Trang

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2025

VATICAN SẼ CÂN NHẮC VỀ VAI TRÒ CỦA ĐỨC MARIA TRONG CÔNG CUỘC CỨU ĐỘ VỚI VĂN KIỆN GIÁO LÝ VÀO NGÀY 4 THÁNG 11

 Vatican sẽ cân nhắc về vai trò của Đức Maria trong công cuộc cứu độ với văn kiện giáo lý vào ngày 4 tháng 11

Vũ Văn An  30/Oct/2025

 


Đức Hồng Y Víctor Manuel Fernández, Tổng Trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, chủ trì một cuộc họp báo vào thứ Sáu, ngày 17 tháng 5 năm 2024, về văn kiện mới của Vatican về các cuộc hiện ra của Đức Maria. | Nguồn: Rudolf Gehrig/EWTN News

 

Hannah Brockhaus, trong bản tin, ngày 30 tháng 10 năm 2025 của hãng tin CNA, cho hay: Văn phòng Giáo lý của Vatican đã thông báo hôm thứ Năm rằng họ sẽ công bố một văn kiện vào ngày 4 tháng 11 về các tước hiệu của Đức Maria liên quan đến "sự cộng tác của Mẹ vào công trình cứu độ".

Sự đóng góp của Đức Maria cho ơn cứu độ nhân loại, cụ thể là tước hiệu “Đồng Cứu Chuộc” (“Co-Redemptrix”) đã là một điểm tranh luận thần học trong nhiều thập niên — với những người ủng hộ kêu gọi công bố vai trò của Đức Maria trong công cuộc cứu chuộc là một tín điều, nhưng những người chỉ trích cho rằng điều này phóng đại tầm quan trọng của Đức Maria và có thể gây tổn hại đến những nỗ lực hiệp nhất với các giáo phái Kitô giáo khác.

Đức Hồng Y Víctor Manuel Fernández, Tổng Trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, sẽ trình bày bản ghi chú giáo lý về chủ đề này, có tựa đề “Mater Populi Fidelis” (“Mẹ Trung Tín của dân Chúa”), tại Giáo Triều Dòng Tên ở Rome.

Tháng 7 vừa qua, Đức Hồng Y Fernández nói với các nhà báo rằng Bộ đang soạn thảo một văn bản về “nhiều chủ đề khác nhau về Đức Maria” nhưng không tiết lộ thêm về nội dung của văn bản.

Nhà thần học, Cha Matteo Armando, thư ký ban giáo lý của Bộ, cũng sẽ phát biểu tại buổi thuyết trình vào ngày 4 tháng 11, cùng với một chuyên gia tư vấn của Bộ, Cha Maurizio Gronchi, giảng dạy Kitô học - giáo huấn của Giáo hội về ngôi vị, bản chất và vai trò của Chúa Kitô - tại Đại học Giáo hoàng Urbanô ở Rome.

Các vị giáo hoàng gần đây đã có những quan điểm khác nhau về việc sử dụng tước hiệu "Đồng Công Cứu Chuộc" cho Đức Maria.

Năm 2017, Hiệp hội Đức Mẹ Quốc tế đã đệ trình lên Đức Giáo Hoàng Phanxicô một yêu cầu công nhận tước hiệu của Đức Maria là "Đồng Công Cứu Chuộc với Chúa Giêsu Cứu Thế", một trong nhiều kiến nghị được gửi đến Vatican trong thế kỷ qua.

Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng đã bày tỏ sự dè dặt của mình về tước hiệu này nhiều lần trong triều giáo hoàng của ngài.

Trong bài diễn văn tiếp kiến chung vào ngày 24 tháng 3 năm 2021, Đức Phanxicô nói rằng mặc dù các Kitô hữu luôn dành cho Đức Maria những danh hiệu cao quý, nhưng điều quan trọng cần nhớ là Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc duy nhất, và Đức Maria được trao phó cho chúng ta “như một người mẹ, không phải như một nữ thần, không phải như một Đấng Đồng Công Cứu Chuộc.”

Năm 2000, khi còn là Hồng Y Joseph Ratzinger, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đã nói rằng ngài cho rằng tước hiệu “Đồng Công Cứu Chuộc” (Co-Redemptrix) quá xa rời Kinh Thánh và có thể gây ra những hiểu lầm về địa vị cứu chuộc của Chúa Kitô — mặc dù những người ủng hộ công thức về Đức Mẹ Maria cảm thấy ngài đã thể hiện sự cởi mở hơn với lòng sùng kính này trong triều giáo hoàng của ngài, nhưng chưa bao giờ sử dụng thuật ngữ này một cách minh nhiên.

Thay vào đó, Thánh Gioan Phaolô II đã công khai sử dụng từ “Đồng Công Cứu Chuộc” ít nhất sáu lần trong triều giáo hoàng của ngài, khơi dậy hy vọng về việc công bố tín điều này vào những năm 1990.

Tước hiệu này có thể bắt nguồn từ thế kỷ thứ 10, khi một số kinh cầu Đức Mẹ Maria có đề cập đến tước hiệu Đức Maria là Đấng Cứu Chuộc, cùng với con trai của Người. Tiền tố “đồng” được thêm vào vào thế kỷ 15, để làm rõ rằng Đức Maria không phải là Đấng Cứu Chuộc mà là một người đã cộng tác một cách độc nhất vào công trình cứu chuộc.

“Đồng Công Cứu Chuộc” chỉ được công nhận chính thức vài thế kỷ sau đó, vào năm 1908, khi Bộ Nghi Lễ sử dụng danh xưng này trong một sắc lệnh nâng bậc lễ Bảy Sự Thương Khó của Đức Maria.

Kể từ đó, danh xưng này đã được nhắc đến nhiều lần trong giáo huấn của Giáo hội, bao gồm cả Công đồng Vatican II, công đồng cuối cùng đã quyết định không chính thức công nhận danh xưng này trong văn kiện Lumen Gentium.

 

http://vietcatholic.net/News/Html/298731.htm

VỀ CUỘC TÔNG DU CỦA ĐGH LÊ-Ô ĐẾN THỔ NHĨ KỲ VÀ LI-BĂNG - CUỘC GẶP GỠ LẠ LÙNG GIỮA CHA PI-Ô VÀ LINH HỒN TỪ LUYỆN NGỤC



 ĐGH Lêô tông du Thổ Nhĩ Kỳ-Li Băng. Cuộc gặp gỡ lạ lùng giữa Cha Piô và linh hồn từ luyện ngục

VietCatholic Media  30/Oct/2025

 

(Bản tin của VietCatholic)

1. Đức Giáo Hoàng Lêô sẽ cầu nguyện tại mộ Thánh Charbel trong chuyến tông du đầu tiên tới Thổ Nhĩ Kỳ và Li-băng

Hôm thứ Hai, Vatican đã công bố chương trình đầy đủ cho chuyến tông du đầu tiên của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, chuyến đi sẽ đưa ngài đến Thổ Nhĩ Kỳ và Li Băng từ ngày 27 tháng 11 đến ngày 2 tháng 12.

Chuyến đi sẽ tập trung vào hai thời điểm quan trọng: đó là cuộc hành hương đến İznik (Nicê cổ) để kỷ niệm 1.700 năm Công đồng Nicê đầu tiên và chuyến thăm lăng mộ của Thánh Charbel Makhlouf ở Li Băng.

Công đồng Nicê, do Hoàng đế Constantine triệu tập năm 325, là một bước ngoặt trong lịch sử Kitô giáo. Công đồng này đã đưa ra công thức ban đầu của Kinh Tin Kính Nicê - sau này được chấp nhận là lời tuyên xưng đức tin phổ quát - và đặt ra mục tiêu thống nhất ngày lễ Phục sinh trên toàn Giáo hội.

