01/06/2026
Thứ Hai tuần 9 thường
niên.
Thánh Justino, tử đạo.
Lễ nhớ
* Thánh nhân là một triết gia
và là anh hùng tử đạo. Người sinh tại Phơ-la-vi-a Nê-a-pô-li, ở Samari, trong một
gia đình ngoại giáo, đầu thế kỷ thứ 2. Sau khi tin Chúa Kitô, người đã viết nhiều
tác phẩm bênh vực Kitô giáo. Trong số đó, còn lại hai tác phẩm “Minh giáo” gửi
cho hoàng đế Antôniô và “Đối thoại với ông Triphông”, tranh luận với người Do
thái.
Người cũng mở một trường dạy
triết lý ở Rôma. Bị một đồng nghiệp tố cáo, người một lòng son sắt tuyên xưng đức
tin trước mặt quan toà và đã được phúc tử đạo cùng với sáu Kitô hữu khác, quãng
năm 165, thời hoàng đế Máccô Aurêliô.
Bài Ðọc I: (Năm II) 2 Pr 1, 1-7
“Người ban cho anh em những lời hứa quý báu, để nhờ đó
anh em được thông dự vào bản tính Thiên Chúa”.
Khởi đầu thư thứ
hai của Thánh Phêrô Tông đồ.
Tôi là Simon Phêrô,
tôi tớ và tông đồ của Ðức Giêsu Kitô, kính gửi những người thừa hưởng một đức
tin quý giá ngang hàng chúng tôi, nhờ sự công chính của Ðức Giêsu Kitô, là
Thiên Chúa và là Cứu Chúa của chúng ta.? Nguyện (chúc) ân sủng và bình an đổ xuống
tràn đầy cho anh em, trong ơn nhận biết Thiên Chúa và Ðức Giêsu Kitô, Chúa
chúng ta!
Bởi chưng quyền
năng linh thiêng của Người đã ban cho anh em mọi điều cần ích cho sự sống và
lòng đạo đức, nhờ sự nhận biết Ðấng dùng vinh quang và quyền năng kêu gọi chúng
ta; nhờ Người mà Thiên Chúa ban cho chúng ta những lời hứa cao trọng và quý
báu, để nhờ đó, anh em được thông dự vào bản tính Thiên Chúa, thoát khỏi cảnh đồi
bại dục tình thế tục.
Phần anh em, hãy
gia tăng tất cả nhiệt thành và lo sao để nhờ lòng tin mà được thêm sức mạnh, nhờ
sức mạnh được thêm thông biết, nhờ thông biết được thêm tiết độ, nhờ tiết độ được
thêm kiên nhẫn, nhờ kiên nhẫn được thêm đạo đức, nhờ đạo đức được thêm tình
huynh đệ, nhờ tình huynh đệ được thêm đức ái.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 90, 1-2. 14-15ab.
15c-16
Ðáp: Lạy Chúa con, con tin cậy ở Ngài (x. c. 2b).
Xướng: Bạn sống trong sự che chở của Ðấng Tối Cao; bạn cư ngụ dưới bóng của Ðấng
Toàn Năng. Hãy thưa cùng Chúa: “Chúa là chiến lũy, là nơi con nương náu, lạy
Chúa con, con tin cậy ở Ngài”.
Xướng: Vì người yêu mến Ta, Ta sẽ giải thoát cho, Ta sẽ che chở người bởi lẽ
người nhìn biết danh Ta. Người sẽ kêu cầu Ta và Ta sẽ nhậm lời, Ta sẽ ở cùng
người trong lúc gian truân.
Xướng: Ta sẽ cứu gỡ và làm vinh dự cho người. Ta sẽ làm cho người thoả mãn cuộc
đời trường thọ, và cho người nhìn thấy ơn cứu độ của Ta.
Alleluia
Alleluia, alleluia!
– Anh em hãy khiêm nhu nhận lãnh lời giao ước trong lòng, lời đó có thể cứu
thoát linh hồn anh em. – Alleluia.
(Hoặc đọc: Alleluia,
alleluia! Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Vị Chứng Nhân trung thành, là trưởng tử
trong số những người từ cõi chết chỗi dậy, Chúa đã yêu mến chúng con, và đã lấy
máu mình rửa sạch tội lỗi chúng con. Alleluia.)
