức tin chưa nhỉ ?”
Lạy Chúa, xin thúc đẩy con luôn biết đầu tư tất cả cho đức tin bằng việc đặt Chúa vào trọng tâm cuộc sống, và biến lời thương mến thành hành động tin yêu. (Hosanna)
6. Khi bước vào trần gian, chúng ta muốn mở rộng bàn tay để chiếm trọn mọi sự. Thế nhưng khi nhắm mắt xuôi tay, chúng ta đành phải ra đi với hai bàn tay trắng.
Xuất thân từ bụi tro rồi chúng ta sẽ trở về tro bụi. Chỉ có sự sống vĩnh cửu mới tồn tại muôn đời. Không ai trong chúng ta có thể tưởng tượng được cuộc sống đó như thế nào, chỉ biết rằng Tình Yêu là giá trị sẽ mãi mãi tồn tại, và chỉ có tình yêu mới thắng được sự chết và tất cả những gì trói buộc chúng ta trong giới hạn của cuộc sống này.
Lạy Chúa, cuộc sống hiện tại của con được dệt bằng một chuỗi của vui tươi và sầu khổ, thành công và thất bại, sum họp và li tán. Tất cả những điều đó nhắc nhở con rằng cuộc sống này chóng qua và mời gọi con nghĩ đến giá trị vĩnh cửu. Trong mọi sự, xin cho biết tìm kiếm những giá trị vĩnh cửu của Nước Trời, và biết sống những giây phút hiện tại như chính giờ phút con phải đến gặp gỡ Chúa. (Hosanna).

Lm.Carolo HỒ BẶC XÁI – Gp.Cần Thơ

31/07/13 thứ tư tuần 17 tn
Th. Inhaxiô Lôiôla, linh mục
Mt 13,44-46

VUI MỪNG BÁN TẤT CẢ...

“Tìm được viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.” (Mt 13,46)

Suy niệm: Từ tháng 9/2012, ngư dân xã Bình Châu (Quảng Ngãi) tìm thấy một chiếc tàu chở đầy đồ gốm sứ đắm gần bờ và bắt đầu lặn vớt cổ vật. Một số người thành tỉ phú chỉ sau một đêm lặn vất vả. Người dân tìm mọi cách tiếp cận con tàu để có vài cổ vật trong tay là hy vọng đổi đời. Việc phát hiện chiếc tàu đắm đã làm xôn xao náo động cả một vùng biển lặng. Cũng vậy, dù tình cờ tìm thấy kho tàng chôn trong ruộng như người nông dân, hay cả đời lùng kiếm rồi tìm thấy viên ngọc quý như người thương gia, cả hai đều hành xử như nhau: vui sướng và hy sinh bán tất cả những gì mình có để chiếm cho được báu vật. Kho tàng hay viên ngọc quý ấy là Nước Trời, là chính Đức Giêsu, là tương quan thân thiết với Thiên Chúa.

Mời Bạn: Đôi mắt lão luyện của người buôn ngọc giúp ông nhận ra giá trị của viên ngọc quý. Cũng vậy, không phải ai cũng khám phá ra giá trị vô cùng của kho tàng Nước Trời, của viên ngọc quý Giêsu, duy những người có con mắt đức tin mới nhận ra nét đẹp quý giá này. Bạn có vui mừng khi được biết Đức Giêsu và Nước Trời không? Bạn có sẵn lòng chấp nhận từ bỏ một số tham vọng, thói quen, lối sống không thích hợp để dành trọn vẹn cho Ngài không?

Sống Lời Chúa: Tôi luôn vui mừng vì được biết Đức Giêsu và Tin Mừng của Ngài. Từ hôm nay tôi sẽ vui lòng đón nhận lối sống từ bỏ bản ngã để sống tương quan tốt đẹp với Chúa.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, chúng con vui mừng khi có Chúa là viên ngọc quý, Nước Trời là kho tàng vô cùng quý báu trong cuộc đời. Xin giúp chúng luôn sống trong niềm vui ấy. Amen.