Đức Giáo Hoàng sẽ khởi hành từ Sân bay Fiumicino của Rôma vào thứ Năm, ngày 27 tháng 11, và đến Ankara vào buổi trưa. Sau lễ đón chính thức, ngài sẽ viếng thăm Lăng Mustafa Kemal Atatürk, người sáng lập Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, và gặp gỡ Tổng thống Recep Tayyip Erdoğan, các đại diện của xã hội dân sự và đoàn ngoại giao.

Tối hôm đó, ngài sẽ tới Istanbul.

Vào thứ Sáu, ngày 28 tháng 11, Đức Thánh Cha sẽ bắt đầu ngày mới bằng buổi cầu nguyện cùng các giám mục, linh mục, phó tế và nhân viên mục vụ tại Nhà thờ Chính tòa Chúa Thánh Thần. Sau đó, ngài sẽ đến thăm một nhà dưỡng lão do Dòng Tiểu Muội Người Nghèo điều hành.

Buổi chiều, ngài sẽ đi trực thăng đến İznik để tham dự buổi cầu nguyện đại kết gần tàn tích của Vương cung thánh đường cổ St. Neophytus, tưởng nhớ Công đồng Nicê đầu tiên, trong đó khẳng định Chúa Kitô là “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”.

Trở lại Istanbul vào buổi tối hôm đó, Đức Giáo Hoàng sẽ có cuộc gặp riêng với các giám mục của đất nước.

Lịch trình hôm thứ Bảy bao gồm các chuyến thăm Nhà thờ Xanh và Hagia Sophia gần đó, những biểu tượng của đối thoại liên tôn và di sản Kitô giáo. Ngài sẽ gặp riêng các nhà lãnh đạo của các Giáo hội Kitô giáo khác tại Nhà thờ Chính thống giáo Syriac Mor Ephrem, sau đó cùng Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew I đọc kinh tôn vinh và ký kết tuyên bố chung tại Nhà thờ Thượng phụ Thánh George.

Ngày này sẽ kết thúc bằng Thánh lễ tại Volkswagen Arena, nơi Đức Giáo Hoàng sẽ có bài giảng.

Vào Chúa Nhật, ngày 30 tháng 11, Đức Giáo Hoàng sẽ viếng thăm Nhà thờ Chính tòa Tông tòa Armenia ở Istanbul trước khi khởi hành đi Beirut. Tại đây, ngài sẽ được Tổng thống Liban Joseph Aoun - người được bầu vào Tháng Giêng sau hơn hai năm bế tắc chính trị - chào đón và gặp gỡ các nhà lãnh đạo quốc gia khác.

Hệ thống chính trị theo tôn giáo của Li Băng, được thành lập theo Hiệp ước quốc gia năm 1943 và được tái khẳng định trong Hiệp định Taif năm 1989, dành chức tổng thống cho một người theo Kitô giáo Maronite, chức thủ tướng cho một người theo đạo Hồi giáo Sunni và chức chủ tịch quốc hội cho một người theo đạo Hồi giáo Shiite.

Vào thứ Hai, ngày 1 tháng 12, Đức Giáo Hoàng Lêô sẽ đến Annaya để cầu nguyện tại mộ Thánh Charbel Makhlouf, vị tu sĩ Maronite thế kỷ 19 được tôn kính vì sự thánh thiện và những phép lạ của ngài. Sáng hôm đó, ngài sẽ gặp gỡ các giáo sĩ và nhân viên mục vụ tại Đền Đức Mẹ Li-băng ở Harissa và gặp gỡ các Thượng Phụ Công Giáo tại Tòa Sứ thần Tòa thánh.

Chiều hôm đó, ngài sẽ tham gia một cuộc họp đại kết và liên tôn tại Quảng trường Martyrs ở Beirut và gặp gỡ những người trẻ tuổi bên ngoài Tòa Thượng phụ Maronite ở Bkerké.

Ngày cuối cùng của chuyến đi, thứ Ba, ngày 2 tháng 12, sẽ bắt đầu bằng chuyến thăm Bệnh viện De la Croix ở Jal ed Dib, sau đó là phút cầu nguyện thầm lặng tại cảng Beirut, nơi xảy ra vụ nổ kinh hoàng năm 2020.

Đức Giáo Hoàng Lêô sẽ cử hành Thánh lễ bế mạc chuyến đi của mình tại Bến tàu Beirut trước khi trở về Rôma, nơi ngài dự kiến sẽ đến vào lúc 4:10 chiều giờ địa phương.


Source:Catholic News AgencyPope Leo to pray at tomb of St. Charbel during first apostolic journey to Turkey, Lebanon

2. Cuộc gặp gỡ lạ lùng giữa Cha Thánh Piô thành Pietrelcina và một linh hồn từ luyện ngục

Philip Kosloski của tờ Aleteia có một bài viết nhan đề “When Padre Pio was visited by a soul from purgatory” nghĩa là “Khi Cha Thánh Piô được một linh hồn từ luyện ngục thăm viếng”. Câu chuyện thật là đánh động vì nó nhắc nhở chúng ta những lời cầu nguyện và thánh lễ thật hữu ích dường nào để cứu các linh hồn trong luyện ngục. Xin mời quý vị và anh chị em theo dõi qua lời dịch của Như Ý.

Cha Pio Năm Dấu Thánh nổi tiếng với nhiều kinh nghiệm huyền bí trong khi cầu nguyện. Ngài thường xuyên được nhìn thấu qua bức màn thiên đàng khi vẫn còn đang tại thế. Một thí dụ tiêu biểu cho các kinh nghiệm này liên quan đến một cuộc gặp gỡ bất ngờ với một linh hồn từ luyện ngục.

Một ngày nọ khi đang cầu nguyện một mình, Cha Pio mở mắt ra và thấy một ông già đang đứng trước mặt ngài. Cha Pio không chút sợ hãi nhưng rất ngạc nhiên trước sự hiện diện của một người khác trong phòng và ngài giải thích trong chứng từ của mình như sau: “Tôi không thể tưởng tượng được làm thế nào ông ta có thể bước vào nhà thờ vào lúc này vì tất cả các cửa đều bị khóa lại.”

Tìm cách làm sáng tỏ bí ẩn này, Cha Pio hỏi người đàn ông “Bạn là ai? Bạn muốn gì?”

Người đàn ông trả lời Cha Pio: “Tôi là Pietro Di Mauro, con trai của Nicola, biệt danh là Precoco. Tôi đã chết trong căn nhà này vào ngày 18 tháng 9 năm 1908, tại phòng số 4, khi đó nơi đây vẫn còn là một viện tế bần. Một đêm nọ, khi đang ở trên giường, tôi ngủ thiếp đi với một điếu xì gà đang hút dở. Điếu xì gà làm cháy nệm và tôi chết vì nghẹt thở và bị đốt cháy. Tôi vẫn còn trong luyện ngục. Tôi cần một thánh lễ để được giải thoát. Chúa cho phép tôi đến và nhờ Cha giúp đỡ tôi.”

Pio an ủi linh hồn tội nghiệp này “Hãy yên tâm tôi bắt đầu cầu nguyện cho ông ngay, và ngày mai tôi sẽ cử hành thánh lễ cầu sự giải thoát của bạn.”

Người đàn ông biến đi và ngày hôm sau Cha Pio đã thực hiện một số công việc điều tra và phát hiện ra tính chân thực của câu chuyện. Sổ bộ của tòa thị chính Rotondo ghi nhận có người đàn ông cùng tên chết vào ngày đó năm 1908 vì biến cố cháy nhà như đã kể. Mọi thứ đã được xác nhận và Cha Pio đã cử hành nhiều Thánh lễ cho linh hồn của người quá cố.