Phúc Âm: Mc 12, 1-12
“Chúng bắt cậu
con trai giết đi và quăng xác ra vườn nho”.
Tin Mừng Chúa Giêsu
Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Chúa Giêsu
dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão rằng: “Có người trồng
một vườn nho, rào dậu xung quanh, đào bồn đạp nho và xây một tháp, đoạn cho tá
điền thuê vườn nho và trẩy đi phương xa.
“Ðến kỳ hạn, ông
sai đầy tớ đến với tá điền thu phần hoa lợi vườn nho. Nhưng những người này bắt
tên đầy tớ đánh đập và đuổi về tay không. Ông lại sai đầy tớ khác đến với họ.
Người này cũng bị chúng đánh vào đầu và làm sỉ nhục. Nhưng người thứ ba thì bị
chúng giết. Ông còn sai nhiều người khác nữa, nhưng kẻ thì bị chúng đánh đập,
người thì bị chúng giết chết.
“Ông chỉ còn lại một
cậu con trai yêu quý cuối cùng, ông cũng sai đến với họ, (vì) ông nghĩ rằng:
“Chúng sẽ kiêng nể con trai ta”. Nhưng những tá điền nói với nhau rằng: “Người
thừa tự đây rồi, nào ta hãy giết nó và cơ nghiệp sẽ về ta”. Ðoạn chúng bắt cậu
giết đi và quăng xác ra ngoài vườn nho. Chủ vườn nho sẽ xử thế nào? Ông sẽ đến
tiêu diệt bọn tá điền và giao vườn nho cho người khác. Các ông đã chẳng đọc đoạn
Thánh Kinh này sao: “Tảng đá những người thợ xây loại ra, trở thành đá góc tường.
Ðó là việc Chúa làm, thật lạ lùng trước mắt chúng ta”.
Họ tìm bắt Người,
nhưng họ lại sợ dân chúng. Vì họ đã quá hiểu Người nói dụ ngôn đó ám chỉ họ. Rồi
họ bỏ Người mà đi.
Ðó là lời Chúa.
Chú giải về 2 Phê-rô 1,2-7
Hôm nay chúng ta bắt đầu đọc Thư thứ hai của Phê-rô. Sẽ chỉ có hai bài đọc, hôm nay và
ngày mai.
Theo Sách Lễ của Công
đồng Vatican II:
“Thư thứ hai của Phê-rô là một trong những sách thú vị nhất của Tân Ước. Có lẽ được
viết bởi một môn đệ đời sau của Phê-rô,
nó có thể là sách cuối cùng được viết trong Kinh Thánh.”
Bức thư bắt đầu bằng việc khẳng định một chủ đề xuyên suốt,
đó là, kiến thức duy nhất mà chúng ta thực sự cần là kiến thức cá nhân về
Thiên Chúa và Con Ngài, Chúa Giêsu. Tác giả đang thách thức giáo lý lạc giáo của
phái Ngộ đạo, những người nói rằng điều duy nhất cần thiết là kiến thức, độc
lập với bất kỳ hành vi nào. Kiến thức về Thiên Chúa và Chúa Kitô nhất thiết dẫn
đến việc đi theo Con đường của Chúa Giêsu, một con đường vừa biết vừa làm.
Quyền năng yêu thương của Thiên Chúa đã ban cho chúng ta mọi
thứ chúng ta cần để sống một cuộc đời trọn vẹn và ý nghĩa, đó là một cuộc đời
trong mối quan hệ mật thiết với Ngài. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta tất cả những
gì chúng ta cần về mặt tâm linh thông qua kiến thức của chúng ta về Ngài.
Không cần kiến thức ‘bí mật’ đặc biệt nào, chỉ dành cho những người được khai
tâm, để người Kitô hữu đạt được sự viên mãn trong cuộc sống. Vinh quang và quyền
năng của Thiên Chúa được thể hiện rõ ràng trong lời dạy và những dấu hiệu mà
Chúa Giê-su ban cho, cho thấy rõ nguồn gốc thần thánh của Ngài. Sau đó trong
thư, tác giả sẽ đề cập cụ thể đến kinh nghiệm về Biến Hình, mà Phê-rô đã chứng
kiến.