(5 Phút Lời Chúa)



Vui mừng bán tất cả
Nếu ta còn ngần ngại khi phải bán đi tất cả thì chỉ vì ta chưa thấy. Nhưng nếu ta cứ can đảm bán đi, ắt ta sẽ thấy. Niềm vui chỉ đến với người dám bán tất cả.

Suy niệm:
Tất cả bắt đầu từ một sự tình cờ may mắn.
Người nông dân nghèo phải làm thuê cho điền chủ
tình cờ gặp được kho báu chôn trong ruộng.
Người buôn ngọc tình cờ gặp được viên ngọc tuyệt vời,
có giá trị lớn lao mà người bán không hề biết.
Sau đó phản ứng của cả hai rất giống nhau:
ra đi, bán tất cả những gì mình có và mua...
Không thấy có dấu vết của sự nuối tiếc
hay ngần ngại giằng co.
Tất cả diễn ra thật nhanh
và tràn ngập niềm vui thanh thản.
Ai cũng rõ họ hạnh phúc biết chừng nào
khi chiếm được kho báu và viên ngọc.
Cuộc đời họ chuyển sang một giai đoạn mới.
Thái độ của hai người trên được coi là bình thường.
Ở địa vị ta, ta cũng làm như thế.
Kho báu và viên ngọc là những thứ thấy được,
có giá trị hiển nhiên và hết sức hấp dẫn.
Chúng hứa hẹn một sự giàu sang mà ai cũng thèm thuồng,
nên người ta dễ bán tất cả để mua được chúng.
Bị ảnh hưởng bởi não trạng hưởng thụ vật chất,
chúng ta thường coi kho báu duy nhất ở đời này
là tiền bạc, quyền uy và khoái lạc.
Khi nói Nước Trời là kho báu bền vững,
Ðức Giêsu là viên ngọc quý đích thực,
chúng ta lại thấy đó là cái gì mơ hồ,
xa xôi, ít lôi cuốn, thậm chí không có thật.
Chính vì thế chúng ta thường ngần ngại khi từ bỏ,
dè sẻ, nuối tiếc khi phải hy sinh cho Chúa.
Vậy vấn đề là khả năng thấy, nhờ lòng tin.
Bản thân tôi có thấy Ðức Giêsu là viên ngọc quý,
và Nước Trời là kho báu không?
Chỉ ai thấy được những thực tại vô hình
và ngây ngất trước giá trị của chúng,
người ấy mới hồn nhiên và vui tươi
đánh đổi tất cả kho báu phù phiếm của đời này
để lấy kho báu bất diệt trên trời (x. Mt 6,20).
Có khi tình cờ, qua một biến cố, một người bạn,
qua một cuốn sách, một đoạn Lời Chúa, một kỳ tĩnh tâm,
tôi chợt gặp Ðức Giêsu như viên ngọc ngời sáng,
hấp dẫn, mời gọi tôi bay lên khỏi cái tôi tầm thường:
tôi có dám bán nỗi đam mê ích kỷ của mình
để mua lấy tình bạn với Ngài không?
Nếu ta còn ngần ngại khi phải bán đi tất cả
thì chỉ vì ta chưa thấy.
Nhưng nếu ta cứ can đảm bán đi,
ắt ta sẽ thấy.
Niềm vui chỉ đến với người dám bán tất cả.
Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
giàu sang, danh vọng, khoái lạc
là những điều hấp dẫn chúng con.
Chúng trói buộc chúng con
và không cho chúng con tự do ngước lên cao
để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.

Xin giải phóng chúng con
khỏi sự mê hoặc của kho tàng dưới đất,
nhờ cảm nghiệm được phần nào
sự phong phú của kho tàng trên trời.

Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi
bán tất cả những gì chúng con có,
để mua được viên ngọc quý là Nước Trời.