Đây không phải là sự xuất hiện duy nhất của một linh hồn từ luyện ngục yêu cầu Cha Pio cầu nguyện cho. Cha Pio cho biết: “Số linh hồn những người đã chết đến tu viện này xin cầu nguyện cũng đông như linh hồn những người còn sống đến đây xin cầu nguyện cho sự giải thoát khỏi các đam mê và tính hư nết xấu.”

Nhiều lần các linh hồn xin ngài cử hành một Thánh lễ cầu cho họ. Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của một Thánh lễ và cho chúng ta thấy cách thức những lời cầu nguyện và Thánh lễ có thể giúp giảm bớt thời gian một người phải trải qua trong luyện ngục trước khi được hưởng vinh quang thiên đàng.

3. Người Công Giáo có tin vào chuyện có ma quỷ không? Giáo huấn của Giáo hội về Luyện ngục

Nhân dịp tháng Các Linh Hồn, chúng ta, những người Công Giáo, hãy cùng nhau tìm hiểu về những gì về cái gọi là “thế giới huyền bí” mà rất nhiều người, đặc biệt là giới trẻ hiện nay say mê kiếm tìm. Nhan nhản trên mạng, người ta thấy những bài viết, những video Youtube làm về cái gọi là “tâm linh”, trong đó là vô số những điều liên quan đến thế giới vô hình đầy ma mị như nghi thức gọi hồn, cầu cơ, giải bùa, trị vong nhập v.v... với số lượng độc giả càng tăng cao khi mức độ ma quái của video càng lớn. Nhưng khi trí tò mò của con người bị cuốn hút bởi những hiện tượng thần bí của thế giới siêu hình, có mấy ai để ý đến lời thánh Phêrô đã căn dặn chúng ta về ma quỷ: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5:8)?

Để cùng nhau tìm hiểu về thế giới vô hình với ma, quỷ là những vật thể mà chúng ta luôn bị thu hút và muốn tìm hiểu - dưới ánh sáng và theo quan điểm của Giáo Hội Công Giáo- để không bị dẫn dụ sang bên kia lằn ranh giới nơi ma quỷ luôn sẵn sàng chào đón chúng ta bước qua bằng những cạm bẫy khôn khéo quỷ quyệt dưới danh nghĩa “khám phá tâm linh” và “tiếp xúc với cõi âm”, mời quý vị cùng đọc bài viết của Adam Blai, chuyên gia về bộ môn tà ma và trừ quỷ, thuộc tổng giáo phận Pittsburgh ở tiểu bang Pennsylvania. Ông hiện là thành viên Hiệp Hội Trừ Tà Quốc Tế tại Roma trong nhiều năm qua. Ông cũng là tác giả của cuốn “Ma ám, Quỷ ám và Trừ Quỷ”, một cẩm nang hướng dẫn cho mọi người áp dụng trong trận chiến chống lại những thế lực ma quỷ.

Bài viết có nhan đề “Do Catholics Believe in Ghosts?: Church Teaching on Purgatory”, nghĩa là “Người Công Giáo có tin vào chuyện có ma quỷ không? Giáo huấn của Giáo hội về Luyện ngục”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Giáo Hội Công Giáo luôn minh định về sự tồn tại của linh hồn trong cơ thể con người, một giá trị trước Thiên Chúa, và là một tình trạng vĩnh cửu trên thiên đường hay địa ngục. Người Công Giáo cũng tin vào một chốn gọi là luyện ngục: một tình trạng tạm thời để linh hồn của người qua đời dù đã vượt qua phần phán xét riêng nhưng vẫn còn vướng mắc chút tội lỗi tạm thời có cơ hội được chuộc tội trước khi được đến trước nhan thánh. Trong Giáo hội vẫn có truyền thống là dâng lễ và cầu nguyện cho người chết để thúc đẩy tiến trình thanh luyện này cho nhanh chóng hơn.

Nhiều vị thánh, khi còn sống, đã viết về chuyện những linh hồn hiện ra để xin các ngài cầu nguyện, sám hối, hoặc ý lễ để qua đó họ được đền bù tội lỗi mình đã phạm khi còn sống. Sau khi đã thực hiện những điều trên, thánh nhân đó thường được phép thăm viếng những linh hồn này lần cuối trước khi họ về trời. Có rất nhiều sách được Giáo hội chấp thuận mô tả các trường hợp linh hồn hiện ra với người còn sống để báo hiệu nhu cầu cầu nguyện của họ.

Mặc dù các linh hồn trong luyện ngục đôi khi được phép nói chuyện với các vị thánh, nhưng điều đó thường không xảy ra với người bình thường. Kinh Thánh từng nói rõ về việc tìm cách tiếp xúc để trò chuyện với người đã chết bị cấm đoán ra sao (Đnl 18: 10–13). Làm như vậy thể hiện sự mất tin tưởng nơi Thiên Chúa khi tìm cách qua mặt Ngài và thay vào đó là tìm kiếm sự giúp đỡ của một hồn ma hoặc một người trung gian (nhà ngoại cảm) như một nguồn an ủi, hướng dẫn hoặc thông tin. Đây chính là một vi phạm của điều răn đầu tiên trong Mười Điều Răn.

Trong trường hợp những thánh nhân đã từng nói chuyện với các linh hồn, họ không triệu hồi các linh hồn hoặc tìm kiếm sự hướng dẫn, thông tin, hoặc sự an ủi từ những linh hồn này. Một khi linh hồn xin được cầu nguyện, việc giữa hai bên sẽ dừng lại. Điều thú vị đáng ghi nhận là trong hầu hết các trường hợp của những nhà điều tra về hiện tượng siêu nhiên khi giao tiếp với các vong hồn, điều đầu tiên họ thường được nghe các linh hồn nói là: “Hãy giúp tôi”. Đáng buồn thay, hầu hết mọi người lại không biết cách cầu nguyện cho người chết như thế nào, và vì vậy không có sự giúp đỡ nào được đưa ra. Bất cứ sự giao tiếp nào vượt quá hạn mức này gần như chắc chắn chỉ là sự lừa dối từ phía ma quỷ.

Một số dấu hiệu tiêu biểu cho thấy có sự hiển hiện của linh hồn người đang còn trong luyện ngục là âm thanh của một người cứ đia qua đi lại, một mùi vị liên quan đến người đó, tiếng gõ trên vách tường và, trong trường hợp của những người tự tử, là cảm giác nặng nề và buồn bã trong khu vực xảy ra vụ tự tử. Hầu như luôn luôn không có lời nói nào của những linh hồn này ngoài cụm từ “Giúp tôi” hoặc “Có” để trả lời cho câu hỏi “Anh chị em có cần được cầu nguyện cho mình không?” Các linh hồn trong luyện ngục luôn biết rõ về việc Thiên Chúa cấm (người còn sống) tìm kiếm thông tin từ người chết (Đnl 18:9–14; Lv 19:31 và 20:6; Is 8:19) và do đó họ sẽ không bao giờ lôi kéo người sống vào việc phạm tội này khi để cho việc giao tiếp vượt quá nhu cầu xin lễ hoặc cầu nguyện.

Thể loại ma ám phổ biến nhất là trong trường hợp có linh hồn của người đã chết vì tự sát cũng như nạn nhân bị người khác giết chết. Những linh hồn này thường tạo ra một cảm giác rất mạnh và hiệu ứng của sự buồn rầu, trầm cảm và bất an gần nơi họ chết. Họ có thể gây ra một số biểu hiện, chẳng hạn như gõ hoặc đập vào thời điểm họ chết hoặc khi họ được nhắc đến trong câu chuyện. Chúng ta phải cẩn thận vì ma quỷ có thể lợi dụng một vụ tự sát hoặc giết người đã được biết rõ và giả làm nạn nhân tại ngay địa điểm đó. Ngoài ra, con quỷ đã từng giúp hoặc khuyến khích người ta giết người hoặc tự sát vẫn có thể còn ở đó. Các loại ma ám khác cũng thường xảy ra ngay trong nhà thờ và nhưng cơ sở liên quan đến tôn giáo như nhà xứ hay tu viện.