Những người theo thuyết Ngộ đạo, những người theo một lối tư duy luôn thách thức các Kitô hữu
thời kỳ đầu, tin rằng sự cứu rỗi phụ thuộc vào việc có được kiến thức về “mầu
nhiệm”, những mặc khải bí mật, chỉ được ban cho họ. Họ cũng có xu hướng nhìn thấy
điều ác trong mọi thứ vật chất, một dạng chủ nghĩa Platon bị bóp méo.
Thiên Chúa, trong tình yêu thương dành cho chúng ta, đã ban
cho chúng ta những ân tứ quý giá, bao gồm cả những ân tứ vật chất. Và, miễn là
chúng ta từ bỏ một thế giới bị tha hóa bởi những ham muốn phi lý và hưởng lạc
(một sự say mê sai lầm với vật chất), chúng ta có thể trở thành người cùng chia
sẻ sự sống của Thiên Chúa, sự sống của Chân Lý, Thiện Thiện và Mỹ Đẹp. Toàn bộ
đời sống Kitô giáo của chúng ta được hướng đến việc có được kinh nghiệm đó.
Phần còn lại của bài đọc liệt kê các bước mà chúng ta phát
triển một đời sống Kitô giáo toàn diện và hiệu quả. Nền tảng của sự tốt lành
bên trong chúng ta là đức tin trọn vẹn và sự tin tưởng vào tình yêu của Chúa và
sự cam kết với Con đường mà Chúa Giê-su đã chỉ cho chúng ta. Đức tin đó được bổ
sung và hoàn thiện bởi hành vi đạo đức xuất phát từ đó. Đức hạnh phải đi kèm với
tri thức. Điều này có nghĩa là đức hạnh không chỉ là một vẻ bề ngoài ngoan đạo,
mà đến từ sự hiểu biết và nắm bắt sâu sắc hơn về lối sống mà Chúa Giê-su đề xuất
cho chúng ta trong Phúc Âm – một Thông điệp dành cho tất cả mọi người.
Tri thức này dẫn đến sự tự chủ. Nhiều người bị ảnh hưởng bởi
thuyết Ngộ đạo, vốn nhấn mạnh
vào việc thu thập tri thức bí mật, tin rằng sự tự chủ là hoàn toàn không cần
thiết. Tri thức, chứ không phải hành vi, là nguồn gốc của sự cứu rỗi. Niềm tin
của Ki tô giáo thì hoàn toàn
khác. Tri thức của chúng ta về Chúa và Chúa Giê-su càng sâu sắc, thì toàn bộ cuộc
sống của chúng ta, bao gồm cả hành vi, càng bị ảnh hưởng. Chúng ta làm điều tốt,
không phải vì chúng ta phải làm, hay ép buộc bản thân, mà vì chúng ta muốn làm.
Hành vi của chúng ta xuất phát một cách tự nhiên từ sự hiểu biết của chúng ta về
điều gì là chân thật và tốt lành.
Tự chủ, đến lượt nó, dẫn đến sức chịu đựng, sự kiên trì ngay
cả khi đối mặt với những cám dỗ cạnh tranh hoặc những trở ngại đau đớn. Sức chịu
đựng lại được hỗ trợ bởi lòng sùng kính, hàm ý một cam kết sâu sắc, ấm áp chứ
không chỉ là sự ngoan cố. Lòng sùng kính dẫn đến tình yêu thương lẫn nhau. Trở
thành một Kitô hữu không phải là đi đến với Chúa một mình, mà là trong sự đồng
hành với những người khác cùng chia sẻ một tầm nhìn. Tình yêu thương lẫn nhau
này sau đó nở rộ thành tình yêu thương, một khát vọng hướng ngoại, vô điều kiện
đối với hạnh phúc của anh chị em mình.
Đây là một bức tranh rất khác so với chủ nghĩa trí thức thuần
túy lấy đầu óc làm trung tâm của phái Ngộ đạo, vốn chỉ có thể kết thúc bằng chủ nghĩa biệt lập lạnh lùng,
ít quan tâm đến hạnh phúc của thế giới mà chúng ta đang sống. Ngược lại, chúng
ta là những Kitô hữu tin chắc rằng thế giới của chúng ta là nơi để tìm thấy và
yêu thương Chúa.