Và ước gì chúng con không bao giờ quay lưng
trước những lời mời gọi của Chúa,
không bao giờ ngoảnh mặt
để tránh cái nhìn yêu thương
Chúa dành cho từng người trong chúng con. Amen.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Suy niệm
Sống là một chuỗi những sự chọn lựa, mà đã chon lựa thì ai cũng muốn chọn điều tốt nhất cho mình. Thông thường chọn lựa thì đi đôi với việc từ bỏ. Khi chúng ta quyết định chọn lựa điều gì đó thì đồng thời chúng ta cũng phải bỏ đi một số điều khác. Ví dụ một thanh niên muốn có được sự thành đạt trong sự nghiệp thì phải bỏ đi những thú vui không cần thiết để cố gắng làm việc học tập. Chúa Giêsu hôm nay cũng muốn nói với chúng ta điều đó. Trong cả hai dụ ngôn Chúa Giêsu đều muốn nhấn mạnh giá trị của nước trời. Cả người thương gia và anh nông dân đều sẵn sàng hy sinh tất cả để chiếm được nước ấy. Khi một người tìm thấy kho tàng và biết rằng kho tàng đó rất có giá trị. Lập tức anh ta từ bỏ những gì anh ta có hiện tại để có được kho tàng đó. Nước trời cũng giống như kho tàng bị chôn vùi trong lòng đất, như viên ngọc quý nhưng chưa được ai phát hiện. Chúng ta được Chúa Giêsu dạy cho biết giá trị của nước trời, Ngài còn chỉ cho chúng ta cách để có được nước trời, thì dại gì chúng ta lại không dám từ bỏ những cái hiện tại để mua lấy nước trời có giá trị vĩnh cữu mai sau.

Qua hai dụ ngôn chúng ta thấy rằng, để tìm được kho báu hay viên ngọc quý đòi hỏi hai người phải làm việc cật lực mới có thể tìm thấy được. Nước trời cũng vậy, chúng ta có thể hiểu nước trời là chính Thiên Chúa, là thiên đàng, là sự sống đời đời, là sự thánh thiện…..hiểu như vậy khơi dậy trong chúng ta sự khao khát, ước mong và tha thiết làm mọi sự để được Chúa là gia nghiệp, được sự sống đời đời, được nên thánh hằng ngày. Khi đã có ước muốn dẫn chúng ta đến hành động nổ lực làm mọi sự và từ bỏ những cái không cần thiết để đạt được mục đích đó. Muốn được nước trời, sự sống đời đời thì phải từ bỏ mọi sự mà theo Ngài. Như Chúa Giêsu đã từng nói: tiên vàng hãy tìm kiếm nước trời còn mọi sự khác Chúa sẽ ban cho sau. Và muốn nên thánh, muốn được sự sống đời đời, đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ cái kém hơn để chọn cái có giá trị cao hơn.

Tiền bạc của cải vật chất là những thứ nay còn mai mất. Tất cả chúng chỉ là những phương tiện chứ không phải là mục đích trong cuộc sống. Chỉ có một mình Thiên Chúa mới có thể dẫn đưa chúng ta đến cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu.

Lạy Chúa xin cho chúng con luôn ý thức tiền bạc vật chất là những phương tiện để chúng con tìm kiếm Thiên Chúa và Nước trời mai sau. Xin bạn cho chúng con thêm ơn khôn ngoan, để trong bất cứ chọn lựa nào chúng con luốn biết chọn Chúa và Nước Trời mai sau làm ưu tiên số một. Amen.


Hãy Nâng Tâm Hồn Lên Tháng Bảy

31 THÁNG BẢY

Ngay Cả Sự Chết Cũng Phục Vụ Cho Sự Sống

Chúng ta nhận thấy Cựu Ước – trong khi nhìn nhận sự có mặt của nhiều loại sự dữ và đau khổ trong đời – đã làm chứng hùng hồn rằng sự khôn ngoan và lòng từ ái của Thiên Chúa (biểu hiện qua sự quan phòng thần linh của Ngài) tất thắng trên mọi sự dữ và đau khổ.