Trong nhiều trường hợp khi có người tiến hành những cuộc điều tra về hiện tượng siêu nhiên, đã có dấu hiệu cho thấy có cả sự hiện diện của những linh hồn trong luyện ngục và ma quỷ. Điều này xảy ra vì ma quỷ thường bị thu hút đến những nơi mà con người đã cố gắng giao tiếp với các vong hồn. Khi cố kiếm tìm những kiến thức huyền bí từ các vong hồn, con người mặc nhiên cho phép ma quỷ hiện ra và trả lời. Trong những tình huống này, thường có một giao tiếp thiết yếu ban đầu là “giúp tôi” — kế tiếp là tạm ngưng, và sau đó là một số giao tiếp mang tính cách khuynh đảo và sâu rộng hơn nữa. Trong tình huống này, ma quỷ chỉ đơn giản là lợi dụng một cánh cửa đã mở. Người ta thường mô tả về các tín hiệu ban đầu thường không thể bị phá hủy và nỗ lực của họ để đối thoại với vong hồn trong khi bị bám theo bởi những năng lượng tiêu cực và bạo lực khiến họ phải kêu gọi sự giúp đỡ của Hội Thánh.

Nếu một trường hợp có vẻ là do một linh hồn con người thực sự theo ám, biện pháp khắc phục thông thường là một Thánh lễ hoặc những kinh cầu hồn cho người chết tại địa điểm đó. Thường thì việc dâng Thánh lễ taị nơi người đó qua đời là hiệu quả nhất, nhưng điều này không bắt buộc. Một Nghi Thức dành cho Kẻ Chết cũng đã được sử dụng trong nhiều trường hợp và đã thành công. Những kinh cầu này cần phải được nguyện với lòng bác ái và tình yêu thương. Những lời cầu nguyện bổ sung cũng có thể cần được thêm vào.

 

http://vietcatholic.net/News/Html/298738.htm

 

POPE LEO PRAYS FOR VICTIMS OF HURRICANE MELISSA

 


High seas and strong winds batter eastern Cuba ahead of Hurricane Melissa’s landfall 

 

Pope Leo prays for victims of Hurricane Melissa

At the end of the general audience on Wednesday, Pope Leo expresses his closeness to those affected by Hurricane Melissa, a storm of ‘catastrophic power’, and encourages civil authorities to ‘do everything possible’ to support those affected.

By Edoardo Giribaldi 

Downed power lines, piles of debris, and vehicles submerged in muddy water are a few of the images coming out of Jamaica, in the wake of the devastation caused by Hurricane Melissa.

On Wednesday, 29 October, at the end of the General Audience, Pope Leo XIV's thoughts went out to the Caribbean, hit by a storm of “catastrophic power” that has caused “violent flooding”.

Hurricane Melissa made landfall in Cuba, near the town of Chivirico in the province of Santiago de Cuba, and has already left thousands of people displaced, and damaged homes and infrastructure, including several hospitals.

In his appeal, Pope Leo assured everyone of his closeness and said he is praying “for those who have lost their lives, for those who are fleeing and for those populations who, awaiting the storm's developments, are experiencing hours of anxiety and concern”.

He went on to encourage civil authorities “to do everything possible”, and thanked Christian communities and volunteer organizations “for the relief they are providing”.

 


Flooded street in Kingston, Jamaica   (ANSA)

 

https://www.vaticannews.va/en/pope/news/2025-10/pope-leo-prays-for-victims-of-hurricane-melissa.html

USCCB PRESIDENT CALLS FOR PRAYERS AND AID FOR THOSE AFFECTED BY HURRICANE MELISSA



 A resident of the town of El Cobre, in the city of Santiago de Cuba, walks on the roof of his damaged home after the passage of Hurricane Melissa  (AFP or licensors)

 

USCCB president calls for prayers and aid for those affected by Hurricane Melissa

Archbishop Timothy P. Broglio issues a statement calls for prayers and actions to support those impacted by the Category 5 hurricane. He urges all people of good will to "stand in solidarity by supporting the efforts of organizations already on the ground such as Caritas Haiti, Caritas Cuba, and Caritas Antilles, as well as Catholic Relief Services".

Vatican News

Hurricane Melissa ripped through the Caribbean, tearing through Jamaica and Cuba. It was one of the strongest storms in modern history with winds of 298km/h (185 mph) at its peak - stronger than Hurricane Katrina. 34 people have been killed and tens of thousands have been left without power.

In response, Archbishop Timothy Broglio, president U.S. Conference of Catholic Bishops, issued a statment calling for Catholics to pray for and support the people impacted by the Category 5 storm.

 


A car and surrounding buildings are seen damaged following the passage of Hurricane Melissa, in Black River, St. Elizabeth, Jamaica   (AFP or licensors)

 

The USCCB president explained that families in the Caribbean region “face severe risk of flooding, landslides, displacement, and infrastructure damage with little resources to respond.” He reflected on how “our brothers and sisters in small island nations like Jamaica, Cuba, and Haiti are the most vulnerable to the impact of such strong storms, often intensified by a warming climate.” As a result, the Church is accompanying them with prayers and action.

Archbishop Broglio urged all Catholics and people of good will to join in praying for the safety and protection of everyone, especially first responders, in the affected countries.

He closed by calling everyone to “stand in solidarity by supporting the efforts of organizations already on the ground such as Caritas Haiti, Caritas Cuba, and Caritas Antilles, as well as Catholic Relief Services, who are supplying essential, direct services and accompaniment to those in need.”

https://www.vaticannews.va/en/church/news/2025-10/usccb-calls-for-prayers-for-those-affected-by-hurricane-melissa.html

CHỦ ĐỀ ĐẠI HỘI THÁNH THỂ QUỐC TẾ 2028 TẠI SYDNEY



 Chủ đề Đại hội Thánh Thể Quốc tế 2028 tại Sydney

Tổng Giáo phận Sydney đã chính thức công bố chủ đề Đại hội Thánh Thể Quốc tế năm 2028 được Đức Thánh Cha Lêô XIV chọn: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”. Những lời của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly nhắc nhở các tín hữu rằng tình yêu chân thực nhất, không phải là cảm xúc mà là sự hy sinh cho nhau.

Vatican News

Đức Tổng Giám mục Anthony Fisher của Sydney gọi đây là “một cụm từ tóm gọn toàn bộ lịch sử Kitô giáo”, diễn tả không chỉ cuộc Thương khó, cái chết và Phục sinh của Chúa Kitô, mà còn là lời mời gọi các tín hữu noi theo cùng khuôn mẫu tình yêu ấy – tình yêu tự hiến. “Những lời này,” ngài nói, “mời gọi chúng ta sống cùng một tinh thần trao ban mà Đức Kitô đã sống và đã ban cho chúng ta như thước đo của đời môn đệ”.

Theo Đức Tổng Giám mục Fisher, ý nghĩa của chủ đề vượt xa phạm vi phụng vụ: nó mang chiều kích mục vụ và xã hội, mời gọi Giáo hội khám phá lại Thánh Thể như sức mạnh đổi mới đời sống Kitô hữu. “Sự phong phú của chủ đề này,” ngài nhận định, “sẽ mở ra nhiều cơ hội giáo lý và canh tân sự dấn thân đối với ơn gọi linh mục, đời thánh hiến, hôn nhân thánh thiện, cũng như tinh thần phục vụ người nghèo và người dễ bị tổn thương”.