Trong số những điều khác, tác giả ở đây đang cảnh báo chúng
ta chống lại bất kỳ hình thức chủ nghĩa tinh hoa nào, vốn là mối đe dọa thường
trực đối với sự hiểu biết của chúng ta về đời sống Kitô giáo. Chủ nghĩa tinh
hoa như vậy có thể dẫn đến sự hình thành các nhóm tự cho mình ở một cấp độ cao
hơn trong đời sống Kitô giáo và coi thường những người "ngoại đạo". Vẻ
đẹp của Tin Mừng nằm ở chỗ ngay cả người mù chữ cũng có thể hiểu được một cách
đầy đủ. (Có lẽ thông điệp đó đã được khẳng định cách đây vài năm khi người sáng
lập Opus Dei và học giả, Cha Josemaría Escrivá, được phong chân phước cùng với
Nữ tu Canossian Josephine Bakhita, người trước đây từng là nô lệ ở Mỹ Latinh và
không được học hành chính quy.)
Điều đó không có nghĩa là chúng ta không nên làm tất cả những
gì có thể để hiểu sâu sắc hơn về đức tin của mình. Nếu chúng ta có khả năng trí
tuệ để làm như vậy, chúng ta nên làm. Một điều đáng xấu hổ lớn trong chúng ta
là sự thiếu hiểu biết của nhiều người Công giáo có học thức về Kinh Thánh, thần
học và tâm linh. Đồng thời, chúng ta cũng phải khẳng định rằng những cấp độ cao
nhất của cầu nguyện huyền nhiệm đều có thể tiếp cận được đối với những người
hoàn toàn không được giáo dục. Biết Chúa Giêsu quan trọng hơn nhiều so với việc
biết nhiều về Ngài.
Chú giải về Mác-cô 12,1-12
Đây sẽ là tuần đọc Kinh Thánh cuối cùng của chúng ta từ Phúc
Âm Mác-cô. Chúng ta hiện đang
ở chương 12 và đang nhanh chóng tiến đến đỉnh điểm của cuộc đời và sứ mệnh của
Chúa Giê-su. Chương này được đánh dấu bằng một cuộc xung đột ngày càng gia tăng
giữa Chúa Giê-su và các nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị của chính dân Ngài.
Chương này bắt đầu hôm nay với một dụ ngôn (hay chính xác hơn là một ngụ ngôn)
hướng đến giới lãnh đạo đó. Ý nghĩa của nó rất rõ ràng đối với những người đã
nghe.
Nó kể câu chuyện về một người đàn ông trồng một vườn nho,
trang bị đầy đủ mọi thứ cần thiết rồi cho người ta thuê để canh tác. Rõ ràng chủ
sở hữu là Đức Chúa Trời, vườn nho là Israel và người thuê là dân Israel. Lời của
Chúa Giê-su vang vọng rất sát một hình ảnh tương tự trong một bài thơ của tiên
tri I-sai-a:
Tôi sẽ hát cho người
yêu dấu của tôi
bài ca tình yêu của
tôi về vườn nho của người:
Người yêu dấu của tôi
có một vườn nho
trên một ngọn đồi rất
màu mỡ.
Trong hình ảnh của I-sai-a, những cây nho chỉ cho ra những quả nho chua.
Trong câu chuyện của Chúa Giê-su, rõ ràng là có những mùa
màng bội thu. Vấn đề nảy sinh khi chủ vườn sai các đầy tớ đi thu gom phần mùa
màng thuộc về mình. Lần lượt từng người đầy tớ bị đuổi đi, đánh đập hoặc thậm
chí bị giết. Điều này rõ ràng ám chỉ cách dân Chúa đối xử với nhiều vị tiên tri
mà Chúa đã sai đến với họ.
Trong sự tuyệt vọng, chủ vườn quyết định sai con trai duy nhất
của mình đi, hy vọng rằng ít nhất họ sẽ tôn trọng anh ta. Nhưng không, những
người làm thuê lập luận rằng bằng cách giết người thừa kế duy nhất, vườn nho chắc
chắn sẽ trở thành tài sản của họ. Khi con trai (Chúa Giê-su) đến, họ bắt lấy
Ngài, giết Ngài và ném Ngài ra khỏi vườn nho (ám chỉ việc Chúa Giê-su bị đóng
đinh trên thập tự giá bên ngoài tường thành Giê-ru-sa-lem).