Cảm nhận này được trình bày trong Sách Gióp, cuốn sách xoáy trọn vào chủ đề sự dữ và tiếng kêu ai oán thất vọng. Cuốn sách quan trọng này (về chủ đề sự dữ) đôi khi được thấy như một kiểm nghiệm hùng hồn ‘đo lòng’ người công chính. Nhưng đây chỉ là một khía cạnh phụ thuộc của quyển sách mà thôi. Cốt lõi của quyển sách chính là sự đúc kết vừa rõ ràng vừa công phu của tác giả rằng Thiên Chúa là Đấng tốt lành. Qua Sách Gióp, chúng ta nắm bắt những giới hạn và bản chất phù du của mọi tạo vật. Chúng ta nhận ra rằng một số hình thức của sự dữ thể lý có thể là do bản chất sa ngã của thế giới gây ra.

Chúng ta cũng ý thức rằng tất cả những gì thuộc vật chất đều ở trong một mối quan hệ hỗ tương gần gũi nhau – như câu nói xưa: “Đây chết thì kia sống”. Như vậy, xét một mức nào đó, ngay cả sự chết cũng phục vụ cho sự sống. Qui luật này cũng không loại trừ con người – vì con người vừa là xác thịt vừa là tinh thần, vừa khả diệt vừa bất tử.

Trong chiều hướng này, những ý tưởng của Thánh Phao-lô càng vén mở các chân trời rộng hơn nữa: “Dù con người bên ngoài chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới” (2Cr 4,16). Rồi ngài nói thêm: “Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời” (2Cr 4,17).

- suy tư 366 ngày của Đức Gioan Phaolô II -
Lm. Lê Công Đức dịch từ nguyên tác
LIFT UP YOUR HEARTS
Daily Meditations by Pope John Paul II



Lời Chúa Trong Gia Đình

Thánh Ignatiô Loyôla, linh mục
Xh 34, 29-35; Mt 13, 44-46.


LỜI SUY NIỆM: ”Nước Trời giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy” (Mt 13,45-46)

Kinh Thánh là kho tàng vô giá cho toàn thể nhân loại, nhưng không phải ai cũng thấy hết giá trị và cần thiết đối với cuộc sống của mình. Hạnh phúc cho chúng ta là những Ki-Tô hữu, đã nhận ra kho báu. Nhờ ân ban của Thiên Chúa. Nhưng nhận ra, nhận được rồi mà chỉ để nhận, không ra sức khám phá, không cầm trên tay, không nhìn ngắm, không thưởng thức được vẻ đẹp tuyệt vời, không trở thành là niềm vui và sự sống của mình thì cũng bằng thừa. Tất cả mọi sự hiểu biết cần phải có thầy dạy. Trong học tập, cần phải chuyên cần học, tích trử trong tâm trí và học đến nới đến chốn. Mới thật sự mang lại lợi ích cho đời mình. Ước gì chúng ta luôn kết hiệp với ơn Chúa Thánh Thần trong việc học hỏi Lời Chúa để đem lại lợi ích cho chúng ta hôm nay và mãi mãi.


Mạnh Phương


Gương Thánh nhân

Ngày 31-07
Thánh IGNATIÔ LOYOLA
Linh Mục (1491 - 1556)