Cha Corrado Maggioni, Chủ tịch Ủy ban Tòa Thánh về các Đại hội Thánh Thể Quốc tế, xác nhận Đức Thánh Cha đích thân chọn câu này để làm nổi bật “hy tế thực sự và hữu hình của Đức Kitô – một hy tế hoàn toàn vì tình yêu”. Đây không phải là thần học trừu tượng. Ngài giải thích: “Hy tế được thúc đẩy bởi tình yêu là trung tâm của đức tin Kitô giáo. Khi nghe ‘Đây là mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con’, chúng ta không thể lãnh nhận Mình Thánh Chúa mà vẫn không biến đổi”.

Đức cha phụ tá của Sydney, Richard Umbers, Chủ tịch Ủy ban tổ chức địa phương, nói cách giản dị: “Thánh Thể không phải là điều chúng ta làm cho Thiên Chúa, mà là điều Đức Kitô thực hiện cho chúng ta. Đó là lý do tại sao chủ đề này hướng đến bản chất của đức tin Công giáo”.

Các công tác chuẩn bị đã khởi động trên khắp các giáo phận Úc. Đại hội dự kiến quy tụ hàng chục ngàn tín hữu từ khắp thế giới, với các buổi cử hành phụng vụ, giáo lý, sinh hoạt văn hóa và chứng từ công khai về mầu nhiệm Thánh Thể.

Từ Đại hội đầu tiên tại Lille (Pháp) năm 1881 đến nay, các kỳ Đại hội Thánh Thể đã trở thành những dấu chỉ sống động của Giáo hội hoàn vũ. Trong thế giới ngày nay đầy chia rẽ và khát khao ý nghĩa, lời Chúa Giêsu vẫn vang lên: “Đây là mình Thầy, hiến dâng vì anh em”. Đó chính là thước đo của tình yêu – và là con đường mà Giáo hội được mời gọi tiếp tục bước đi.

https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2025-10/chu-de-dai-hoi-thanh-the-quoc-te-sydney-2028.html

THÁNG CẦU NGUYỆN CHO CÁC LINH HỒN: TỪ HY VỌNG ĐẾN HÀNH ĐỘNG

 


Tháng Cầu nguyện cho các Linh hồn: Từ Hy vọng đến Hành động

Việc cầu nguyện cho người đã qua đời không chỉ là một truyền thống mang ý nghĩa sâu sắc, mà còn là một cột trụ vững chắc của đức tin Công giáo, bắt nguồn sâu xa từ Kinh Thánh và được thực hành xuyên suốt lịch sử Giáo Hội. Đặc biệt trong bối cảnh Năm Thánh, hành vi bác ái thiêng liêng này là sự biểu lộ mạnh mẽ của niềm hy vọng Kitô giáo, qua đó chúng ta thực hiện sứ mệnh nối kết Trời và Đất, làm cho niềm tin vào Mầu nhiệm các Thánh Thông Công trở nên hữu hình.

Vatican News

Luyện Ngục: Giai đoạn thanh luyện cuối cùng của những người được chọn

Trong nhiều nền văn hóa, cái chết thường gợi lên nỗi sợ hãi hoặc sự chấm dứt. Nhưng đối với người Công giáo, cái chết trong ân sủng là cửa ngõ dẫn đến Hy Vọng viên mãn.

Giáo lý Hội Thánh Công giáo số 1030 đưa ra một định nghĩa rõ ràng về trạng thái Luyện Ngục: “Những người chết trong ân nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, mặc dù chắc chắn được cứu độ đời đời, còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết để vào hưởng phúc Thiên Đàng”.

Luyện Ngục không phải là một cơ hội thứ hai để ăn năn sám hối. Cơ hội đó đã chấm dứt khi cuộc đời trần thế kết thúc. Thay vào đó, Luyện Ngục là trạng thái thanh luyện cho những linh hồn đã chắc chắn được cứu độ, nhưng vẫn còn mang theo những vết nhơ nhỏ của tội lỗi, những hình phạt tạm thời chưa đền bù đủ, hoặc những gắn bó chưa dứt khoát với trần gian.

Chúng ta, những người đang lữ hành trên trần gian, phải tự hỏi tại sao chúng ta lại có thể và cần phải can thiệp vào tiến trình này của những người đã ra đi. Câu trả lời ngắn gọn và đầy sức mạnh là: Vì lời cầu nguyện của chúng ta thực sự giúp ích cho họ!

Thánh Gioan Vianney, vị linh mục thánh thiện, đã mạnh mẽ kêu gọi: “Vậy thì, hãy suy ngắm mức độ đau khổ mà các linh hồn trong Luyện Ngục phải chịu đựng; và những phương tiện chúng ta có để làm dịu bớt những đau khổ đó: lời cầu nguyện, việc làm tốt của chúng ta, và, trên hết là Thánh Lễ hy tế thánh thiện.”

Trong Năm Thánh Hy Vọng, khi chúng ta tìm kiếm ân xá và sự hòa giải cho bản thân, chúng ta cũng được mời gọi mở rộng lòng thương xót ấy cho những anh chị em đang chờ đợi ngày gặp Chúa. Việc cầu nguyện cho họ là hành động bác ái cao cả nhất, bởi nó trực tiếp giúp họ đạt được mục đích tối hậu của mọi hy vọng, đó là sự kết hợp vĩnh viễn với Thiên Chúa.

Sự trọn vẹn của Tháng Mười Một: Từ các Thánh đến các Linh hồn

Tháng Mười Một bắt đầu một cách tuyệt đẹp với Lễ Các Thánh (1/11), tôn vinh tất cả những linh hồn, được biết đến và không được biết đến, đã an nghỉ trên Thiên Đàng. Ngay sau đó là Lễ Các Đẳng Linh Hồn (2/11), dành cho những linh hồn đang được thanh luyện trong Luyện Ngục. Việc Giáo hội sắp xếp hai ngày này liền kề nhắc nhở chúng ta rằng: chúng ta là một gia đình và rằng tình yêu không chấm dứt với cái chết.

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II từng nói: “Tất cả chúng ta đều thuộc về cùng một thân thể của Chúa Kitô.” Khi cầu nguyện cho người đã khuất, chúng ta thực hiện Tình Yêu Thập Giá, và như lời Chân Phước Tổng Giám Mục Fulton Sheen quả quyết: “Khi chúng ta bước vào Thiên Đàng, chúng ta sẽ thấy họ, rất nhiều người trong số họ tiến về phía chúng ta và cảm ơn chúng ta. Chúng ta sẽ hỏi họ là ai, và họ sẽ nói: một linh hồn khó khăn mà bạn đã cầu nguyện cho trong Luyện Ngục.”

Đây chính là ‘phần thưởng’ đầy khích lệ: không chỉ là ơn cứu độ cho chính mình, mà còn là niềm vui được đón nhận sự biết ơn từ những người mà chúng ta đã giúp đỡ bằng lòng bác ái của mình.

Từ Hy vọng đến Hành động

Hòa cùng dòng chảy ân sủng trong tháng Mười Một của Năm Thánh này, Mẹ Giáo Hội mời gọi con cái mình thể hiện lòng hiếu thảo và bác ái sâu sắc đối với các linh hồn đang thanh luyện trong Luyện Ngục. Truyền thống thiêng liêng phong phú của Giáo Hội đã ghi lại những cách thức thực hành cụ thể và phổ biến, là những nhịp cầu hữu hiệu để mỗi tín hữu có thể biến niềm hy vọng Phục Sinh thành hành động thiết thực mỗi ngày:

Thứ nhất: Dâng việc Hy sinh và Hãm mình

Những hy sinh nhỏ bé, những việc hãm mình trong ngày có thể được dâng lên cách ý nghĩa cho việc thanh luyện các linh hồn. Đời sống Kitô hữu là một hy lễ liên lỉ, và việc chọn lựa những khó khăn tự nguyện là một hành động chuộc tội. Ví dụ: giữ im lặng khi bị cám dỗ nói xấu một ai đó; hãm mình khỏi mạng xã hội hoặc ăn chay kiêng thịt vào một ngày trong tuần. Những hành động này, khi kết hợp với hy tế thập giá của Chúa Giêsu, trở thành một món quà vô giá cho các linh hồn.