Chúa Giê-su sau đó nói:
Vậy chủ vườn nho sẽ làm gì? Ông ta sẽ đến và tiêu diệt những
người làm thuê và giao vườn nho cho người khác. Các ngươi há chẳng đọc câu Kinh
Thánh này sao:
“Hòn đá mà những người
xây dựng đã loại bỏ,
đã trở thành hòn đá
góc nhà;
đó là việc của Chúa,
và thật kỳ diệu trong
mắt chúng ta”?”
Chúa Giê-su bị các
nhà lãnh đạo và nhiều người (nhưng không phải tất cả) trong dân Ngài từ chối.
Người ngoại sẽ được mời thế chỗ họ và sẽ vui vẻ đảm nhận vị trí đó.
Những lời Chúa Giê-su trích dẫn từ Thánh Vịnh 118 có thể áp dụng cho chính
Ngài hoặc cho người ngoại. Chúa Giê-su, người bị từ chối và bị đóng đinh trên
thập tự giá, trở thành hòn đá góc nhà. Hoặc, những người ngoại bị khinh miệt trở
thành những người nhận được tình yêu thương và ân điển của Chúa và là hòn đá
góc nhà của các cộng đồng Ki tô
mới.
Rõ ràng, câu chuyện này không làm cho các nhà lãnh đạo cảm mến
Chúa Giê-su. Họ lẽ ra đã (như câu chuyện họ vừa nghe đã báo trước) bắt giữ
Ngài, nhưng họ sợ đám đông (cũng là người Do Thái) đang kính sợ Chúa Giê-su, lời
nói và việc làm của Ngài.
Đây là một trong những câu chuyện mà chúng ta có thể bị cám
dỗ phán xét những người đã từ chối Chúa Giê-su. Nhưng hôm nay chúng ta không đọc
câu chuyện này với mục đích đó. Thay vào đó, chúng ta được hỏi liệu chúng ta có
đang lắng nghe lời Chúa khi nó đến với chúng ta qua những người khác nhau mà
Chúa gửi đến trong cuộc đời chúng ta hay không. Chúng ta tốt hơn các thầy dạy
luật và người Pha-ri-sêu đến mức nào? Chúng ta có thường tự biện minh cho việc
không làm những gì Chúa rõ ràng muốn chúng ta làm không? Chúng ta đón tiếp các
sứ giả của Chúa như thế nào? Chúng ta thậm chí có nhận ra họ khi họ đến không?
Có lẽ hôm nay—ngay bây giờ—là thời điểm tốt để lắng nghe cẩn thận hơn bình thường.
https://livingspace.sacredspace.ie/o2092g/
Suy
Niệm: Ðá tảng góc tường
Tin Mừng hôm nay
nói về vườn nho của Chúa được trao cho các tá điền để làm sinh lợi thêm những
hoa trái mới. Vườn nho cũ là Israel đã được Thiên Chúa chọn làm dân riêng,
nhưng những kẻ có trách nhiệm chăm sóc vườn nho ấy đã không chu toàn bổn phận của
mình; còn vườn nho mới chính là Israel mới, tức Giáo Hội đã được Chúa Giêsu thiết
lập và trao cho những tá điền mới. Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn các vị lãnh
đạo Do thái thời đó hiểu rằng giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ đã bắt đầu và
không còn ngược lại được nữa; lòng độc ác của những tá điền không thể phá hủy
chương trình hành động của Thiên Chúa, Ðấng nhân từ, kiên nhẫn, nhưng cũng rất
công bằng và đòi hỏi sự cộng tác của con người.
Những chi tiết
trong dụ ngôn vườn nho gợi lên những giai đoạn của lịch sử cứu độ Thiên Chúa thực
hiện cho nhân loại. Cái chết của người con của ông chủ vườn nho thoạt xem ra là
kết quả của lòng thù ghét của con người đối với Thiên Chúa. Như những tá điền
muốn giết người con được sai đến để cướp vườn nho khỏi tay ông chủ, những kẻ
thù nghịch Thiên Chúa cũng muốn loại bỏ Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa, để tự
do làm chủ vận mệnh nhân loại. Qua hình ảnh tảng đá xây đã trở nên đá tảng góc
tường, Chúa Giêsu mở ra chìa khóa để con người có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa
liên hệ đến việc cứu chuộc của Ngài.