Don Inigo Lopez de Recalde sinh khoảng năm 1481 tại miền đồi núi Basque gần làng Azpeytia. Ngài là con út trong số 11 người con của một gia đình quí tộc. Được rửa tội với tên Inigo, một vị thánh Tây Ban Nha dòng thánh Bênêdictô, nhưng sau này Ngài thường dùng tên Ignatiô thành Antiokia. Hồi còn niên thiếu, người giúp việc cho một người bạn quí tộc của một gia đình là Giuan Velasquez. Sau khi Velasquez từ trần, Ngài lại phục vụ bá tước Najera, phó vương miền Navarre. Ngài được giáo dục một cách hời hợt. Thời đó, Ngài chỉ ham chơi, thích những chuyện hào hùng, nhất là những ngày lễ duyệt binh.
Trong cuộc chiến Pháp, Tây Ban Nha tháng năm 1521 quân đội Pháp đã vượt núi Pyrênê và tới phong tỏa Pampeluna. Nhiều người đã tính chuyện đầu hàng, nhưng Ignatiô quyết cầm cự. Trong cơn bão tố tại pháo đài Ignatiô bị trúng đạn pháo ở đùi, Ngài được chuyển về lâu đài ỏ Loyola. Nơi dây người ta khám phá ra rằng xương đùi đã bị xếp trật, phải mổ ra và sắp xếp lại. Ngài đã can đảm chịu đựng cơn đau.
Thời gian dưỡng bệnh lâu dài tiếp theo sau đó, không có sách vở gì khác, Ignatiô dùng thời gian để đọc hạnh các thánh. Gương mẫu đời sống các thánh làm mủi lòng Ignatiô. Ngài nói: - Tôi có phải thực hiện điều mà thánh Phaxicô và Dominico đã làm chăng ?
Năm 1522, sau khi bình phục, Ngài đi hành hương kính Đức bà Montserrat. Nơi đây Ngài đã thực hiện cuộc xưng tội trong ba ngày, trao tặng đồ hiệp sĩ cho một kẻ ăn xin, đặt gươm trên bàn thờ Đức Mẹ và tới thành Manresa kế cận để phục vụ trong một nhà thương. Đã một thời Ngài bị nguy hiểm rơi vào một cuộc khổ hạnh quá độ. Ngài Ngài đã thoát hiểm nhờ sự vâng phục hoàn tòan đối với cha giải tội. Chính tại Manresa, Ngài được Thiên Chúa soi sáng, sự soi sáng hứơng dẫn trọn những ngày còn lại của cuộc đời Ngài. Ngài viết cuốn linh thao, trong đó vạch ra những nguyên tắc mà một người công giáo phải theo để "điều khiển đời sống mình" một đời sống nhằm ca tụng Chúa, tôn kính và phụng sự Ngài, để được cứu rỗi. Ngài phác họa một giáo thuyết của mình về sự chọn lựa và đòi hỏi để làm mọi sự để "vinh danh Chúa" (Ad Majorem dei gloriam)
Thánh nhân ở lại Manresa khoảng một năm và từ đó hành hương đi Palestina, trên đường đi có dừng lại ở Roma. Sau khi đã kính viếng các nơi thánh ở Palestina, Ngài trở về Barcelona. Nơi đây, dầu đã 30 tuổi, Ngài vẫn đến trường, ngồi chung ghế với các em nhỏ, để sữa chữa lại kẽ hở trong việc học hành, cho tới khi Ngài có thể dự lớp tại đại học Alcala và Salamanca. Tại cả hai nơi này, đã Ngài bị truy tố ra tòa án tôn giáo và bị tống giam ít ngày. Nhưng cuối cùng giáo thuyết của Ngài đã thắng.
Năm 1528, Ngài bỏ Salamanca đi Paris và Sorbonne. Ngài ở Paris 7 năm, nơi đây Ngài tụ họp được sáu môn sinh đầu tiên. Vào ngày lễ Mông Triệu năm 1534 bảy anh em đã long trọng hiến thân phụng sự Thiên Chúa, khấn giữ đức nghèo khó và trong sạch, tại đền thờ thánh Denis tại Montmartre. Lúc đó, họ dự định đi Giêrusalem và hiến thân cho việc cứu rỗi các linh hồn trong các miền còn ngoại giáo.
Ignatiô trở về Tây Ban Nha. Năm 1535, tu hội đã lên tới 10 người. Họ gặp nhau ở Venitia, định cùng đáp tàu đi hành hương thánh địa. Nhưng tình hình miền Đông Địa Trug Hải không cho phép. Bù lại một số đi Roma, để Ignatiô tại Venitia. Đức giáo hoàng Phaolô III ưu ái tiếp họ. Trở lại Ventia, họ mang theo phép của Đức Giáo hoàng cho Ignatiô và 6 anh em được thụ phong linh mục.
Một năm sau, thấy rằng: không thể tới thánh địa được, Ignatiô kết luận rằng ý Chúa không muốn cuộc hành hương này. Thay vào đó, Ngài đặt tu hội dưới danh hiệu "dòng Chúa Giêsu" dưới quyền xử dụng của toà thánh. Họ đi Roma và Ignatiô dâng thánh lễ đầu tiên ở đầu vào dịp lễ Giáng sinh năm 1538 tại đền thờ Đức Bà cả, Ngài soạn thảo hiến pháp của dòng mới và đến trình diện Đức giáo hoàng Phaolô III. Đức giáo hoàng đã phát biểu khi gặp họ: - Đây là bàn tay Thiên Chúa.
Và trong sắc lệnh Regimini Militantis Ecclesioe, ban hành tháng 9 năm 1540 Ngài đã chính thức công nhận hội dòng. Hội dòng thêm vào đó 3 lời khấn: nghèo khó, vâng lời, trong sạch, lời khấn đặc biệt vâng phục Đức giáo hoàng.
Trong hiến pháp đầu tiên, hội dòng giới hạn con số có 60 tu sĩ. Ignatiô được đồng thanh bầu làm bề trên ngày 7 tháng 4 năm 1541. Luật hạn định tu sĩ vào số 60 được rút lại bởi sắc lệnh của Đức giáo hoàng ngày 15 tháng 3 năm 1543.
Ignatiô khó rời bỏ Roma cho đến cuối đời. Nhưng hội dòng đã lan rộng tới mọi miền trên thế giới, dưới quyền hướng dẫn của Ngài như một phép lạ, khi Ngài từ trần vào ngày 3 tháng 7 năm 1556, hội dòng đã có 12 tỉnh dòng với 101 nhà và gần 1000 phần tử.