Thứ hai là việc Lần Chuỗi Lòng Thương Xót Chúa

Chuỗi Kinh Lòng Thương Xót Chúa là một lời cầu nguyện mạnh mẽ xin Chúa Cha thương xót chúng ta và toàn thế giới. Dâng Chuỗi Kinh này cho các linh hồn Luyện Ngục là một hành động hoàn hảo, vì Lòng Thương Xót chính là cánh cửa duy nhất mà qua đó họ sẽ tiến vào Thiên Đàng. Đây là một cách cầu nguyện trực tiếp để xin ơn tha thứ và rút ngắn thời gian thanh tẩy của họ.

Thứ ba: Cầu nguyện với Giờ Kinh Phụng Vụ Cầu Hồn

Việc cầu nguyện theo Giờ Kinh Phụng Vụ là gắn kết lời cầu nguyện cá nhân với lời cầu nguyện chính thức của Giáo hội hoàn vũ. Cầu nguyện Giờ Kinh Cầu Hồn là tham gia vào một truyền thống phong phú, dâng lên Chúa sự ngợi khen kèm theo lời xin tha thứ và an nghỉ cho các linh hồn.

Thứ tư: Xin Lễ Cầu Hồn và Rước Lễ với ý chỉ đặc biệt

Theo Thánh Gioan Vianney, Thánh Lễ là phương tiện có sức mạnh nhất để làm dịu đi đau khổ của các linh hồn. Chúng ta có thể xin một Thánh Lễ được dâng cho ý chỉ cầu hồn nói chung, hoặc cho một người thân đã qua đời cụ thể. Hơn nữa, mỗi khi rước Mình Thánh Chúa, chúng ta có thể dâng trọn vẹn giá trị ơn phúc của việc Rước Lễ đó cho các linh hồn Luyện Ngục. Đây là món quà tuyệt vời nhất mà chúng ta có thể trao tặng cho họ.

Thứ năm: Thêm Lời Kinh ngắn vào Thói Quen Cầu Nguyện

Lời Kinh An Nghỉ Đời Đời là một lời kinh ngắn gọn, nhưng ý nghĩa sâu sắc: “Lạy Chúa, xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời. Và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy. Xin cho các linh hồn, và linh hồn mọi tín hữu đã qua đời, nhờ lòng thương xót của Chúa, được yên nghỉ bình an. Amen.”

Việc thêm lời kinh này vào buổi đọc kinh sáng, kinh tối, hoặc sau bữa ăn có thể giúp chúng ta duy trì thói quen nhớ đến các linh hồn mọi ngày.

Bên cạnh đó, Lời Kinh của Thánh Gertrude Cả cũng được các tín hữu đưa vào kinh nguyện hàng ngày như một lời cầu nguyện đầy quyền năng: “Lạy Cha, Đấng Ngự Muôn Đời, con xin dâng lên Cha Máu Cực Thánh của Người Con Chí Thánh Cha là Đức Giêsu, cùng với các Thánh Lễ được cử hành trên khắp cả thế giới ngày hôm nay, cho tất cả các Linh Hồn nơi Luyện Ngục, cho những người phạm tội ở khắp mọi nơi, cho những người phạm tội trong khắp cả Giáo Hội Hoàn Vũ, những người trong mái ấm và trong nội bộ gia đình của con. Amen.” Niềm tin vào sức mạnh đặc biệt của lời kinh này bắt nguồn từ lời hứa Thiên Chúa đã ban cho chính Thánh Nữ.

Thứ sáu: Viếng nghĩa trang và cầu nguyện cho người đã khuất

Viếng mộ và cầu nguyện cho người đã khuất là một trong những việc thương người về phần linh hồn. Hành động này nhắc nhở chúng ta về sự mong manh của đời người và cái chết chắc chắn đang chờ đợi mỗi người.

Đặc biệt, trong tám ngày đầu tháng Mười Một (từ ngày 1 đến 8), Hội Thánh ban cơ hội lãnh ơn toàn xá để nhường lại cho linh hồn trong Luyện Ngục, với các điều kiện thông thường (Xưng Tội, Rước Lễ, Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng, và viếng nhà thờ/nghĩa trang). Hãy dành thời gian viếng thăm mộ phần người thân, hoặc cả những người xa lạ, những linh hồn không có ai cầu nguyện cho họ, cũng như tận dụng tối đa ân huệ này trong Năm Thánh Hy Vọng.

Lời hứa An ủi: Khi Bác ái trở thành Thói quen

Việc cầu nguyện cho các linh hồn Luyện Ngục không chỉ là nghĩa vụ bác ái, mà còn là nguồn an ủi và định hướng sâu sắc cho chính đời sống thiêng liêng của chúng ta.

Một nữ tín hữu Công giáo tên Lindsey Mitzel đã kể lại một khoảnh khắc đánh thức ý thức của cô: “Năm ngoái, khi tôi đi dạo buổi chiều cùng các con bên một hồ nước xinh đẹp… con gái tôi bất chợt dừng lại… và háo hức chỉ tay: ‘Mẹ ơi, nhìn kìa! Một nghĩa trang! Chúng ta có thể cầu nguyện cho những người trong Luyện Ngục!’”

Khoảnh khắc đơn sơ này đã giúp cô nhớ lại lời của một vị linh hướng: khi các linh hồn được giải thoát lên Thiên Đàng, họ sẽ rất nhiệt thành cầu nguyện cho chúng ta cũng được lên Thiên Đàng. Chính niềm tin vào sự trao đổi thiêng liêng này đã biến lời cầu nguyện cho người đã qua đời thành một thói quen trong cuộc sống của cô, không chỉ trong tháng Mười Một.

Cô Lindsey bắt đầu để ý các nghĩa trang dọc đường đi làm và dâng một lời cầu nguyện ngắn gọn, theo sau là ba kinh Kính Mừng hoặc một kinh Lạy Cha, cho những người được chôn cất ở đó. Thói quen này, như cô chia sẻ, đã mang lại lòng khiêm nhường sâu sắc, khi cô cảm thấy mình được đặc ân cầu nguyện cho vô số linh hồn đã ra đi từ lâu.

Việc cầu nguyện cho những người đã chết giúp chúng ta ghi nhớ sự mong manh của chính mình và rằng chính chúng ta, sau khi qua đời, cũng cần ân sủng và lời cầu nguyện của người khác để đạt được Thiên Đàng. Việc nhớ cầu nguyện cho những người đã ra đi giúp chúng ta chống lại sự kiêu ngạo và buông thả trong cuộc đời này.

Nhà văn Công giáo người Mỹ Louise Merrie cũng chia sẻ: “Bản thân tôi được mẹ dạy dỗ về tầm quan trọng của việc này ngay từ khi còn nhỏ. Mẹ tôi cầu nguyện mỗi ngày cho tất cả những người bà yêu thương đã qua đời, cho tất cả các linh hồn trong Luyện Ngục, và đặc biệt cho những linh hồn bị lãng quên không có ai cầu nguyện cho họ... Cảm giác được Hội Thánh chung lời cầu nguyện đã giúp tôi rất nhiều trong nỗi đau mất mát. Dù mẹ tôi có thể đã ở trên Thiên Đàng, tôi vẫn giữ lời hứa cầu nguyện cho mẹ mỗi ngày.”

Trong Năm Thánh Hy Vọng 2025 này, chúng ta hãy biến lời cầu nguyện cho Các Linh Hồn trong Luyện Ngục thành một phần không thể thiếu trong đời sống thiêng liêng của chúng ta. Mỗi lời kinh, mỗi hy sinh là một hành động của hy vọng và bác ái, không chỉ an ủi những người đã ra đi mà còn chuẩn bị cho cuộc hội ngộ hạnh phúc của chính chúng ta với Chúa và tất cả các Thánh trên Thiên Đàng.

Việc hiệp thông cầu nguyện này nhắc nhở chúng ta rằng, tất cả chúng ta – Hội Thánh Chiến Đấu, Đau Khổ, và Khải Hoàn – đều là một gia đình không thể chia cắt trong Chúa Kitô.

https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2025-10/thang-cau-nguyen-cho-cac-linh-hon-tu-hy-vong-den-hanh-dong.html

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2025

OCTOBER 31, 2025: FRIDAY OF THE THIRTIETH WEEK IN ORDINARY TIME

 October 31, 2025

Friday of the Thirtieth Week in Ordinary Time

Lectionary: 483

 


Reading 1

Romans 9:1-5

Brothers and sisters:
I speak the truth in Christ, I do not lie;
my conscience joins with the Holy Spirit in bearing me witness
that I have great sorrow and constant anguish in my heart.
For I could wish that I myself were accursed and cut off from Christ
for the sake of my own people,
my kindred according to the flesh.
They are children of Israel;
theirs the adoption, the glory, the covenants,
the giving of the law, the worship, and the promises;
theirs the patriarchs, and from them,
according to the flesh, is the Christ,
who is over all, God blessed forever. Amen.

 

Responsorial Psalm

Psalm 147:12-13, 14-15, 19-20

R. Praise the Lord, Jerusalem.
Glorify the LORD, O Jerusalem;
praise your God, O Zion.
For he has strengthened the bars of your gates;
he has blessed your children within you.
R. Praise the Lord, Jerusalem.
He has granted peace in your borders;
with the best of wheat he fills you.
He sends forth his command to the earth;
swiftly runs his word!
R. Praise the Lord, Jerusalem.
He has proclaimed his word to Jacob,
his statutes and his ordinances to Israel.
He has not done thus for any other nation;
his ordinances he has not made known to them. Alleluia.
R. Praise the Lord, Jerusalem.

 

Alleluia

John 10:27

R. Alleluia, alleluia.
My sheep hear my voice, says the Lord;
I know them, and they follow me.
R. Alleluia, alleluia.

 

Gospel

Luke 14:1-6

On a sabbath Jesus went to dine
at the home of one of the leading Pharisees,
and the people there were observing him carefully.
In front of him there was a man suffering from dropsy.
Jesus spoke to the scholars of the law and Pharisees in reply, asking,
"Is it lawful to cure on the sabbath or not?"
But they kept silent; so he took the man and,
after he had healed him, dismissed him.
Then he said to them
"Who among you, if your son or ox falls into a cistern,
would not immediately pull him out on the sabbath day?"
But they were unable to answer his question.

https://bible.usccb.org/bible/readings/103125.cfm

 

 


Commentary on Romans 9:1-5

In today’s reading, Paul now moves on to a theme which causes him great pain, namely, the rejection of Jesus as Messiah by the vast majority of his fellow-Jews.

We hear people making a wholesale condemnation of the Jewish people for their rejection of Christianity, but here as in most situations, generalisations are highly inaccurate. Jesus himself and his mother were Jews. All of Jesus’ early disciples were Jews, as were all of the first converts. Even after Gentiles began to be baptised, there were still Jews becoming Christians. However, the majority were not ready to accept Jesus as the expected Messiah and, in addition, they acted in some places very strongly against the Christians, whom they saw as renegade or heretical Jews.

Speaking of his own people Paul says that:

I have great sorrow and unceasing anguish in my heart.

And he emphasises that these are not just empty words when he says:

…I am speaking the truth in Christ—I am not lying; my conscience confirms it by the Holy Spirit…

Perhaps some felt he was not sincere because elsewhere he has been extremely critical of the attitude and behaviour of some Jews—both Christians and non-Christians.

But he feels so strongly for the spiritual future of his people that he is ready to be cut off entirely from Christ if this would benefit the brothers and sisters who are his own flesh and blood. Literally, he is willing to be “accursed”—an anathema—to be someone condemned and put under a ban of exclusion. And we know how intense Paul’s feelings were for Christ when he says:

…it is no longer I who live, but it is Christ who lives in me.
(Gal 2:20)

In his letter to the Philippians his love for Christ is so great that he does not know whether he wants to live or die. In death, he would be with his beloved Christ forever; in life, he could continue his work of helping others to know the Christ he knows and loves (see Phil 1:18).

The “brothers and sisters” who are his “own flesh and blood” are his fellow-Jews, the actual descendants of Jacob (who was also called ‘Israel’). The name ‘Israel’ was then used of the entire nation, and later of the Northern Kingdom alone after the nation was divided, with the Southern Kingdom being called Judah.

During the period preceding and later in New Testament times, Palestinian Jews used the title to indicate that they were the chosen people of God. Its use here is especially relevant because Paul is about to show that, despite Israel’s unbelief and disobedience, God’s promises to her are still valid:

They are Israelites, and to them belong the adoption, the glory, the covenants, the giving of the law, the worship [of God], and the promises…

Emanating from this ancestral link, Paul lists all the privileges that came with it: their adoption as God’s children, the glory of God at times clearly evident among his people, the covenants with Abraham, with Jacob-Israel, with Moses, the worship of the one true God, the Law which expresses God’s will, the messianic promises and, finally, their physical relationship with Christ, a son of David. They have a very special place in God’s plan and it is no wonder that Paul grieves over their rejection of Jesus.

…to them belong the patriarchs, and from them, according to the flesh, comes the Christ, who is over all, God blessed forever. Amen.

From the Jews came the great patriarchs—Abraham, Isaac, Jacob and his twelve sons, after whom the tribes of Israel are named. But above all, it is from them that Christ is physically descended in his humanity. Jesus was a Jew born of a Jewish mother. All his family were Jews and he spent his whole life, with only one or two very brief exceptions, immersed in Jewish society. He went to the Temple and attended the synagogue. At the same time, Paul reminds us that Christ above all shares God’s divine nature in one of the clearest statements of the divinity of Jesus found in the entire New Testament.

Speaking of Christ’s origins and his relationship with the Father arising from the last sentence in the reading, the Jerusalem Bible comments:

Both the context and the internal development of the sentence imply that this doxology is addressed to Christ. Paul rarely gives Jesus the title ‘God’, though cf. Tit 2:13, or addresses a doxology to him, cf. Heb 13:21, but this is because he usually keeps this title for the Father and considers the divine persons not so much with an abstract appreciation of their nature as with a concrete appreciation of their functions in the process of salvation. Moreover, he has always in mind the historical Christ in his concrete reality as God made man. For this reason he presents Christ as subordinated to the Father, not only in the work of creation, but also in that of eschatological renewal. Nevertheless, the title ‘Lord’, Kyrios, received by Christ at his resurrection, is the title given by the Septuagint [the Greek translation of the Old Testament] to Yahweh in the Old Testament. For Paul, Jesus is essentially ‘the Son of God’, his ‘own Son’, ‘the son of his love’, who belongs to the sphere of the divine by right, the sphere from which he came, being sent by God. The title ‘Son of God’ became his in a new way with the resurrection, but it was not then he received it since he pre-existed not only as prefigured in the Old Testament, but ontologically. He is the Wisdom, and the Image, by which and in which all things were created, and have been re-created, because into his own person is gathered the fullness of the godhead and of the universe. In him God has devised the whole plan of salvation, and he, no less than the Father, is its accomplishment. As the Father raises to life and judges, so does the Son raise to life and judge. In short, he is one of the three Persons enumerated in the Trinitarian formulae. (edited, text references omitted)

This Jewish tradition of which Paul speaks is a tradition which we Christians acknowledge and recognise by our constant reading of the Old Testament. In fact, we cannot fully understand Christ and the New Testament without making the Old Testament part of our tradition.