Chúa Giêsu Phục
Sinh sau biến cố Vượt Qua của Ngài đã trở thành nền tảng cho vườn nho mới là
Giáo Hội. Giáo Hội và mỗi thành phần Giáo Hội đều thuộc về Chúa Kitô. Mỗi người
phải xây dựng và phát triển đời sống mình trên nền tảng duy nhất là Chúa Kitô.
"Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong
tôi", đó là bí quyết của mỗi môn đệ Chúa Kitô ở mọi thời và mọi hoàn cảnh,
đó là bí quyết duy nhất để Chúa Kitô trở thành đá tảng nâng đỡ đời sống người
Kitô hữu.
Lời của Chúa hôm
nay cảnh tỉnh chúng ta trước trách nhiệm phải làm sao để dung mạo của Chúa được
chiếu tỏa trong đời sống chúng ta và trong Giáo Hội. Chúa Giêsu là Ðá Tảng góc
tường, là nền tảng và là sức sống cho cuộc đời chúng ta, xin cho chúng ta đừng
bao giờ lìa xa Chúa.
(‘Mỗi Ngày Một Tin
Vui’)
Ngày 1/6: Thánh Jus-ti-nô – Tử đạo (+ khoảng năm 165)
1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ
Vào năm 1874, vị thánh tử đạo này lần đầu tiên được đưa vào
lịch Giáo triều Rôma. Từ nay, lễ nhớ ngài được mừng cùng ngày với các Giáo hội
Byzantin và Maronite.
Justinô sinh tại Flavia Neapolis (Naplouse, vùng Samari) vào
đầu thế kỷ II, dòng dõi ngoại đạo và có lẽ gốc Rôma. Niềm khao khát học hỏi
thúc đẩy ngài đến với nhiều trường phái triết học (như trường phái khắc kỷ,
phái tiêu dao -Péripatéticien, phái Pythagore, Platon). Vì thế ngài đã gặp tại
Êphêsô một nhà hiền triết. Ông khuyên ngài nên nghiên cứu Cựu Ước và trách
ngài: “Bạn yêu thích nghệ thuật hùng biện. Nhưng chắc chắn bạn không phải
là người yêu thích hành động và công lý” (Đối thoại với Tryphon, người
Do Thái, 3,3).
Sau khi gia nhập Kitô giáo, khoảng năm 130, ngài đi Rôma. Tại
đây, ngài mở một trường học khá nổi tiếng, và trong đám thính giả có Tatien,
sau này là Giáo phụ hộ giáo. Chúng ta chỉ giữ lại được ba trong tám tác phẩm của
ngài: hai quyển Minh Giáo và tập Đối thoại với Tryphon là tác phẩm lưu giữ các
cuộc thảo luận với người Do Thái này.
Về cái chết của ngài, chúng ta chỉ biết qua hạnh sử kể lại
cuộc tử đạo của ngài: ngài bị Crescent, triết gia phái Khuyển Nho (Cynigne) tố
cáo, và bị chém đầu với sáu môn đệ khác khoảng năm 165, dưới thời tổng trấn
Junius Rusticus. “Như thế các thánh tử đạo … đã dùng cái chết anh dũng của mình
để tuyên xưng Đấng Cứu độ của chúng ta” (Hạnh sử)
2. Thông điệp và tính thời sự
Các lời nguyện trong Thánh lễ được trích dẫn từ bản văn viết
vào năm 1874, họa lại khuôn mặt của vị thánh mà Tertullien gọi là vị “Triết gia
tử đạo” (Adv. Valentinianos, 5,1).