Thánh Ignatiô được suy tôn hiển thánh ngày 12 tháng 3 năm 1622.


(daminhvn.net)


31 Tháng Bảy

Tiếng Kêu Của Ếch

Một vị ẩn sĩ đạo đức nọ nổi tiếng là người có thể sai khiến được thú vật.
Một buổi tối nọ, ông đang tịnh niệm cầu nguyện, một con ếch không biết từ đâu cất tiếng kêu lên inh ỏi. Vị ẩn sĩ cố gắng tập trung ý chí vào lời cầu nguyện để không còn nghe tiếng ếch kêu nữa. Nhưng ông càng cố gắng, tiếng ếch càng kêu to. Không còn tự chế được nữa, vị ẩn sĩ quát lên: "Hãy câm miệng cho ta cầu nguyện được không?".
Mệnh lệnh đầy uy lực của nhà ẩn sĩ đã bịt miệng được chú ếch. Thinh lặng trở lại với không gian. Nhưng cũng chính lúc đó, nhà ẩn sĩ như nghe vang vọng trong tâm hồn ông một tiếng kêu khác. Ông nghe như có người nói với ông rằng: "Có lẽ Chúa cũng ưa thích tiếng kêu của ếch như lời cầu kinh của ngươi". Vị ẩn sĩ hỏi vặn lại: "Tiếng kêu của ếch mà cũng làm cho lỗ tai của Chúa vui được sao?". Tiếng kêu trong tâm hồn ông đáp trả: "Vậy thì ngươi có biết tại sao Chúa tạo ra âm thanh không?".
Vị ẩn sĩ chợt hiểu được bài học từ trong nội tâm... Ông đến bên cửa sổ và ra lệnh cho chú ếch: "Nào, hãy hát lên đi". Tiếng kêu của chú ếch vang lên, mấy chú ếch xung quanh cũng hòa theo một nhịp tạo thành một bài ca lúc trầm lúc bổng, lúc dặt dìu, lúc tha thiết... Ðêm vắng bỗng trở nên vui hơn.
Với sự khám phá trên đây, trái tim của nhà ẩn sĩ bỗng trở nên hài hòa với vũ trụ và lần đầu tiên trong đời, ông hiểu được thế nào là cầu nguyện.

Sự cầu nguyện thường cần phải có một khung cảnh thích hợp. Có một không gian đặc biệt dành cho cầu nguyện, có một quãng thời gian đặc biệt dành cho cầu nguyện, có một bầu khí đặc biệt dành cho cầu nguyện. Ðó là điều thiết yếu dành cho cuộc sống con người... Ðó là lý do hiện hữu của một bàn thờ nhỏ trong nhà, đó là mục đích của các ngôi thánh đường.
Tuy nhiên, sự cầu nguyện sẽ đánh mất của nó, nếu con người đóng khung nó trong một khung cảnh và bầu khí đặc biệt. Cầu nguyện là một gặp gỡ với Chúa và đồng thời cũng là một giao kết với tha nhân. Thiên Chúa, chúng ta không thể đóng khung trong bốn bức tường vắng lặng của nhà thờ. Con người, chúng ta phải gặp gỡ ngay trên chợ đời.
Thành ra, lời cầu nguyện đích thực phải là lời cầu nguyện mà con người có thể dâng lên Thiên Chúa trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong bất cứ lúc nào, bằng tất cả cuộc sống. Lời cầu nguyện đích thực là lời cầu nguyện được thốt lên trong thời thuận tiện cũng như không thuận tiện. Lời cầu nguyện đích thực là cả một cuộc sống tuân phục ý Chúa, một cuộc sống hài hòa với tha nhân, một cuộc sống "xin vâng" trong từng phút giây.


(Lẽ Sống)

Thứ Tư 31-7
Thánh I-nha-xiô ở Loyola (Y Nhã)
(1491-1556)

Vị sáng lập dòng Tên này đang trên đà danh vọng và quyền thế của một sĩ quan trong quân đội Tây Ban Nha thì một trái đạn đại bác đã làm ngài bị thương ở chân. Trong thời kỳ dưỡng bệnh, vì không có sẵn các cuốn tiểu thuyết để giết thời giờ nên ngài đã biết đến cuộc đời Ðức Kitô và hạnh các thánh. Lương tâm ngài bị đánh động, và từ đó khởi đầu một hành trình lâu dài và đau khổ khi trở về với Ðức Kitô. 
Vào năm 1522, được thấy Mẹ Thiên Chúa trong một thị kiến, ngài thực hiện cuộc hành hương đến đan viện dòng Biển Ðức ở Monserrat. Ở đây, ngài xưng thú tội lỗi, mặc áo nhặm và đặt thanh gươm trên bàn thờ Ðức Maria thề hứa sẽ trở nên một hiệp sĩ cho Ðức Mẹ.
Trong khoảng thời gian một năm, ngài sống gần Manresa, có khi thì ở với các tu sĩ Ða Minh, có khi thì ở nhà tế bần, nhưng lâu nhất là sống trong một cái hang ở trên đồi để cầu nguyện. Chính trong thời gian hoán cải này ngài bắt đầu một công trình mà sau đó rất nổi tiếng, cuốn Những Thao Luyện Tâm Linh.
Vào năm 1523, ngài rời Manresa đến Rôma và Giêrusalem, là nơi ngài sống nhờ việc khất thực và hăng say hoán cải người Hồi Giáo ở đây. Vì lo sợ cho tính mạng của ngài các tu sĩ Phanxicô khuyên ngài trở về Barcelona. Tin tưởng rằng kiến thức uyên bác sẽ giúp đỡ tha nhân cách thiết thực hơn, ngài dành 11 năm tiếp đó trong việc học ở Alcalá, Salamanca và Balê. 
Vào năm 1534, lúc ấy đã 43 tuổi, cùng với sáu người khác (trong đó có Thánh Phanxicô Xaviê) ngài thề sống khó nghèo và khiết tịnh và tất cả cùng đến Ðất Thánh. Các ngài thề quyết rằng nếu không thể ở đây thì sẽ dâng mình cho công việc tông đồ của đức giáo hoàng. Và đó là điều đã xảy ra. Bốn năm sau, Thánh Y Nhã hợp thức hóa tổ chức của ngài. Tu Hội của Ðức Giêsu (Dòng Tên) được Ðức Giáo Hoàng Phaolô III chuẩn nhận và Thánh Y Nhã được bầu làm bề trên đầu tiên.
Trong khi các bạn đồng hành được đức giáo hoàng sai đi truyền giáo thì Thánh Y Nhã vẫn ở Rôma, chăm sóc tổ chức mới của ngài nhưng vẫn dành thời giờ để thành lập các nhà cho cô nhi, cho người tân tòng. Ngài thành lập Trường Roma (sau này là Ðại Học Grêgôriô), với mục đích là trường này sẽ trở nên khuôn mẫu cho các trường của Tu Hội.
Thánh Y Nhã đích thực là một vị thần bí. Ngài tập trung vào đời sống tâm linh dựa trên các nền tảng thiết yếu của Kitô Giáo -- Thiên Chúa Ba Ngôi, Ðức Kitô, Bí Tích Thánh Thể. Linh đạo của ngài được tỏ lộ trong châm ngôn của Dòng Tên, ad majorem Dei gloriam -- "để Thiên Chúa được vinh danh hơn." Trong quan niệm của ngài, sự tuân phục là một đức tính nổi bật nhằm đảm bảo cho thành quả và sự năng động của tu hội. Mọi hoạt động phải được hướng dẫn bởi lòng yêu mến Giáo Hội thực sự và tuân phục Ðức Thánh Cha vô điều kiện, vì lý do đó, mọi thành viên của dòng phải khấn lời thề thứ tư, đó là phải đến bất cứ đâu mà đức giáo hoàng đã sai đi để cứu rỗi các linh hồn.
Lời Bàn
Vào năm 1517, Luther đã niêm yết các đề án của ông lên cửa nhà thờ ở Wittenberg. Mười bảy năm sau, Thánh Y Nhã sáng lập một tu hội góp phần quan trọng trong việc chống lại sự cải cách Tin Lành. Ngài là một kẻ thù bất khả tiêu diệt của Tin Lành. Tuy nhiên, trong lời lẽ của ngài người ta vẫn thấy tiềm ẩn sự đại kết: "Phải rất thận trọng khi đưa ra các chân lý chính truyền để nếu người lạc giáo có mặt ở đó, họ sẽ cảm nhận được lòng bác ái và sự ôn hòa Kitô Giáo. Không được dùng lời lẽ cứng rắn và cũng không được khinh miệt những sai lầm của họ." Một trong những khuôn mặt vĩ đại của phong trào đại kết hiện nay là Ðức Hồng Y Bea, một linh mục dòng Tên.
Lời Trích
Thánh Y Nhã đề nghị lời nguyện sau đây cho các hối nhân: "Lạy Chúa, xin hãy chấp nhận mọi đặc quyền, mọi ký ức, mọi hiểu biết và toàn thể ý chí của con. Ngài đã ban cho con tất cả những gì con có, tất cả con người của con, và con xin phó thác chúng cho thánh ý của Ngài, để Ngài tùy ý sử dụng. Con chỉ xin Chúa ban cho con tình yêu và ơn sủng. Ðược như thế, con đã giàu sang đủ và không dám đòi hỏi gì nữa."