Jesus, as Matthew points out again and again, was not a turning away from Judaism, but its fulfilment. Jesus says in the Sermon on the Mount:

Do not think that I have come to abolish the Law or the Prophets; I have come not to abolish but to fulfill.
(Matt 5:17)

While we regret that many Jews still distance themselves from our faith—often, it must be emphasised, in good conscience—we must never contribute in any way to the hatred or discrimination that has been directed towards them over the centuries, not least by many who called themselves Christians, leading ultimately to the horrors of the Holocaust.

There can be no doubt that many Jews are very close to God. They are our brothers and sisters and both communities should do all they can to come closer together and share their common heritage.

Comments Off

 


Commentary on Luke 14:1-6

Today we enter a series of four teachings from Jesus, all connected with meals. It begins with another example of a confrontation between Jesus and some religious leaders on a Sabbath. Altogether there are seven Sabbath healings recorded in the Gospels, of which Luke mentions five. The other two are in John—the healing of the paralysed man at the Sheep Gate (see John 5:10 and following) and the healing of the man born blind (John 9:14 and following).

Jesus had apparently been invited to have a meal in a Pharisee’s house on a Sabbath day. We have mentioned before that the word ‘Pharisee’ means ‘separated one’. They numbered about 6,000 and were found all over Palestine. They taught in synagogues, saw themselves as religious paragons, and were self-appointed guardians of the Law and its observance. They regarded their interpretations of traditions to be virtually as authoritative as Scripture (see Mark 7:8-13). The scribes studied, interpreted and taught the Law, both written and oral. Most of them were also Pharisees and hence they are often paired in the Gospel.

It certainly looks as if the invitation was what is known as a ‘set up’ because, we are told, “they were watching him closely”. And there right in front of him (what a coincidence!) was a man suffering from edema, an accumulation of fluid in the body caused by some other illness (this is the only place in the original Greek of the New Testament where the term Luke uses for this sickness is found).

Far from being put on the defensive, Jesus immediately throws down a challenge:

Is it lawful to cure people on the Sabbath or not?

Strictly speaking, according to the letter of the Law as interpreted by the scribes and Pharisees present, it was not lawful. Because ‘curing’ involved medical work and it could take time and energy. By asking them his question before the healing, Jesus made it difficult for them to protest afterwards. And in fact they dared not give him an answer. To say ‘yes’ could make them seem lax in their interpretation; to say ‘no’ would seem cruel to the man.

So Jesus took the man, healed him on the spot and sent him off. He then turns to his critics with another question:

If one of you has a child or an ox that has fallen into a well, will you not immediately pull it out on a Sabbath day?

They had no answer because no answer was necessary or possible. What Jesus had done was unlawful only according to rabbinic interpretations, but not according to the Mosaic Law itself.

Their mindset was revealed and it was not the mindset of Jesus. For them people came second to legalities. For Jesus the law was there for people. Jesus was moved by compassion and the well-being of people. Sometimes that meant the law had to be put aside—a principle which they also recognised as proved by the examples that Jesus gave.

How many times have we become the victim of our desire for human ‘respect’—of failiing to go to the help of a person because we were afraid of what people might say or how they might judge us? They may even throw Church ‘rules’ and ‘commandments’ in our face as criticism. But no one who acts out of genuine love for others can go far wrong. No truly loving act can be sinful.

Comments Off

 

https://livingspace.sacredspace.ie/o1306g/

 

 


Friday, October 31, 2025

Ordinary Time

Opening Prayer

Almighty and ever-living God, strengthen our faith, hope, and love.

May we do with loving hearts what you ask of us and come to share the life you promise.

We ask this through our Lord Jesus Christ, your Son, who lives and reigns with you and the Holy Spirit, one God, for ever and ever. Amen.

Gospel Reading - Luke 14: 1-6

It happened that on a Sabbath day Jesus had gone to share a meal in the house of one of the leading Pharisees; and they watched him closely. Now there in front of him was a man with dropsy, and Jesus addressed the lawyers and Pharisees with the words, 'Is it against the law to cure someone on the Sabbath, or not?'

But they remained silent, so he took the man and cured him and sent him away.

Then he said to them, 'Which of you here, if his son falls into a well, or his ox, will not pull him out on a Sabbath day without any hesitation?' And to this they could find no answer.

Reflection

Today’s Gospel narrates an episode of the discussion between Jesus and the Pharisees, which took place along his journey from Galilee up to Jerusalem. It is very difficult to situate this fact in the context of the life of Jesus. There are similarities with a fact narrated in the Gospel of Mark (Mk 3: 1-6). Probably it is a question of the many stories transmitted orally and, in the oral transmission; they were adapted in accordance with the situation, the need and the hopes, of the people of the communities.

•    Luke 14: 1: The invitation on a Saturday. “On a Sabbath day Jesus went to share a meal in the house of one of the leading Pharisees and they watched him closely.” This initial information on the reception in the house of a Pharisee gives Luke the possibility to present several episodes which speak about welcoming, accepting to have a meal: the cure of the sick man (Lk 14: 2-6), choice of places where to eat (Lk 14: 7-11), choice of the guests invited (Lk 14: 12-14), those invited who do not accept the invitation (Lk 14: 15-24). Many times, Jesus is invited by the Pharisees to share a meal. Perhaps the reason for inviting him was out of curiosity and some malice, wishing to observe Jesus to see how he observes the prescriptions of the law.

•    Luke 14: 2: The situation which brings about the action of Jesus. “There was a man with dropsy.” It is not said how a man with dropsy could enter the house of the head of the Pharisees. But if he is in front of Jesus it is because he wants to be cured. The Pharisees observe Jesus. It was a Saturday, and it is forbidden to cure on a Saturday. What to do? Can it be done or not?

•    Luke 14: 3: The question of Jesus to the Scribes and the Pharisees. “Jesus addressing the lawyers and the Pharisees asked, Is it against the law to cure someone on the Sabbath or not? With his question Jesus explains the problem which they had before them: “Can one cure or not on Saturday? Does the law permit this, yes or no? In Mark’s Gospel the question is even more provocative: “Is it permitted on the Sabbath day to do good, or to do evil, to save life or to kill?” (Mk 3: 4).

•    Luke 14: 4-6: The cure. The Pharisees do not respond and remain in silence. Before the silence of the one who neither approves nor disapproves, Jesus takes the man by the hand, cures him and sends him away. After, to respond to a possible criticism, he explains the reason that has moved him to cure: “Which of you here, if his son falls into a well, or his ox, will not pull him out on a Sabbath day without any hesitation?” With this question Jesus shows the incoherence of the lawyers and of the Pharisees. If one of them has no problem, on Saturday, to help his son or even an animal, so Jesus also has the right to help the man with dropsy. Jesus’ question recalls the Psalm, where it is said that God himself helps men and animals (Ps 36: 8). The Pharisees “Could not respond anything to these words”; because before the evidence, there are no arguments which can deny it.

Personal Questions

•    The liberty of Jesus before a situation. Even though he is being observed by those who do not approve him, he does not lose his liberty. Which is the liberty that I have?

•    There are difficult moments in life, in which we are obliged to choose between the immediate need of our neighbor and the letter of the law. How should we act?

Concluding Prayer

I give thanks to Yahweh with all my heart, in the meeting-place of honest people, in the assembly. Great are the deeds of Yahweh, to be pondered by all who delight in them. (Ps 111: 1-2)

www.ocarm.org