Lời nguyện trong Thánh lễ gợi lên hai chủ đề chính. Trước
tiên là chủ đề tử đạo: “Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Justinô tử đạo ơn hiểu
biết sâu xa về Đức Kitô, nhờ suy tưởng mầu nhiệm Thập giá mà thế gian coi là
điên dại…” Chính sự điên dại của Thập giá được Hạnh sử nhắc lại và Bài đọc –
Kinh sách đề xuất đoạn này cho chúng ta hôm nay. Nhân danh sáu người bạn của
mình, Justinô trả lời trước sự đe dọa của tổng trấn Rusticus: “Nếu
không tuân lệnh (tế thần), các ngươi sẽ phải chịu khổ hình không chút xót
thương – Họ trả lời: Chúng tôi ao ước chịu khổ hình vì Đức Giêsu Kitô, Chúa
chúng tôi, để được cứu độ, vì điều ấy mang lại cho chúng tôi ơn cứu độ và làm
cho chúng tôi vững tin trước tòa chung thẩm của Chúa là Thiên Chúa và Đấng Cứu
độ chúng tôi.”
Trong lời nguyện, chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta, nhờ
lời thánh tử đạo cầu thay nguyện giúp, “được thoát khỏi mọi tư tưởng sai lầm và
cương quyết giữ vững niềm tin.” Thật thế thánh Justinô là mẫu mực cho người
Kitô hữu trí thức. Ngài không ngừng tìm kiếm chân lý. Bởi lẽ nếu ngài được ơn
trở lại, là nhờ cụ già hiền triết thành Êphêsô đã hướng ngài về với Đức Kitô
ngang qua các ngôn sứ trong Cựu ước. Justinô đã viết trong quyển Đối thoại như
sau: “Tình yêu Chúa bùng cháy trong tôi, đó là tình yêu đã từng nung nấu tâm hồn
các ngôn sứ và các bạn bè của Đức Ki-tô” (tiền xướng kinh Magnificat).
Nét đặc sắc trong việc tìm kiếm chân lý của ngài là nền triết
học mang lại nhiều thành quả đạo đức hơn là “duy lý”. Chính thánh nhân là người
đầu tiên đã đặt mối tương quan giữa đức tin Kitô giáo và triết học ngoại giáo.
Qua mối tương quan đó, những triết gia ngoại đạo Hy Lạp cổ cũng là Kitô hữu mà
họ không hay, vì họ sống theo Logos germinal (chính là Đức Kitô), như Socrate
và Heraclite (Minh giáo I, 46; II, 13). Justinô đề cao Kitô giáo qua tác phẩm
Minh giáo được gửi đến hoàng đê Antonin le Pieux và hoàng đế Marc Aurèle, gửi đến
thượng viện và dân tộc Rôma cũng như các kẻ ngoại đạo và các người Do Thái (Đối
thoại với Tryphon) để chứng minh rằng, nhờ Logos (Ngôi lời) nhập thể, chúng ta
nhận được toàn vẹn chân lý mạc khải.
Lời nguyện trên lễ vật gợi lại “mầu nhiệm lễ tế Tạ Ơn mà
thánh Justinô đã bênh vực cách anh dũng”, trong khi lời nguyện hiệp lễ nhắc đến
các “Bài học” ngài dạy. Thật vậy, chính trong tác phẩm của ngài mà chúng ta tìm
thấy nét phác họa đầu tiên về các nghi thức dự tòng và nhất là Phụng Vụ Thánh
Thể (Minh giáo I, 65). Tiền xướng thánh Ca Tin Mừng Benedictus là một trong những
trường hợp điển hình và cho thấy yếu tố kết cấu mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi
trong kinh thượng tiến: “Qua mọi lễ vật của chúng ta, chúng ta hãy tán tụng Đấng
Tạo thành trời đất muôn vật nhờ Đức Giêsu Kitô Con Chúa và nhờ Chúa Thánh Thần.”
Trong quyển Đối Thoại (chương 41 và 117), Thánh Thể được gọi là “Của lễ hy tế
thiêng liêng”. Tác phẩm minh giáo của thánh Justinô là một “sự chuẩn bị cho Tin
Mừng”, vì qua tác phẩm này, chúng ta học cách khám phá vô vàn “mầm mống của
Ngôi Lời” hàm chứa trong các đạo ngoài Kitô giáo. “Các triết gia và nhà lập
pháp đã khám phá và trình bày mọi nguyên tắc đúng đắn. Họ có được các nguyên tắc
ấy là nhờ họ đã tìm thấy và chiêm ngưỡng phần nào Ngôi Lời”.
Endo Lozil





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét